Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc về mục tiêu tăng trưởng “hai con số” của Việt Nam

02/05/2026 17:22

DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.5469
Tóm tắt: Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Điều này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao để Việt Nam đạt được mục tiêu đến năm 2045 là nước phát triển, thu nhập cao; thể hiện tư duy, tầm nhìn chiến lược của Đảng; phản ánh khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Mục tiêu do Đại hội XIV đề ra được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình phủ nhận, xuyên tạc, hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

TRẦN VĂN NAM
Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

cdn.tienphong.vn-images-e9fafd24043562aa1311ca70d1dfb066d43093d53f1d03277a4322f416ee0fcbf8c1cf17e08b51e9635958a6c1a24c7a-_293tt4.jpg.avif.jpg
Đại hội XIV của Đảng đã chính thức mở đầu cho “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”_Ảnh: IT

1. Mở đầu

Đại hội XIV của Đảng đã chính thức mở đầu cho “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đây là thời điểm chiến lược mang tích lịch sử đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đó, khát vọng tăng trưởng GDP bình quân “hai con số” (10%/năm trở lên) giai đoạn 2026 - 2030 là một mục tiêu chiến lược quan trọng, được xác định trong Văn kiện Đại hội XIV, thể hiện quyết tâm, tư duy “tự chủ chiến lược”, không thụ động chờ thời mà chủ động kiến tạo tương lai với tâm thế “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc” tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.

Đại hội XIV đã xác lập những mục tiêu phát triển nhằm hiện thực hóa hai cột mốc 100 năm, đó là “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” (ĐCSVN, 2026a, tr.84), với “GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD” (ĐCSVN, 2026a, tr.84); “đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (ĐCSVN, 2026a, tr.84), theo định hướng xã hội chủ nghĩa. “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng (…) GDP bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên” (ĐCSVN, 2026a, tr.84). Đây là mức tăng trưởng đột phá để đưa nước ta phát triển, thoát khỏi nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (ngày 25-3-2026), Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định: “Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất”(Tổng Bí thư Tô Lâm, 2026). Tuy nhiên, các mục tiêu tăng trưởng đột phá này đang bị các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, bôi nhọ nhằm gây hoang mang, giảm sút niềm tin và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

2. Nội dung

2.1. Nhận diện các phương thức, thủ đoạn mới

Trong kỷ nguyên số và bối cảnh thế giới biến động phức tạp, chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế đã chuyển sang một hình thái tinh vi: Xâm lăng tư tưởng bằng ngụy tri thức. Chúng không còn chống phá bằng những khẩu hiệu chính trị thô thiển mà chuyển sang sử dụng các học thuyết kinh tế tư sản để “giải phẫu”, “tấn công” nhằm phủ nhận tính khoa học của Văn kiện Đại hội XIV.

Phương thức, thủ đoạn truyền thống là ngụy tạo thông tin và “bán sự thật” trộn lẫn một phần thông tin sự thật với suy diễn sai lệch, không dẫn nguồn rõ ràng; sử dụng hình ảnh, video thiếu kiểm chứng, không rõ thời gian, địa điểm, tạo cảm giác “chân thực giả”; khai thác thuật toán của mạng xã hội, tận dụng tâm lý đám đông với những nội dung gây tranh cãi, tăng tương tác, tạo hiệu ứng lan truyền. Đáng chú ý, với sự hỗ trợ của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo dựng thông tin sai sự thật, gây khó khăn đáng kể cho việc phân biệt giữa thông tin xác thực và thông tin giả mạo.

Về nội dung, các luận điệu sai trái tập trung phủ nhận cơ sở lý luận và thực tiễn của các mục tiêu của Đại hội XIV. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho rằng: Việt Nam “thiếu cả cơ sở lý luận và nền tảng thực tiễn” để thực hiện khát vọng vươn mình; mục tiêu tăng trưởng “hai con số” chỉ là “khẩu hiệu suông”, “ảo tưởng”, thể hiện sự “nóng vội”, “hấp tấp” của “chính quyền cộng sản”; xuyên tạc lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đang thực hiện chính sách “mị dân”; lợi dụng một số vấn đề nhạy cảm, khó khăn trong đời sống xã hội… để quy kết mục tiêu chiến lược của ta “đã sớm chết yểu”. Từ đó, chúng lan truyền “không tin vào chính sách”, “chỉ nhìn những hiện tượng tiêu cực”.

Những đặc điểm chung để nhận diện các thông tin chống phá, phản động, xuyên tạc là thông tin không dẫn nguồn cụ thể; tiêu đề gây sốc, kích động; nội dung một chiều cực đoan; lồng ghép các yếu tố “chứng thực cá nhân”, “nhân chứng”; khai thác những vấn đề nhạy cảm (dân sinh, kinh tế, chính sách); kêu gọi chia sẻ lan truyền mạnh… tổng hợp thành một bài viết điển hình, tạo thành “chuỗi thao túng tâm lý hoàn chỉnh” gây tò mò, kích động cảm xúc, định hướng suy nghĩ và cuối cùng là lan tỏa thông tin theo định hướng của chúng.

Bên cạnh đó, nhiều kênh phát tán thông tin được thiết lập trên các nền tảng xuyên biên giới (Facebook, Youtube, Tiktok, X, Telegram….) như các trang, nhóm: “BBC Tiếng Việt”, “Việt Tân”, “Chân Trời Mới Media”, “Đài Á Châu Tự Do”, “Luật khoa Tạp chí”, “Tiếng Dân News”, “Nhật Ký yêu nước”,“Giáo dục nhân bản”, “Dân báo”, “Việt Nam Thời Báo”… gây khó khăn cho công tác kiểm soát và xử lý theo quy định pháp luật.

Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch biến hóa khôn lường - từ ẩn danh đến trực diện trong các diễn đàn dân chủ - nhưng mục tiêu cốt lõi của chúng vẫn không thay đổi: tấn công vào hệ tư tưởng nhằm làm xói mòn niềm tin, triệt tiêu kỳ vọng và làm suy giảm ý chí chính trị của toàn Đảng, toàn dân trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Chúng tập trung phủ nhận tính khả thi của mục tiêu tăng trưởng “hai con số” trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Song, chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở lý luận, thực tiễn để phản bác các luận điệu sai trái, thù địch; đồng thời, khẳng định rõ tầm quan trọng và tính khả thi của hai mục tiêu chiến lược mà Đảng ta đã xác định.

2.2. Vạch trần thủ đoạn “đánh tráo khái niệm” và thói ngụy biện kinh tế

“Bổn cũ soạn lại”: phủ nhận thực lực và rêu rao “ảo tưởng”

Trên các trang nhóm của các thế lực thù địch, phản động, chúng cho rằng mục tiêu tăng trưởng “hai con số” của Việt Nam là “con số ảo trên sổ sách”, là biểu hiện của bệnh thành tích và duy ý chí. Chúng lập luận rằng một nền kinh tế còn phụ thuộc nhiều vào khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như Việt Nam thì không bao giờ có nội lực để bứt phá.

Lịch sử kinh tế thế giới chứng minh, không một quốc gia nào có thể trở thành nước phát triển thu nhập cao mà không trải qua giai đoạn tăng trưởng thần kỳ (trên 8 - 10%) kéo dài từ 20 - 30 năm. Nhật Bản, Hàn Quốc, Xinhgapo và gần đây là Trung Quốc đều đã đi con đường này.

Theo số liệu của Cục Thống kê, Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2025, quy mô nền kinh tế Việt Nam đã đạt ngưỡng 514 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nền kinh tế năng động nhất khu vực. Tăng trưởng GDP năm 2025 đạt mốc 8,02%. Quý IV bứt phá lên đến 8,46% - mức cao nhất trong vòng 15 năm qua. Động lực xuất nhập khẩu đạt kim ngạch gần 930 tỷ USD cho thấy độ mở và năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp nội địa đang tăng trưởng mạnh mẽ. Sự bứt phá của các địa phương, như Bắc Ninh, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh (với mức tăng trưởng Quý I-2026 đạt 10,5% - 11,2%) (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2025) nhờ sự bùng nổ của ngành công nghiệp bán dẫn và dịch vụ cao cấp là minh chứng đanh thép cho tính khả thi của Nghị quyết Đại hội XIV.

Ngụy biện về “Bẫy thu nhập trung bình”

Một luận điệu phổ biến khác là Việt Nam đã “dính chặt” vào bẫy thu nhập trung bình. Chúng cho rằng mô hình của Việt Nam đã kịch trần, chỉ dựa vào gia công và FDI, không có khả năng đột phá lên thu nhập cao và mọi nỗ lực tăng trưởng nhanh chỉ làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn xã hội.

Thực tế cho thấy, “bẫy thu nhập trung bình” thường dành cho những quốc gia đứng yên về công nghệ và cải cách thể chế. Ngược lại, Việt Nam đang tiến hành một cuộc cách mạng về chuyển đổi số và kinh tế xanh, đang chuyển từ gia công sang làm chủ công nghệ. Sự trỗi dậy của các tập đoàn công nghệ trong nước (hơn 50.000 doanh nghiệp) và chiến lược “Make in Viet Nam” đang thay đổi cục diện. Tỷ trọng kinh tế số hiện đóng góp gần 20% GDP (năm 2025) và dự kiến đạt mốc 30% GDP trong nhiệm kỳ Đại hội XIV (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Các tổ chức quốc tế, như OECD, World Bank, IMF, FR, AMRO và UN đều nhận định Việt Nam là “điểm sáng hiếm hoi” tăng trưởng nhờ sự chuyển dịch chuỗi cung ứng công nghệ cao; đánh giá cao dư địa tài khóa của Việt Nam với nợ công thấp, tạo khoảng trống cho các gói kích cầu và đầu tư hạ tầng chiến lược; Việt Nam tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo (IMF, 2026; UN, 2026; WB, 2026; OECD, 2026; FR, 2026; AMRO, 2026). Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm sâu. Điều này chứng minh tăng trưởng của chúng ta là tăng trưởng bao trùm, không có chuyện “con số ảo” khi đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao.

Xuyên tạc về “Bẫy nợ công”

Khi chúng ta triển khai các siêu dự án hạ tầng như đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam hay các tổ hợp công nghiệp bán dẫn, các đối tượng chống phá ngay lập tức gắn mác “vung tay quá trán”, “lo cho túi tiền của dân” và “đẩy đất nước vào thảm họa nợ nần”. Chúng viện dẫn bài học của một số quốc gia Nam Á hay châu Phi để gán ghép rằng Việt Nam đang “vay mượn tương lai”, rằng các đại dự án là “bẫy nợ”. Đánh tráo khái niệm giữa nợ vay đầu tư phát triển với nợ tiêu dùng (gánh nặng ngân sách).

Sự thật về nợ công: Đại hội XIV đã nhấn mạnh tư duy từ “quản trị thâm hụt” sang “quản trị hiệu quả”. Sự khác biệt giữa một quốc gia phát triển và quốc gia trì trệ nằm ở việc sử dụng nợ công làm “đòn bẩy” thay vì “gánh nặng”. Theo báo cáo của Bộ Tài chính đầu năm 2026, nợ công của Việt Nam hiện chỉ ở mức khoảng 35 - 36% GDP, cách rất xa ngưỡng an toàn 60% mà Quốc hội cho phép, thấp hơn đáng kể so với trung bình thế giới (trên 90%). So sánh với các nước phát triển như Nhật Bản (trên 200%) hay Mỹ (trên 120%), chỉ số của chúng ta vẫn ở ngưỡng an toàn. Điều đáng nói, Việt Nam đã chuyển dịch cơ cấu nợ từ vay ngoại tệ sang vay nội tệ (chiếm trên 70%) (Đức Minh, 2026), kỳ hạn vay dài, lãi suất thấp. Tăng trưởng “hai con số” là cách tốt nhất để giảm tỷ lệ nợ công trên GDP một cách bền vững nhất thông qua việc mở rộng quy mô GDP. Việc vay để đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược mới, chứ không phải vay để tiêu dùng chính là phương thức thông minh nhất để tạo ra năng lực sản xuất mới, từ đó mở rộng quy mô GDP và kéo giảm tỷ lệ nợ công một cách tự nhiên. Khi hạ tầng hoàn thiện, chi phí logistics (hiện chiếm 16 - 18% GDP) sẽ giảm xuống còn 9 - 10%. Sự tiết giảm chi phí này chính là nguồn thặng dư khổng lồ để tái đầu tư, giãn mẫu số GDP và thu hẹp tỷ lệ nợ công. Đây là bài toán kinh tế vĩ mô sắc bén, hoàn toàn trái ngược với những suy đoán bi quan mang tính kích động của các thế lực thù địch, phản động.

2.3. Những “xung lực” mới thúc đẩy tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới

Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đại hội XIV xác định nay là thời điểm của “điểm nút” lịch sử, hội tụ các điều kiện cần và đủ để thực hiện “bước nhảy” về chất. Đất nước ta đã hội tụ đủ các yếu tố thiên thời - địa lợi - nhân hòa để chính thức bước vào “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đây không phải là khẩu hiệu, mà là sự khẳng định về một giai đoạn phát triển bứt phá, chuyển từ “lượng” sang “chất”, từ “tích lũy” sang “cất cánh”.

Sự chuyển trục tư duy biện chứng trong 5 quan điểm chỉ đạo chiến lược

5 quan điểm chỉ đạo tại Đại hội XIV không đơn thuần là sự kế thừa, mà thể hiện một bước tiến về tư duy lý luận và bản lĩnh lãnh đạo của Đảng ta trong việc nhận diện và giải quyết những thách thức, khó khăn để vươn lên phát triển của quốc gia giữa một thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, đa cực, đa trung tâm và phân mảnh.

Sự kiên định nền tảng tư tưởng và bước ngoặt trong tư duy “ổn định và phát triển”. Quan điểm này trước hết khẳng định một nguyên tắc không thay đổi, là cội nguồn sức mạnh của Đảng, đó là: Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, một điểm mới mang tính nền tảng lý luận sâu sắc là việc Đảng ta chính thức bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” trở thành một bộ phận cấu thành của nền tảng tư tưởng. Đây là sự đúc kết sâu sắc sau 40 năm thực tiễn đổi mới, khẳng định trí tuệ độc lập, tự chủ của Đảng ta trong việc xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam.

Đặc biệt, sự đột phá mạnh mẽ nhất về tư duy, đó là việc giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa ổn định và phát triển. Nếu như trong các giai đoạn trước đây, khi đất nước còn đối mặt với muôn vàn khó khăn, tư duy chủ đạo thường là “giữ vững ổn định để phát triển”. Thì nay, với tâm thế của một quốc gia có thế và lực mới, Đại hội XIV đã xác lập một tư duy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. Đảng ta nhận thức sâu sắc một thực tiễn khách quan: Trong một thế giới biến động khôn lường, nếu chỉ lo “giữ” sự ổn định mà chậm phát triển, thì chính sự tụt hậu đó sẽ sinh ra mất ổn định. Chỉ có tăng trưởng với tốc độ đột phá mới tạo ra đủ nguồn lực vật chất để giải quyết triệt để các vấn đề an sinh xã hội, củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh, từ đó mới bảo vệ vững chắc được chế độ và toàn vẹn lãnh thổ.

Về quan điểm phát triển, Đại hội XIV đưa ra một cấu trúc tổng thể hài hòa cho sự phát triển quốc gia: “Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” (ĐCSVN, 2026a, tr.81-82).

Có hai điểm mới cốt lõi ở đây: Thứ nhất, lần đầu tiên yếu tố “bảo vệ môi trường” được nâng lên, đặt ngang hàng và vào vị trí trung tâm cùng với phát triển kinh tế - xã hội. Đây là cam kết đanh thép của một quốc gia văn minh: Kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần, hướng tới nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Thứ hai, công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm, đặt ngang hàng với quốc phòng, an ninh để trở thành nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Điều này phản ánh tư thế ngoại giao mới của Việt Nam, không chỉ hội nhập thụ động mà chuyển sang chủ động kiến tạo, định hình các luật chơi toàn cầu, đóng góp vào hòa bình, văn minh nhân loại, thể hiện trách nhiệm của một quốc gia có quy mô kinh tế top 40 thế giới.

Khơi dậy tinh thần “5 Tự” và giải phóng mọi động lực kinh tế. Quan điểm này tập trung vào việc khơi nguồn năng lượng nội sinh của dân tộc. Lần đầu tiên, tinh thần "5 Tự" được quy tụ mạnh mẽ: Tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc. Chúng ta không chờ đợi may rủi từ bên ngoài, mà lấy văn hóa, con người Việt Nam làm nguồn lực nội sinh để tự quyết định vận mệnh của dân tộc.

Về động lực kinh tế, Đảng vạch rõ lộ trình phải xác lập mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là “động lực chính”. Quá trình này gắn liền với 4 cuộc chuyển đổi đồng bộ, mang tính thời đại: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực. Đáng chú ý, một bước tiến quan trọng về tư duy quản lý kinh tế là việc Đảng khẳng định, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Sự tháo gỡ rào cản tư tưởng này sẽ tạo ra một cú hích khổng lồ, mở đường cho các tập đoàn tư nhân trong nước vươn lên trở thành những “sếu đầu đàn”, dẫn dắt chuỗi cung ứng vươn tầm quốc tế.

Tích hợp sức mạnh thời đại và tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tư duy mới của Đảng là chuyển từ thế “giữ gìn” sang thế chủ động chiến lược. Điểm nhấn là phát huy cao độ “thế trận lòng dân” làm nền tảng vững chắc và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Chúng ta kiên định phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, không để bị động bất ngờ. Đặc biệt, quan điểm này khẳng định nguyên tắc bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chúng ta gắn chặt phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh; mỗi bước phát triển kinh tế là một bước củng cố tiềm lực quốc phòng và ngược lại, quốc phòng vững mạnh là để tạo môi trường cho kinh tế cất cánh.

Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Đại hội XIV xác định xây dựng Đảng không chỉ là “chỉnh đốn” mà còn là “đổi mới phương thức cầm quyền”. Điểm mới là sự nhấn mạnh vào việc kiểm soát quyền lực và cuộc chiến chống lãng phí bên cạnh chống tham nhũng, coi lãng phí là lực cản lớn cần phải loại bỏ. Đặc biệt, Đảng đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ “đủ sức - đủ đức- đủ tài - đủ uy tín”, ngang tầm nhiệm vụ. “Sức” ở đây không chỉ là sức khỏe, mà còn là sức bật, sức chịu đựng bền bỉ và dẻo dai, năng lượng và nhiệt huyết cách mạng để gánh vác những trọng trách nặng nề, chịu được áp lực cao trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động, thách thức. “Uy tín” ở đây được đo bằng sản phẩm cụ thể, bằng hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của nhân dân. Đây là then chốt của then chốt, là yếu tố quyết định để bộ máy hệ thống chính trị vận hành trơn tru, hiệu quả trong kỷ nguyên mới.

Tám định hướng lớn - tám trụ cột kiến tạo quốc gia hùng cường

Để hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước bước vào “Kỷ nguyên vươn mình”, Nghị quyết Đại hội XIV đã cụ thể hóa tầm nhìn chiến lược thành 8 định hướng lớn. Đây là 8 trụ cột để phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, là 8 mũi giáp công để chúng ta phá vỡ các điểm nghẽn, khơi thông mọi nguồn lực.

Hoàn thiện thể chế phát triển và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Lấy thực thi làm thước đo. Thể chế được Đảng ta nhận diện thẳng thắn vừa là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, nhưng đồng thời cũng là “đột phá của đột phá”. Điểm mới mang tính cách mạng trong định hướng này là sự chuyển đổi triệt để phương thức quản trị quốc gia: Chuyển từ tư duy “quản lý” đơn thuần sang tư duy “kiến tạo phát triển”. Chúng ta từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, từ bỏ cơ chế “xin - cho” để thiết lập một nền hành chính phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo tối thượng.

Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng ta dứt khoát từ bỏ tư duy tăng trưởng dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ để chuyển sang phát triển chiều sâu, lấy kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn làm mũi nhọn, lấy năng suất, chất lượng và hiệu quả làm thước đo cao nhất. Đảng đã đặt ra những mục tiêu rất cụ thể như phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và năng lượng mới, khởi động điện hạt nhân và phát triển điện gió ngoài khơi. Tư duy mới là không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, nhưng phải tăng trưởng với tốc độ “hai con số” để không bị tụt hậu.

Đảng xác định nắm bắt cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất mới, coi chuyển đổi số là phương thức mới để quản trị quốc gia và phát triển xã hội. Nếu không thực hiện thành công chuyển đổi này, chúng ta sẽ lỡ nhịp với chuyến tàu của thời đại và mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại sẽ trở nên xa vời.

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm. Đảng xác định rõ ràng, không có công nghệ thì không có cất cánh. Định hướng này yêu cầu khẩn trương xây dựng cơ chế vượt trội, chấp nhận rủi ro (sandbox) để giải phóng sức sáng tạo. Dữ liệu số được xem là một nguồn tài nguyên chiến lược quốc gia mới. Việt Nam ưu tiên dồn lực phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn của thế kỷ XXI như công nghiệp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo (AI). Đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở các chính sách mà phải diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong mọi hoạt động kinh tế.

Văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh. Đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư cho sự trường tồn của quốc gia. Định hướng này yêu cầu xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xoay quanh hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam mới (Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo). Đi kèm với đó là một cuộc cải cách giáo dục mang tính bước ngoặt: Chuyển từ giáo dục “chỉnh sửa” sang giáo dục kiến tạo, đưa năng lực số vào trường phổ thông và đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, trang bị hành trang cho những công dân toàn cầu.

Quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong một thế giới đầy biến động, tư tưởng chỉ đạo là: “Giữ vững hòa bình để phát triển, phát triển để tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia”. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân phải được đầu tư xây dựng hiện đại, tinh, gọn, mạnh. Công nghiệp quốc phòng được đẩy mạnh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia. Trên bình diện ngoại giao, thực hiện ngoại giao “Cây tre” Việt Nam, uyển chuyển nhưng vững gốc, đa phương hóa, đa dạng hóa, kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân để bảo vệ lợi ích quốc gia từ xa.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị - Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. Đây là “then chốt của then chốt”. Điểm sáng nhất của định hướng này là cuộc cách mạng thực sự về tổ chức bộ máy. Đảng dũng cảm quyết định triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (tỉnh, xã), không tổ chức cấp huyện, sáp nhập quy mô lớn các đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã. Song song đó là việc kết thúc hoạt động của các đảng đoàn, ban cán sự đảng ở trung ương và tỉnh để xóa bỏ các tầng nấc trung gian, tránh chồng chéo. Về công tác cán bộ, dứt khoát thực hiện cơ chế “có vào, có ra, có lên, có xuống”, đánh giá qua sản phẩm thực tế, kiên quyết loại bỏ những xu hướng tiêu cực trong công tác cán bộ.

Xây dựng xã hội Việt Nam lành mạnh, kỷ cương, văn minh. Sự vươn mình của quốc gia không bỏ rơi bất kỳ ai. Định hướng này cam kết xây dựng hệ thống an sinh xã hội bao trùm, với những mục tiêu mang đậm tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội: Phấn đấu đến năm 2030 cơ bản xóa bỏ hoàn toàn hộ nghèo và đặc biệt là tiến tới miễn viện phí toàn dân. Đảng cũng chủ trương khuyến khích khát vọng làm giàu chính đáng, phát triển mạnh mẽ tầng lớp trung lưu để làm bệ đỡ cho sự ổn định và tiêu dùng nội địa.

Đại đoàn kết toàn dân tộc - “Dân là gốc”. Mọi chủ trương dù xuất sắc đến đâu cũng sẽ thất bại nếu không có sự đồng thuận của lòng dân. Đại đoàn kết là nguồn sức mạnh vô địch. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phải được thực thi thực chất. Thước đo cao nhất, cuối cùng cho năng lực của Đảng và Nhà nước chính là sự ấm no, hạnh phúc và mức độ hài lòng của Nhân dân. Khi “Ý Đảng” quyện vào “Lòng Dân”, trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt, thì khát vọng hùng cường sẽ biến thành sức mạnh vật chất, để hoàn thành thắng lợi các mục tiêu đặt ra.

Ba đột phá chiến lược - đòn bẩy thần tốc trong kỷ nguyên mới

Để hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, Đại hội XIV xác định ba đột phá chiến lược là những “đòn bẩy” quyết định, được thực hiện với phương châm: Làm thật mạnh, làm thật nhanh và làm đến nơi đến chốn.

Đột phá thứ nhất, về thể chế và thực thi, được coi là “đột phá của đột phá” để mở đường cho phát triển. Nếu như trước đây chúng ta nói nhiều về hoàn thiện pháp luật, thì nay Đảng nhấn mạnh đặc biệt vào kỷ luật thực thi nghiêm minh, quyết tâm khắc phục tình trạng “luật thì đúng mà làm thì khó”, “quyết sách đúng nhưng thực thi chậm”. Chương trình hành động của Đại hội XIV yêu cầu mọi quyết sách từ nay không được nằm trên giấy, mà lập tức phải có lộ trình, có nguồn lực và phải tuân thủ nguyên tắc “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời hạn, rõ sản phẩm. Chúng ta đẩy mạnh cải cách hành chính gắn liền với xây dựng Chính phủ số, chuyển mạnh tư duy quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ “xin - cho” sang “phục vụ”, chuyển mạnh quản trị quốc gia lên môi trường số, kiến tạo một môi trường đầu tư minh bạch, thông thoáng nhất khu vực. Thước đo cho sự thành công của đột phá này không phải là số lượng văn bản được ban hành, mà là hiệu quả thực tế, là sự hài lòng và tín nhiệm của người dân và doanh nghiệp.

Đột phá thứ hai, tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chúng ta xác định con người là trung tâm, là chủ thể, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất. Đổi mới giáo dục và đào tạo trong nhiệm kỳ tới phải thực chất, gắn chặt với nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp, không đào tạo tràn lan mà tập trung vào các ngành mũi nhọn. Trọng tâm là trang bị năng lực số, kỹ năng xanh và tư duy đổi mới sáng tạo cho người lao động để thích ứng với kỷ nguyên số. Điểm nhấn đặc biệt trong văn kiện lần này là các cơ chế, chính sách vượt trội để “thu hút và trọng dụng nhân tài”. Chúng ta quyết tâm hình thành một đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành và doanh nhân giỏi để dẫn dắt nền kinh tế. Nhân tài không chỉ được tôn vinh mà phải được trao cơ hội, trao quyền và được bảo vệ để họ dám nghĩ, dám làm, cống hiến hết mình cho sự nghiệp chung.

Đột phá thứ ba, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, yếu tố then chốt để tạo ra không gian phát triển mới và giảm chi phí logistics cho nền kinh tế. Đại hội XIV đã xác định những dự án mang tầm vóc lịch sử cần ưu tiên nguồn lực thực hiện.

Về giao thông, chúng ta dồn lực cho các trục chiến lược, đặc biệt là khởi công và đẩy nhanh tiến độ đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt kết nối quốc tế, như Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng và hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về năng lượng, để bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển công nghiệp công nghệ cao, chúng ta chuyển đổi mạnh mẽ sang năng lượng xanh, sạch, phát triển điện gió ngoài khơi và đặc biệt là khởi động lại việc phát triển điện hạt nhân với công nghệ hiện đại, an toàn.

Về hạ tầng số, khẩn trương hoàn thiện các trung tâm dữ liệu quốc gia khổng lồ, xây dựng mạng 5G, 6G, tạo mạch máu lưu thông cho nền kinh tế số vươn lên mạnh mẽ. Bên cạnh phát triển hạ tầng số và hạ tầng dữ liệu được coi là “mạch máu” của nền kinh tế số, cùng với hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu tại đồng bằng sông Cửu Long và các vùng ven biển sẽ được đầu tư bài bản để bảo đảm sự phát triển bền vững, lâu dài cho đất nước.

Ba đột phá này có quan hệ hữu cơ mật thiết: thể chế mở đường; nhân lực quyết định tốc độ và chất lượng; hạ tầng tạo không gian và sức bật. Nếu thực hiện một cách đồng bộ, chúng ta sẽ tạo đà và thế mới; nếu làm nửa vời sẽ tự đánh mất cơ hội.

3. Kết luận

Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, chúng ta có quyền tự hào về những kỳ tích đã làm thay đổi diện mạo đất nước. Khát vọng tăng trưởng GDP “hai con số” trong kỷ nguyên vươn mình không phải là một phép tính duy ý chí, càng không phải là “ảo tưởng” như những luận điệu xuyên tạc. Đó là sự hội tụ tất yếu của quy luật tích lũy nội lực, là kết tinh của trí tuệ Đảng hòa quyện với ý chí của toàn dân. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng trong giai đoạn hiện nay thực chất là cuộc đấu tranh để bảo vệ quyền được phát triển, quyền được thịnh vượng của dân tộc Việt Nam. Những tiếng nói lạc lõng về “bẫy nợ hạ tầng” hay “sự phi quy luật” thực chất chỉ là “tiếng kêu của sự bất lực” những mưu toan kìm hãm Việt Nam cất cánh.

Thực tiễn sinh động của những đại công trường xuyên Việt, của những trung tâm công nghệ bán dẫn đang hình thành và sự bứt phá của các cực tăng trưởng năm 2026 chính là những bằng chứng thép, là câu trả lời đanh thép nhất đập tan mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XIV, với một hệ thống chính trị liêm chính, hành động và một nền kinh tế đang tự cường hóa trên nền tảng số, chúng ta hoàn toàn có đủ bản lĩnh để hiện thực hóa những mục tiêu đã đề ra. Tăng trưởng cao gắn liền với công bằng xã hội không chỉ là đích đến kinh tế, mà còn là sự khẳng định giá trị ưu việt của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam trên bản đồ thế giới. Kỷ nguyên vươn mình đã bắt đầu. Với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam nhất định sẽ đạt tới đỉnh cao của sự phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào hàng ngũ các quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI, xứng đáng với tầm vóc của một dân tộc anh hùng.

_________________

Ngày nhận bài: 21-4-2026; Ngày bình duyệt: 27-4-2026; Ngày duyệt đăng: 2-5-2026.

Email tác giả: tranvannam2702@gmail.com

AMRO (01-2026). Bản cập nhật hàng quý Triển vọng kinh tế khu vực ASEAN+3. https://amro- asia.org.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (02-4-2026). Kết luận số 18-KL/TW ngày 02-4-2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Phụ lục I: Các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026-2030 để thực hiện mục tiêu tăng trưởng “Hai con số”.

Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026). Thông cáo báo chí tình hình kinh tế xã hội quý IV và năm 2025. http://www.gso.gov.vn.

ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Đức Minh (18-2-2026). Nợ công giữ vững vành đai an toàn. https://thoibaotaichinhvietnam.vn.

FR (3-2026). Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 3/2026: Tăng trưởng tiếp tục bất chấp những biến động chính trị. https://www.fitchratings.com.

IMF (tháng 01-2026). Triển vọng kinh tế thế giới cập nhật: Kinh tế toàn cầu: Ổn định giữa những lực lượng đối lập. https://www.imf.org.

OECD (3-2026). Triển vọng kinh tế sơ bộ OECD tháng 3-2026: Kiểm tra khả năng phục hồi. https://www.oecd.org.

Tổng Bí thư Tô Lâm (29-3-2026). Toàn văn: Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV. Báo Điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.

UN (01-2026). Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới tháng 01-2026. https://www.un.org.

WB (01-2026). Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 01-2026. https://www.worldbank.org.

Nổi bật
    Tin mới nhất
    Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc về mục tiêu tăng trưởng “hai con số” của Việt Nam
    POWERED BY