DOI: https://doi.org/10.70786/PTOJ.2026.2409
Tóm tắt: Trên cơ sở khẳng định tầm quan trọng của thể chế trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, bài viết chỉ ra những nội dung mới và yêu cầu đối với thể chế phát triển trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; đồng thời, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.

TS ĐINH VĂN THỤY
Viện Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Institutional innovations in the Documents of the 14th National Party Congress
Abstract: On the basis of affirming the importance of institutions in promoting socio-economic development in Vietnam, the article points out new contents and requirements for development institutions in the Documents of the 14th National Party Congress; also, it proposes several solutions to perfect institutions for rapid and sustainable development in Vietnam in the new era of national development.
Keywords: 14th National Party Congress; development institutions; law.
1. Mở đầu
Thể chế là hệ thống những quy tắc, luật lệ và tổng hợp những quy định, quy phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, áp dụng cho các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội nói chung nhằm thúc đẩy đất nước phát triển. Do đó, đối với bất cứ quốc gia - dân tộc nào, việc xây dựng thể chế phát triển đất nước luôn là yêu cầu tất yếu. Từ Đại hội XIV Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên phát triển nhanh và bền vững, trong đó tăng trưởng kinh tế được định hướng đạt mức hai con số, đồng thời bảo đảm các yêu cầu về phát triển bền vững. Điều này đòi hỏi phải hoàn thiện thể chế phát triển với những đặc điểm và yêu cầu mới phù hợp.
2. Nội dung
2.1. Những nội dung mới về thể chế phát triển trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Thứ nhất, lần đầu tiên khái niệm “Thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước” được đưa vào Văn kiện Đại hội
Tại Đại hội XIV, vấn đề thể chế phát triển được Đảng nhấn mạnh nhiều lần. Riêng trong Báo cáo chính trị, từ “thể chế” xuất hiện 42 lần, “thể chế phát triển” xuất hiện 14 lần, điều đó cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với thể chế phát triển, cũng như tầm quan trọng của thể chế phát triển trong kỷ nguyên mới.
Tại Đại hội XII và Đại hội XIII, Đảng nhiều lần đề cập hoàn thiện thể chế, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, thể chế kinh tế, “thể chế phát triển bền vững”... tuy nhiên, khái niệm “thể chế phát triển nhanh và bền vững” chưa được đưa vào Văn kiện. Đến Đại hội XIV, cụm từ “thể chế phát triển nhanh và bền vững” lần đầu tiên được đưa vào Văn kiện, khi Đảng chủ trương: “tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.86). Như vậy, tại Đại hội XIV, thể chế phát triển đất nước đã được đặt ra với yêu cầu mới, đó là phải đạt được mục tiêu kép: vừa phát triển nhanh, vừa phát triển bền vững.
Đối với Việt Nam hiện nay, phát triển nhanh trước hết là tăng trưởng kinh tế hằng năm ít nhất 10%, tạo nguồn lực, điều kiện cho sự phát triển các lĩnh vực khác; phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai, bảo đảm phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Chỉ có phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam mới có thể rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển và hiện thực hóa khát vọng “bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng với các cường quốc năm châu” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.35) như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ hai, các thể chế phát triển ngành, lĩnh vực được chỉ ra toàn diện
Thể chế là tổng hợp những quy định, quy phạm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Căn cứ theo ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội thì có các thể chế tương ứng để thúc đẩy ngành, lĩnh vực đó phát triển và sự phát triển của các ngành, lĩnh vực cụ thể là điều kiện, tiền đề, động lực thúc đẩy đất nước phát triển. Do đó, tất cả các thể chế ngành, lĩnh vực đều liên quan mật thiết với nhau và đều là bộ phận cấu thành thể chế phát triển đất nước.
Trong các kỳ Đại hội gần đây, thể chế phát triển của các ngành, lĩnh vực được đề cập nhưng chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào thể chế kinh tế, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, còn thể chế các ngành, lĩnh vực khác chưa được đề cập đúng mức. Tại Đại hội XIV, bên cạnh thể chế kinh tế, thể chế kinh tế thị trường, Đảng đề cập thể chế các ngành, lĩnh vực khác, bằng các cụm từ như: “thể chế chính trị”, “thể chế phát triển văn hóa”, “thể chế quản lý xã hội”, “thể chế giáo dục, đào tạo”, “thể chế khoa học và công nghệ”, “thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại”, “thể chế quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường”... Thể chế phát triển đất nước ta hiện nay là tổng hợp các thể chế ngành, lĩnh vực. Sự phát triển của các ngành, lĩnh vực là cơ sở, tiền đề, động lực của sự phát triển đất nước, hay nói cách khác, các ngành, lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế có phát triển nhanh, bền vững, thì đất nước mới phát triển nhanh và bền vững. Việc chỉ ra các thể chế ngành, lĩnh vực cụ thể một cách toàn diện chứng tỏ nhận thức về thể chế phát triển đất nước của Đảng ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn.
Thứ ba, vị trí, vai trò các thể chế ngành, lĩnh vực trong thể chế phát triển đất nước được định vị rõ ràng
Đại hội XIV của Đảng không chỉ xác định các thể chế ngành, lĩnh vực một cách toàn diện, mà còn chỉ ra vai trò, vị trí của từng thể chế ngành, lĩnh vực cụ thể trong chỉnh thể thể chế phát triển đất nước khi nhấn mạnh chủ trương: “tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng” (ĐCSVN, 2026, tr.86). Đây là một điểm mới quan trọng liên quan đến thể chế phát triển.
Việc xác định thể chế chính trị là then chốt khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của chính trị trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống chính trị mà hạt nhân là Đảng Cộng sản có vai trò to lớn trong lãnh đạo, định hướng cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước, do đó, phải hoàn thiện thể chế chính trị nhằm bảo đảm xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu lực, hiệu quả như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ ra là vấn đề then chốt và đáp ứng yêu cầu thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững.
Đồng thời, việc Đảng xác định thể chế kinh tế là trọng tâm thể hiện sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của kinh tế đối với sự phát triển xã hội. Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin “những điều kiện kinh tế xét cho cùng quy định sự phát triển lịch sử” (C.Mác - Ph.Ăngghen, 1999, tr.271). Có thể khẳng định, nhận thức của Đảng về thể chế phát triển đất nước tại Đại hội XIV được nâng lên rõ rệt so với các Đại hội trước đó. Khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của thể chế chính trị, thể chế kinh tế, Đảng không coi nhẹ các thể chế lĩnh vực, ngành khác mà xác định “các thể chế khác là rất quan trọng”, điều này thể hiện nhận thức toàn diện, đồng bộ, thống nhất của Đảng về tất cả các thể chế cấu thành thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ tư, Đảng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế của thể chế phát triển đất nước
Bên cạnh ghi nhận những thành tựu, ưu điểm, mặt tích cực của việc xây dựng, hoàn thiện thể chế phát triển trong những ngành, lĩnh vực cụ thể, như: “Tư duy xây dựng pháp luật có nhiều đổi mới; hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện đồng bộ hơn. Công tác tổ chức thực hiện pháp luật có nhiều tiến bộ”, Đảng đồng thời chỉ ra những hạn chế, yếu kém của thể chế phát triển đất nước một cách khách quan, cầu thị: “Hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành “điểm nghẽn của điểm nghẽn”” (ĐCSVN, 2026, tr.70) ; “Quyền làm chủ của Nhân dân chưa được thể chế hóa đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm” (ĐCSVN, 2026, tr.69). Nguyên nhân của những hạn chế này là “Việc hoàn thiện thể chế phát triển còn chậm. Một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.64). Ở nước ta, việc xây dựng, hoàn thiện thể chế có nhiều chủ thể tham gia và do Đảng lãnh đạo, thể chế tốt hay chưa tốt do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. Việc coi hạn chế về thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn” không chỉ thể hiện tinh thần thẳng thắn, cầu thị của Đảng, quyết tâm khắc phục hạn chế về thể chế phát triển, mà còn phản ánh nhận thức của Đảng về tầm quan trọng của thể chế đối với sự phát triển của đất nước ngày càng sâu sắc hơn.
2.2. Yêu cầu đặt ra đối với thể chế phát triển ở Việt Nam hiện nay
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (ĐCSVN, 2026, tr.84).
Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đó, Đảng đề ra các chỉ tiêu cụ thể. Về kinh tế. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030 là hai con số, tức từ 10% trở lên. Về xã hội. Phấn đấu để chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,78; tỷ lệ lao động qua đào tạo có chứng chỉ, bằng cấp đạt 35 - 40%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm 1 - 1,5 điểm%/năm. Về môi trường. Tỷ lệ che phủ rừng bảo đảm duy trì mức 42%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường sinh thái đạt khoảng 98 - 100%... (ĐCSVN, 2026, tr.84-85).
Như vậy, có thể thấy so với các kỳ Đại hội trước, các mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể được đề ra tại Đại hội XIV ở mức cao, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số. Để đạt được điều này, đòi hỏi phải có thể chế phát triển tương ứng nhằm phát huy mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, Đảng chủ trương: “Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, kiên quyết tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, phát huy mọi động lực” (ĐCSVN, 2026, tr.82).
Thể chế phát triển ở Việt Nam hiện nay là tổng hợp tất cả thể chế các ngành, các lĩnh vực nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển nhanh, bền vững, đáp ứng mục tiêu Đảng đã đề ra. Từ yêu cầu đó, đòi hỏi thể chế phát triển ở Việt Nam hiện nay cần có những đặc điểm sau:
Một là, bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ, thống nhất. Hệ thống quy phạm, quy định pháp luật phải được xây dựng đầy đủ, bao quát nhằm quản lý hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển của tất cả các ngành, các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội; đồng thời không được mâu thuẫn, chồng chéo với chủ trương, đường lối, mục tiêu phát triển đất nước mà Đảng đã đề ra. Hệ thống quy phạm pháp luật trong tất cả các ngành, các lĩnh vực phải đồng bộ, thống nhất, không mâu thuẫn, xung đột lẫn nhau và đều phải hướng tới mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững. Thể chế phát triển của ngành, lĩnh vực này không được ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của ngành, lĩnh vực khác và ngược lại phải hỗ trợ, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển.
Hai là, tính phục vụ, kiến tạo phát triển. Trong kỷ nguyên mới, thể chế phát triển không chỉ là cơ sở pháp lý để Nhà nước quản lý các ngành, lĩnh vực, mà quan trọng hơn thể chế phát triển phải trở thành động lực thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực phát triển nhanh và bền vững, từ đó tạo tiền đề cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Nhà nước trở thành chủ thể quan trọng trong phục vụ, kiến tạo phát triển. Nhà nước không làm thay thị trường mà tạo lập môi trường pháp lý, chính sách thuận lợi để các chủ thể (người dân, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội) phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển.
Ba là, tính mở, tính dễ điều chỉnh. Trong bối cảnh thế giới và trong nước có nhiều biến đổi, đòi hỏi thể chế phát triển cũng phải thay đổi để phù hợp với thực tiễn, do đó, hệ thống thể chế các ngành, lĩnh vực không thể mang tính “đóng”, “nhất thành bất biến”, mà ngược lại, phải là hệ thống mở, dễ bổ sung, dễ điều chỉnh để luôn phù hợp, thích ứng với bối cảnh mới. Tính mở, tính dễ điều chỉnh cho phép bổ sung, chỉnh sửa các quy phạm, quy định pháp luật đã lỗi thời, lạc hậu so với đời sống kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo đảm phù hợp với yêu cầu phát triển của từng ngành, lĩnh vực, qua đó thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững.
2.3. Giải pháp hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật để thể chế hóa kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm sự thống nhất giữa chủ trương, đường lối của Đảng với các quy định, quy phạm pháp luật. Đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng nhằm hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển ngành, lĩnh vực, tạo điều kiện, tiền đề hình thành thể chế phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Đảng phải lãnh đạo quyết liệt việc rà soát các quy phạm, quy định pháp luật để khắc phục ngay tình trạng “Một số luật, cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây cản trở đối với sự phát triển” (ĐCSVN, 2026, tr.64). Đảng phải lãnh đạo sát sao việc theo dõi những diễn biến của đời sống kinh tế - xã hội để kịp thời chỉ đạo chỉnh sửa những quy định, quy phạm pháp luật, những chính sách đã lỗi thời, lạc hậu do sự vận động, biến đổi của thực tiễn kinh tế - xã hội, đồng thời, bổ sung những quy phạm, quy định pháp luật, những chính sách mới đáp ứng yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội trong bối cảnh mới.
Phải khắc phục ngay hạn chế mà Đại hội XIV đã chỉ ra, là: “Tư duy phát triển chưa theo kịp các xu thế phát triển của thế giới, phản ứng chính sách chưa kịp thời, chậm điều chỉnh và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới” (ĐCSVN, 2026, tr.80).
Thứ hai, tiếp tục nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong xây dựng và giám sát thực thi pháp luật. Quốc hội phát huy vai trò, chức năng trong xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển ngành, lĩnh vực, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững. Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, Quốc hội phải bảo đảm các quy định, quy phạm pháp luật liên quan đến việc thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cụ thể phát triển vừa phải đồng bộ, vừa phải hướng tới mục tiêu: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực chính; hoàn thiện thể chế phát triển gắn với thực hiện đồng bộ bốn chuyển đổi: Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực” (ĐCSVN, 2026, tr.82).
Hệ thống pháp luật phải góp phần khơi dậy khát vọng phát triển, tinh thần khởi nghiệp trong nhân dân; động viên, khích lệ người dân, doanh nghiệp tăng cường áp dụng khoa học công nghệ để chuyển đổi số, chuyển đổi xanh nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đạt mức hai con số.
Phát huy vai trò của Quốc hội trong giám sát thực thi hệ thống quy định, quy phạm pháp luật. Điều này đòi hỏi phải tăng cường hoạt động giám sát chuyên đề của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng như các cơ quan khác như Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu quốc hội, để kịp thời phát hiện những sai sót, bất cập, đề xuất các cơ quan liên quan khẩn trương sửa đổi, bổ sung những quy phạm, quy định pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển vừa nhanh, vừa bền vững của các ngành, các lĩnh vực.
Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30-4-2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, đó là: Xây dựng pháp luật phải bám sát thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc giá trị tinh hoa của nhân loại, phù hợp với thực tiễn đất nước, bảo đảm tính đồng bộ, tính hệ thống; phải tranh thủ, nắm bắt mọi cơ hội để phát triển, mở đường khơi thông mọi nguồn lực cho phát triển; bảo đảm đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, điều kiện vững chắc, động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước, nâng cao đời sống của nhân dân.
Thứ ba, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong xây dựng văn bản dưới luật. Ở Việt Nam, sau khi luật được ban hành cần có văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành, do đó, cần phát huy vai trò tham gia, tăng cường phối hợp của các cơ quan xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật, nhằm bảo đảm sự thống nhất cách hiểu và thực thi pháp luật. Chính phủ và các cơ quan ngang bộ hướng dẫn thi hành, quy định chi tiết các luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành một cách kịp thời, thống nhất. Khắc phục tình trạng có luật nhưng thiếu văn bản hướng dẫn nên luật chưa áp dụng được trong thực tiễn. Đây cũng là giải pháp bảo đảm sự thống nhất trong cách hiểu, cách áp dụng, cách tổ chức thực hiện các quy phạm, quy định pháp luật liên quan đến thể chế phát triển các ngành, các lĩnh vực.
Thứ tư, bố trí đầy đủ nguồn lực để tổ chức thực hiện thể chế phát triển các ngành, lĩnh vực một cách kịp thời, đồng bộ, thống nhất, hiệu quả. Thể chế phát triển các ngành, lĩnh vực nói riêng, thể chế phát triển đất nước nói chung chỉ có ý nghĩa thực sự khi được triển khai tổ chức thực hiện kịp thời, thống nhất, hiệu quả trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, đem lại giá trị thiết thực cho nhân dân. Chính vì vậy, việc bố trí đầy đủ nguồn lực thực hiện, như nguồn lực con người, nguồn lực tổ chức, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất… là hết sức quan trọng, đó là điều kiện, tiền đề để thể chế phát triển phát huy tác dụng trong thúc đẩy sự phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Cần thống nhất nhận thức rằng, việc tổ chức thực hiện thể chế phát triển không phải là trách nhiệm của riêng Đảng và Nhà nước, mà là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân, cộng đồng xã hội, doanh nghiệp theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Do đó, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện thể chế phát triển đất nước nói chung, thể chế phát triển ngành, lĩnh vực nói riêng phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến, động viên nhằm khơi dậy, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực trong cộng đồng, xã hội. Đồng thời, xây dựng chế tài xử lý kịp thời và nghiêm minh những hành vi cố tình cản trở việc áp dụng, tổ chức triển khai thực hiện hệ thống thể chế phát triển các ngành, các lĩnh vực.
3. Kết luận
Thể chế phát triển có vai trò đặc biệt trong thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra nhiều điểm mới về thể chế nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững, đáp ứng được yêu cầu của kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc. Do đó, hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững là vấn đề thời sự có tính cấp bách.
Để hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững phù hợp với kỷ nguyên phát triển mới, đòi hỏi phải hoàn thiện đồng bộ, thống nhất thể chế phát triển tất cả các ngành, lĩnh vực cụ thể. Các giải pháp trong bài viết chưa bao quát hết mọi khía cạnh, nhưng có thể khẳng định đây là những giải pháp căn cơ, có quan hệ mật thiết với nhau, thực hiện tốt giải pháp này sẽ tạo điều kiện, tiền đề để thực hiện tốt giải pháp khác. Do đó, cần thực hiện đồng bộ, thống nhất các giải pháp nhằm tạo hiệu quả cộng hưởng trong hoàn thiện thể chế phát triển nhanh và bền vững, qua đó thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
_________________
Ngày nhận bài: 13/3/2026; Ngày bình duyệt: 30/4/2026; Ngày quyết định đăng: 20/5/2026.
Email tác giả: dinhvanthuy@gmail.com
C.Mác - Ph.Ăngghen (1999). Toàn tập (Tập 39). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
ĐCSVN (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.