Nghiên cứu lý luận

Quan điểm của Đại hội XIV về nguồn nhân lực phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số

• 27/09/2026 21:05

Tóm tắt: Phát triển nguồn nhân lực được Đảng xác định là động lực quan trọng, là một trong những đột phá chiến lược của quá trình phát triển đất nước. Đại hội XIV của Đảng khẳng định vai trò then chốt của phát triển nguồn nhân lực, đồng thời đề ra những định hướng, nhiệm vụ và giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong kỷ nguyên mới. Bài viết tập trung phân tích những quan điểm cốt lõi của Đại hội XIV về thực trạng, định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

TS NGUYỄN THỊ HOA
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Ths TRẦN CÔNG DƯƠNG

Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên

bcp.cdnchinhphu.vn-thumb_w-777-334894974524682240-2026-3-6-_dsc2202-1772767186665219066294.jpeg
Các trường đại học đang đẩy mạnh đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực công nghệ then chốt _Ảnh: USTH

1. Mở đầu

Lãnh đạo xây dựng đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển nguồn nhân lực là một trong những đột phá chiến lược, giữ vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cùng với việc xác định khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực và giải pháp đột phá trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, trở thành nhiệm vụ chiến lược, có tính trọng tâm nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn lên mạnh mẽ, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những yếu tố nền tảng, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển nhanh và bền vững. Vì vậy, đây không chỉ là định hướng lớn mà còn là nhiệm vụ, giải pháp mang tính chiến lược, xuyên suốt và có tính bao trùm trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Đại hội XIV đã đánh giá toàn diện và đề ra hệ thống chủ trương, chương trình hành động cụ thể, đồng bộ nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

2. Nội dung

2.1. Đánh giá của Đại hội XIV về thực trạng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Những thành tựu đạt được

Đại hội XIV khẳng định một trong những ưu điểm là đã “Quan tâm phát triển nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực sản xuất chip và bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin” (ĐCSVN, 2026, tr.296). Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao nói chung và nhân lực trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm nói riêng.

Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Theo đó, nhân lực được xác định là yếu tố then chốt, với nhiệm vụ “lựa chọn, đào tạo, tập huấn đội ngũ chuyên gia về chuyển đổi số cho các ngành, lĩnh vực, địa phương”. Bên cạnh đó, nhiều đề án, chiến lược quan trọng đã được triển khai như: Đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin giai đoạn 2021-2025; Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 (theo Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021), trong đó xác định mục tiêu nâng cấp, hình thành các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trọng điểm về AI, xây dựng đội ngũ chuyên gia, kỹ sư AI trình độ cao; Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, tầm nhìn 2030 (theo Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/3/2022), nhấn mạnh phát triển nhân lực số nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế số chiếm 20% GDP vào năm 2025; Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 phê duyệt Đề án “Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; và Chiến lược phát triển công nghiệp bán dẫn Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2050 (theo Quyết định số 1018/QĐ-TTg ngày 21/9/2024), đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 kỹ sư, cử nhân trong lĩnh vực công nghiệp bán dẫn đến năm 2030.

Thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, công tác giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã đạt được nhiều kết quả. Cụ thể, hiện nay Việt Nam có khoảng 168 trường đại học và 520 cơ sở giáo dục nghề nghiệp có đào tạo lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), với tổng số sinh viên tốt nghiệp hằng năm trên 84 nghìn, trong đó khoảng 50 nghìn sinh viên đại học và 34 nghìn sinh viên, học sinh cao đẳng, trung cấp; tổng chỉ tiêu tuyển sinh đạt khoảng 100 nghìn sinh viên mỗi năm (Phan Hoàng Ngọc Anh, 2024). Tập đoàn FPT là một trong những doanh nghiệp chủ động tham gia đào tạo nguồn nhân lực AI. Từ năm 2018, Trường Đại học FPT đã đưa trí tuệ nhân tạo vào chương trình đào tạo như một chuyên ngành chính thức. Đã có khoảng 1.300 sinh viên theo học chuyên ngành trí tuệ nhân tạo, cùng với khoảng 300 sinh viên mỗi năm được đào tạo theo hướng thực hành, gắn với yêu cầu ứng dụng AI trong thực tiễn (OneTouch, 2023).

Việt Nam đã triển khai nhiều chính sách và hoạt động nhằm thúc đẩy giáo dục STEM và “giáo dục đại học số”. Để thí điểm mô hình giáo dục đại học số, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã lựa chọn năm cơ sở giáo dục đại học trọng điểm gồm: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Đà Nẵng và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông thực hiện xây dựng mô hình này.

Đánh giá các thành tựu, Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “Chất lượng đào tạo được nâng lên, số lượng công bố khoa học quốc tế tăng mạnh” (ĐCSVN, 2026, tr.296-297). Chất lượng nguồn nhân lực khoa học - công nghệ được phản ánh qua chất lượng nghiên cứu, mức độ ảnh hưởng học thuật, kỹ năng số đội ngũ chuyên gia. Việt Nam đã có sự gia tăng đáng kể số lượng công bố khoa học quốc tế trong giai đoạn 2020-2025. Số lượng công bố tiếp tục duy trì xu hướng tăng và đạt trên 18.000 bài báo mỗi năm kể từ năm 2020. Cụ thể, năm 2022, Việt Nam công bố 18.551 bài và năm 2023 tăng lên 19.196 bài trên các tạp chí quốc tế (Như Quỳnh, 2024). Nhờ đó, trong 3 năm liên tiếp, Việt Nam duy trì trong nhóm 50 quốc gia dẫn đầu về số lượng công bố khoa học. Thành tựu này có sự đóng góp chủ yếu từ các cơ sở giáo dục đại học, với tỷ lệ chiếm khoảng 70-90%.

Đồng thời, Đại hội XIV cũng nhấn mạnh: “Đội ngũ trí thức, khoa học - công nghệ phát triển cả về số lượng và chất lượng, trong đó một số nhà khoa học có uy tín được thế giới công nhận, vinh danh” (ĐCSVN, 2026, tr.299).

Bên cạnh những kết quả đạt được trong hoạt động khoa học, sự gia tăng về số lượng nhân lực nghiên cứu và phát triển (R&D) cũng đạt nhiều kết quả. Trong giai đoạn 2015-2023, cơ cấu nhân lực R&D của Việt Nam có sự gia tăng tương đối ổn định, trong đó đội ngũ nhà nghiên cứu chiếm trên 80%, nhân viên kỹ thuật dao động từ 5-7%, còn lại là nhân viên hỗ trợ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025, tr.67).

Bảng 1: Nguồn nhân lực R&D giai đoạn 2015 - 2023

Nhân lực R&D
2015
2017
2019
2021
2023
Nhà nghiên cứu
131.045
136.070
150.089
156.588
173.041
Nhân viên kỹ thuật
11.522
11.066
12.970
12.424
10.819
Nhân viên hỗ trợ
25.179
25.547
22.377
18.286
23.978
Tổng cộng
167.746
172.683
185.436
187.298
207.838

Nguồn: Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025, tr.68. (Đơn vị: Người)

Theo Báo cáo Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ, khu vực giáo dục đại học tiếp tục là nơi tập trung lực lượng nghiên cứu khoa học lớn nhất cả nước. Đáng chú ý, chất lượng đội ngũ nghiên cứu trong khu vực này có sự cải thiện rõ rệt trong giai đoạn 2015–2023, thể hiện qua sự gia tăng về trình độ chuyên môn; số lượng nhà nghiên cứu có học vị tiến sĩ tăng từ 9.624 người lên 20.911 người, gấp hơn hai lần so với năm 2015 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025, tr.73).

Bước tiến mới trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là: “Nhiều thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại được ứng dụng nhanh chóng và rộng rãi trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, công nghiệp, thông tin… Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia được hình thành và phát triển. Đã hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam, hợp tác với mạng lưới toàn cầu” (ĐCSVN, 2026, tr.298).

Một số hạn chế

Đại hội XIV của Đảng đã chỉ ra những hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: “Nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao còn thiếu” (ĐCSVN, 2026, tr.330), “thiếu nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao, kinh tế số…” (ĐCSVN, 2026, tr.328).

Tính trên quy mô dân số, số nhà nghiên cứu (quy đổi toàn thời gian) đạt khoảng 768 người/ 01 triệu dân (năm 2021) (7,7 nhà nghiên cứu/01 vạn dân, vẫn thuộc nhóm thấp so với quốc tế (chỉ bằng 7,6% mức của Hàn Quốc và 58% của Thái Lan) (Phạm Mạnh Hùng, Tô Thế Nguyên, 2025).

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực R&D chủ yếu tập trung ở khu vực Nhà nước (hơn 84%) trong khi khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước mới chiếm khoảng 14%, cho thấy sự mất cân đối khi khu vực tư nhân - động lực quan trọng của đổi mới sáng tạo - chưa có sự tham gia mạnh mẽ (Nguyen Manh Dung, 2025). Bên cạnh lực lượng R&D, đội ngũ nhân lực STEM trong hệ thống giáo dục đại học cũng gia tăng về số lượng, tuy nhiên chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Hiện nay, ước tính có khoảng 560.000-600.000 sinh viên đại học thuộc khối ngành STEM, chiếm khoảng 27-31% tổng số 2,1-2,2 triệu sinh viên đại học. Tính theo quy mô dân số, mật độ sinh viên STEM đạt khoảng 55-56 sinh viên/1 vạn dân, thấp hơn so với Singapore (200-250/1 vạn dân), Hàn Quốc (150-160/1 vạn dân) và mức trung bình của Liên minh châu Âu (80-100/1 vạn dân) (Bảo Bình, 2026). Mặc dù tỷ trọng sinh viên STEM đang tăng (mục tiêu đạt 35% vào 2030), song quy mô đào tạo đại học trên dân số ở Việt Nam vẫn hạn chế, dẫn đến mật độ nhân lực STEM trên đầu người còn thấp.

Bên cạnh đó, các khảo sát gần đây cho thấy, kỹ năng số của người lao động Việt Nam còn hạn chế. Theo khung đánh giá DigComp của EU, mức độ thông thạo kỹ năng số trung bình của công dân Việt Nam chỉ đạt 1,56/3 điểm - tương đương mức cơ bản. Các kỹ năng về thông tin, dữ liệu và giao tiếp số là điểm mạnh, nhưng kỹ năng an toàn số và sáng tạo nội dung số còn yếu.

Mặt khác, nhiều lĩnh vực công nghệ mũi nhọn đang ở trong tình trạng thiếu hụt nhân lực chất lượng cao cả về số lượng và chất lượng. Điển hình, ngành công nghệ thông tin, năm 2025 nhu cầu nhân lực ước tính khoảng 700.000 người, trong khi nguồn cung dự kiến chỉ đạt khoảng 530.000 người, đáp ứng khoảng 75% nhu cầu (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2024). Ngành trí tuệ nhân tạo (AI), Việt Nam đang thiếu hụt khoảng 70.000 - 80.000 nhân lực trình độ cao (Vũ Tuấn, 2025). Các chuyên gia đánh giá Việt Nam “thiếu nhân lực AI ở mọi cấp độ” và cần hàng trăm nghìn kỹ sư AI trong vòng 3 năm tới để đáp ứng nhu cầu. Nhìn chung, phần lớn các lĩnh vực công nghệ cao đang thiếu hụt nguồn nhân lực vừa có kiến thức chuyên sâu, vừa có kỹ năng thực hành. Mặc dù số lượng kỹ sư tốt nghiệp ngày càng tăng, thị trường lao động vẫn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như lập trình phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI), kỹ thuật vi mạch, dữ liệu...

Hạn chế trong phát triển nguồn nhân lực là một trong những nguyên nhân cốt lõi làm cho “Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chính cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển đất nước” (ĐCSVN, 2026, tr.65).

2.2. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV

Nhằm đưa khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong kỷ nguyên mới, Đại hội XIV đã đề ra những quan điểm, giải pháp toàn diện, trọng tâm nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ nhằm thu hút, đào tạo, trọng dụng và phát huy hiệu quả đội ngũ chuyên gia; đồng thời xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp, cơ chế tôn vinh xứng đáng và môi trường nghiên cứu, sáng tạo thuận lợi, đặc biệt đối với các chuyên gia, đội ngũ nhân lực chất lượng cao và có nhiều đóng góp cho sự phát triển đất nước.

Để thực hiện tốt giải pháp này, cần tập trung thực hiện những nội dung cụ thể sau:

Cải cách chính sách tiền lương - đãi ngộ: nâng mức phụ cấp, bổ sung cơ chế lương linh hoạt cho đội ngũ chuyên gia; cải thiện chế độ đãi ngộ đối với địa phương và các tổ chức khoa học, công nghệ ngoài trung ương; nghiên cứu bỏ giới hạn về hệ số phụ cấp; xem xét thuế thu nhập cá nhân phù hợp với thu nhập từ nghiên cứu - đổi mới và các phần thưởng với thành tựu khoa học và công nghệ; thành lập các quỹ sáng tạo chuyên ngành (ví dụ Quỹ phát triển năng lực y khoa, công nghệ sinh học…) từ nguồn ngân sách nhà nước và doanh nghiệp tham gia đóng góp, nhằm hỗ trợ kịp thời cho các đề tài, dự án. Đồng thời, thiết lập cơ chế đánh giá chuyên gia dựa trên thành tích cụ thể như số lượng công bố quốc tế, giải pháp ứng dụng, sáng chế, dự án thành công và sáng kiến kinh doanh…

Mở rộng chương trình học bổng công vụ để hỗ trợ nghiên cứu sinh, học giả trẻ tham gia học tập, nghiên cứu tại các trường đại học hàng đầu thế giới, gắn với cam kết thời gian làm việc tại Việt Nam; hỗ trợ các nghiên cứu sinh có luận án gắn với nhu cầu quốc gia trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu nước ngoài tổ chức các khóa bồi dưỡng quốc tế cho chuyên gia Việt Nam, tập trung vào kỹ năng lãnh đạo, quản trị dự án, đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh chương trình trao đổi, hợp tác giữa viện/trường với doanh nghiệp công nghệ cao…

Xây dựng cơ chế thuận lợi về thị thực, cư trú đối với chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài đến Việt Nam làm việc, học tập, trao đổi kinh nghiệm. Tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc, có thể nghiên cứu cơ chế cấp thị thực dài hạn từ 5 đến 10 năm cho chuyên gia công nghệ cao, đồng thời áp dụng một số chính sách ưu đãi phù hợp; triển khai chương trình kết nối “Việt kiều cống hiến” thông qua các hội chợ, diễn đàn khoa học thường niên; xây dựng các trung tâm nghiên cứu quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác giữa chuyên gia quốc tế và Việt Nam trong các lĩnh vực chiến lược.

Thứ hai, xây dựng các tổ chức nghiên cứu và nhóm nghiên cứu mạnh, có năng lực, đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới

Cần xây dựng cơ chế đãi ngộ và môi trường nghiên cứu thuận lợi (ưu đãi tài chính cho nghiên cứu, học bổng...). Cần bảo đảm nguồn tài chính ổn định cho các tổ chức, nhóm nghiên cứu mạnh nhằm duy trì mục tiêu dài hạn như đào tạo tiến sĩ, công bố quốc tế, phát triển sản phẩm. Xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động R&D (hỗ trợ thuế, cùng đầu tư sáng chế...) để định hướng nghiên cứu gắn với nhu cầu thị trường.

Hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu, phòng thí nghiệm, thiết bị hiện đại, khả năng truy cập dữ liệu lớn và hạ tầng số quốc gia. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc tập trung đầu tư vào các trung tâm xuất sắc (ví dụ siêu máy tính Fugaku của Nhật Bản tại RIKEN hay Công viên khoa học Singapore) góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu đột phá. Do đó, cần ưu tiên xây dựng trung tâm dữ liệu, phòng thí nghiệm dùng chung, hệ thống ươm tạo công nghệ,...

Đồng thời, hợp tác quốc tế và chuyển giao tri thức là yếu tố quan trọng giúp các nhóm nghiên cứu mạnh nâng cao năng lực và từng bước hội nhập khu vực, quốc tế. Các tổ chức nghiên cứu tiên tiến, các viện nghiên cứu, trường đại học thường thiết lập quan hệ hợp tác, tham gia mạng lưới khoa học mở, đồng tổ chức các hội thảo quốc tế...

Thứ ba, những biện pháp trọng tâm và đột phá trong giáo dục - đào tạo

Không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, phát triển tư duy khoa học, năng lực sáng tạo và năng lực số. Trọng tâm là xây dựng và triển khai Đề án thúc đẩy giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học (STEAM), gắn với nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực số trong trường phổ thông.

Đầu tư phát triển một số cơ sở giáo dục đại học trở thành trung tâm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia có năng lực hội nhập khu vực và quốc tế. Chuyển các trường đại học từ mô hình chủ yếu đào tạo nhân lực sang mô hình đại học nghiên cứu, đại học đổi mới sáng tạo, vừa đào tạo nhân lực trình độ cao, vừa sản sinh tri thức mới, công nghệ mới và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh.

Xây dựng và triển khai chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế. Chương trình này cần chú trọng đội ngũ cán bộ quản lý, nhân lực cho các ngành mũi nhọn về khoa học, công nghệ, quản trị thông minh, khoa học cơ bản và các lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, chuỗi khối, điện tử, chip bán dẫn, công nghệ số, công nghệ lượng tử, công nghệ sinh học, năng lượng, vật liệu tiên tiến, robot, tự động hóa, không gian vũ trụ, không gian biển, công trình ngầm, đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao.

Phát triển mạnh giáo dục nghề nghiệp theo hướng hiện đại, mở, linh hoạt và gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Chuyển đổi số không chỉ đòi hỏi đội ngũ các nhà khoa học, chuyên gia công nghệ cao mà còn cần lực lượng kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật, nhân lực vận hành hệ thống sản xuất thông minh, logistics số, thương mại điện tử, công nghiệp bán dẫn, tự động hóa và các ngành nghề mới.

Thứ tư, triển khai các chương trình phát triển nguồn nhân lực số nhằm nâng cao năng lực số cho lực lượng lao động, tạo điều kiện để người lao động thích ứng với môi trường làm việc số và đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi số quốc gia

Chương trình cần xác định rõ mục tiêu và các chỉ số đánh giá (KPI), gồm: Mục tiêu ngắn hạn (1-3 năm): hoàn thiện khung chính sách, pháp lý; xây dựng và công bố khung năng lực số quốc gia; đào tạo phổ cập kỹ năng số cơ bản cho lực lượng lao động hiện có...; Mục tiêu trung hạn (4-7 năm): mở rộng đào tạo kỹ năng số nâng cao như dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI), an toàn mạng, phát triển phần mềm...; Mục tiêu dài hạn (8-15 năm): hình thành nguồn nhân lực số chất lượng cao, đội ngũ chuyên gia, nhà quản lý có năng lực dẫn dắt quá trình chuyển đổi số...

Trên cơ sở đó, triển khai các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như hoàn thiện khung pháp lý, chính sách; xây dựng mô hình đào tạo đa dạng; xây dựng lộ trình triển khai phù hợp theo vùng, ngành.

Thứ năm, đẩy mạnh cơ chế phối hợp giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân trong việc đào tạo, sử dụng đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao

Để tăng cường hợp tác công - tư trong đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao, cần triển khai một số giải pháp cơ bản như: xây dựng khung lương đặc thù đối với nhóm chuyên gia cao cấp, trong đó có chính sách thuế thu nhập cá nhân phù hợp; xây dựng lộ trình nghề nghiệp, thăng tiến rõ ràng cho đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ; hoàn thiện cơ chế tuyển dụng linh hoạt (cho phép ký kết hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp và giảng viên, thạc sĩ, tiến sĩ làm việc tại doanh nghiệp thay vì chỉ áp dụng cơ chế chuyển giao)... Đồng thời, tăng cường phát triển các cơ sở giáo dục nghề nghiệp kỹ thuật - công nghệ theo chương trình đặt hàng của doanh nghiệp (doanh nghiệp tham gia cấp học bổng, trang bị cơ sở thực hành theo yêu cầu của nhà máy), gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo nghề với khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

3. Kết luận

Đại hội XIV của Đảng đã đưa ra hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đột phá về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong kỷ nguyên mới của đất nước. Trên cơ sở đánh giá khách quan về những kết quả đạt được, những hạn chế trên một số phương diện, Đại hội XIV đã xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp, trong đó trọng tâm là các chương trình hành động cụ thể, khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực - yếu tố quan trọng góp phần quyết định sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đây là kết quả của sự kế thừa những thành tựu trong nhận thức, chủ trương và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đất nước và xu thế phát triển của thời đại, góp phần xây dựng lực lượng sản xuất số, thúc đẩy quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

_________________

Ngày nhận bài: 22/6/2026; Ngày bình duyệt: 22/9/2026; Ngày duyệt đăng: 26/9/2026.

Email tác giả: phuonghoahcma@gmail.com

Tài liệu tham khảo

Bảo Bình (27/2/2026). Việt Nam đang thua xa Singapore, Hàn Quốc về mật độ sinh viên STEM, nguy cơ bỏ lỡ lợi thế "dân số vàng". https://vneconomy.vn/techconnect/viet-nam-dang-thua-xa-singapore-han-quoc-ve-mat-do-sinh-vien-stem-nguy-co-bo-lo-loi-the-dan-so-vang.htm.

Bộ Khoa học và Công nghệ (27/12/2024). Việt Nam đang đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực số. https://mst.gov.vn/viet-nam-dang-doi-mat-voi-tinh-trang-thieu-nhan-luc-so-197250104154810737.htm.

Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam 2024. Nxb Khoa học và Kỹ thuật.

ĐCSVN (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

Nguyen M. D. (2025). Evaluation of Vietnam’s Science and Technology Human Resources in the Context of National Development Needs. The Russian Journal of Vietnamese Studies 9(1): 67-79.

Như Quỳnh (6/5/2024). Việt Nam tăng số bài báo công bố quốc tế trong năm 2023.https://vnexpress.net/viet-nam-tang-so-bai-bao-cong-bo-quoc-te-trong-nam-2023-4741696.html.

OneTouch (27/10/2023). Đào tạo nhân lực chất lượng cao cho chuyển đổi số. https://hue.onetouch.edu.vn/chi-tiet-tin-tuc/dao-tao-nhan-luc-chat-luong-cao-cho-chuyen-doi-so?type=xa-hoi-so

Phạm Mạnh Hùng, Tô Thế Nguyên (17/2/2025). Tăng tốc nghiên cứu và phát triển để định hình vị thế Việt Nam. https://vietnamnet.vn/tang-toc-r-d-de-dinh-hinh-vi-the-viet-nam-2371776.html.

Phan Hoàng Ngọc Anh (2024). Phát triển nguồn nhân lực số trong tiến trình chuyển đổi số hiện nay. Tạp chí điện tử Lý luận chính trị https://lyluanchinhtri.vn/phat-trien-nguon-nhan-luc-so-trong-tien-trinh-chuyen-doi-so-hien-nay-6578.html.

Vũ Tuấn (27/12/2025). Việt Nam đang thiếu khoảng 80.000 nhân lực các ngành công nghệ chiến lược. https://tuoitre.vn/viet-nam-dang-thieu-khoang-80-000-nhan-luc-cac-nganh-cong-nghe-chien-luoc-20251227144428075.htm.