Trang chủ    Ảnh chính    Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong bối cảnh mới
Thứ hai, 24 Tháng 7 2017 17:41
255 Lượt xem

Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong bối cảnh mới

(LLCT) - Là nước có vị trí địa - chiến lược quan trọng và được khu vực, quốc tế đánh giá là có tiềm lực trở thành một cường quốc tầm trung (middle power), Việt Nam có vai trò nhất định trong tương quan tập hợp lực lượng ở khu vực và thế giới. Do đó, Việt Nam luôn là đối tượng “ve vãn” của các nước lớn. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn, nhất là cạnh tranh Trung - Mỹ, đang ngày càng gia tăng, giá trị chiến lược và thế mặc cả của chúng ta trong quan hệ với các nước lớn là đối thủ tiềm tàng của Trung Quốc sẽ tăng lên tương ứng. Điều này mang lại lợi thế cho Việt Nam trong việc tranh thủ các nước lớn để phục vụ mục tiêu an ninh (nhất là bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ) và phát triển, song cũng tạo thế khó xử cho chúng ta khi cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng.

1. Môi trường quốc tế tiếp tục vận động phức tạp

Tại Đại hội XII, Đảng ta xác định trong giai đoạn tới, nhất là 5 năm (2016-2020), tình hình thế giới thay đổi nhanh, diễn biến ngày càng phức tạp, khó lường. Trong đó, bối cảnh quốc tế mới có mấy vấn đề nổi bật là:

Một là, thế giới ngày nay được nhận thức, đánh giá trong những chuyển động sâu sắc, bước ngoặt. Đó là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ tư với hai “làn sóng” chính là thông minh hóa (smart)và tự động hóa ở cấp độ mới(automation)đang làm thay đổi tận tầng sâu nền sản xuất vật chất đương đại, tạo ra nhiều lực lượng sản xuất và phương thức tổ chức, quản lý sản xuất mới, dẫn tới sự ra đời của nền kinh tế tri thức thực sự. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới đang tạo ra các công cụ sản xuất không chỉ thay thế lao động chân tay, mà còn cả lao động trí óc của con người, tiếp tục biến khoa học công nghệ thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

Hai là, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như tất yếu của các lực lượng sản xuất hiện đại đạt tới trình độ phát triển cao nhờ cuộc cách mạng khoa học công nghệ. Quá trình liên quốc gia hóa(internationalisation) mà Mác - Ănghen đề cập cách đây hơn 1,5 thế kỷ trở thành quá trình toàn cầu hóa (globalisation) và nhất thể hóa(integration) ngày nay. Kinh tế quốc tế (international economy) và chính trị quốc tế (international politics) được thay thế bằng kinh tế thế giới(world economy) và chính trị thế giới(world politics), tiếp cận toàn bộ thế giới trong các quan hệ hữu cơ cả đối nội và đối ngoại.

Trên ý nghĩa rất lớn, có thể nhận định rằng một thời đại kinh tế mới đã xuất hiện, các chủ thể quốc tế đang tích cực tư duy lại(rethinking) về nhiều vấn đề của thế giới; đồng thời, đang cấu trúc lại(restructuring) các thành tố của bản thân thế giới ngày nay. Các quốc gia tham gia ngày càng sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu... Hầu hết các nước trên thế giới đều điều chỉnh chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới thể chế kinh tế...

Ba là, thế giới ngày nay được nhận thức như môi trường tồn tại của các quốc gia dân tộc. Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn...”(1).

Nhất quán khẳng định xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, chúng ta cũng thường xuyên nhấn mạnh các nguy cơ đe dọa an ninh thế giới, bao gồm cả các nhân tố truyền thống và phi truyền thống: tình trạng xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột tôn giáo, sắc tộc, ly khai, chiến tranh cục bộ, bạo loạn chính trị, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm công nghệ cao, dịch bệnh, an ninh nguồn nước, môi trường...

Nhìn trong biểu hiện thường ngày, thế giới thật không yên ổn, nhưng xét trên phương diện cơ chế vận hành, thế giới đương đại tiếp tục vận động trong xu thế hòa bình, chí ít là trong tầm nhìn đến giữa thế kỷ XXI. Không gian và thời gian quý báu này chính là môi trường tồn tại chung của tất cả các quốc gia dân tộc, các lực lượng chính trị trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. Bởi vậy, ngay trong tiêu đề Báo cáo chính trị trình Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh mục tiêu song trùng “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định”.

Bốn là, trật tự thế giới mới đang trong quá trình hình thành, tạo nên một cục diện đa cực, đa trung tâm với nhiều chuyển động địa - chiến lược đa dạng, đa chiều. Cục diện thế giới đa cực ngày càng rõ hơn, xu thế dân chủ hóa trong quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển nhưng các nước lớn vẫn sẽ chi phối các quan hệ quốc tế. Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt, chủ nghĩa thực dụng ngày càng nổi lên trong quan hệ quốc tế. Các thể chế đa phương đứng trước những thách thức lớn.

Năm là, thế giới đương đại được nhận thức trong tính toàn diện của nó, cả trên bình diện kinh tế, quân sự, an ninh, chính trị... và khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa...; cả trên phương diện sức mạnh cứng, hữu hình và sức mạnh mềm, vô hình; căn cứ vào cả năng lực trong đối nội quốc gia cũng như đối ngoại toàn cầu... Trên từng lĩnh vực, bình diện, tương quan lực lượng giữa các chủ thể hàng đầu là rất khác nhau: trên lĩnh vực quân sự, ưu thế tuyệt đối thuộc về siêu cường Mỹ; trên lĩnh vực kinh tế, xuất hiện rõ nét nhất cục diện đa trung tâm; trên lĩnh vực an ninh, tính đa cực hỗn tạp là một hiện thực khó phủ nhận... Chưa bao giờ cục diện thế giới được định hình trong tính lập thể phức hợp như trong giai đoạn hiện nay; mặt khác, tính không cân xứng giữa các cực, các trung tâm trong cục diện thế giới cũng là hiện tượng chưa có tiền lệ, ít nhất là từ thời cận đại đến nay. Trong cục diện đặc thù này, các nước đang phát triển, nhất là những nước vừa và nhỏ đang đứng trước những cơ hội và khó khăn, thách thức lớn trên con đường phát triển.

Sáu là, quan hệ giữa các nước trên thế giới, nhất là quan hệ giữa các nước lớn tiếp tục có biến động và mang đặc điểm bao trùm là vừa hợp tác nhiều mặt, vừa cạnh tranh gay gắt và sẵn sàng thỏa hiệp với nhau. Đảng cầm quyền và chính phủ ở các nước trên thế giới đều điều chỉnh, thậm chí xây dựng mới chiến lược đối ngoại, trong đó lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm căn cứ hàng đầu quan trọng nhất cho các chính sách, hoạt động cụ thể. Các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và khu vực. Tập hợp lực lượng, liên kết, cạnh tranh, đấu tranh giữa các nước trên thế giới và khu vực vì lợi ích của từng quốc gia tiếp tục diễn ra phức tạp. Các nước lớn cạnh tranh với nhau không chỉ dưới hình thức trực tiếp, mà còn thông qua sự can dự vào các thiết chế liên kết đa dạng, các khuôn khổ tập hợp lực lượng lợi hại. Sự bấp bênh của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Trung Quốc tích cực vận động cho Hiệp định Đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP); cả Mỹ, Trung Quốc và một số cường quốc khác đang tham gia ngày càng nhiều mặt vào các cơ chế ASEAN+; Trung Quốc nâng cấp Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Trung Quốc, Nga, Cadắctan, Cưrơgưxtan, Tatgikixtan và Udơbêkixtan) và củng cố quan hệ BRICS (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi) nhằm đối trọng với Mỹ - EU..., đây là những biểu hiện điển hình về hình thái mới của quan hệ giữa các nước lớn hiện nay.

2. Vị thế địa - chiến lược gia tăng và những đòi hỏi chiến lược cho Việt Nam

Là nước có vị trí địa - chiến lược quan trọng và được khu vực, quốc tế đánh giá là có tiềm lực trở thành một cường quốc tầm trung (middle power), Việt Nam có vai trò nhất định trong tương quan tập hợp lực lượng ở khu vực và thế giới. Do đó, Việt Nam luôn là đối tượng “ve vãn” của các nước lớn. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược nước lớn, nhất là cạnh tranh Trung - Mỹ, đang ngày càng gia tăng, giá trị chiến lược và thế mặc cả của chúng ta trong quan hệ với các nước lớn là đối thủ tiềm tàng của Trung Quốc sẽ tăng lên tương ứng. Điều này mang lại lợi thế cho Việt Nam trong việc tranh thủ các nước lớn để phục vụ mục tiêu an ninh (nhất là bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ) và phát triển, song cũng tạo thế khó xử cho chúng ta khi cạnh tranh chiến lược nước lớn gia tăng.

Lịch sử đối ngoại của chúng ta cho thấy xét vị trí địa - chiến lược đặc thù của Việt Nam, đối sách hợp lý nhất của chúng ta trong quan hệ với các nước, đặc biệt là các nước lớn là chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, tuyệt đối tránh “nhất biên đảo” với bất cứ nước lớn nào (trong thời bình), đồng thời thực hiện linh hoạt chính sách “cân bằng động” giữa các nước lớn. Nếu chúng ta nghiêng hẳn với một nước lớn, có nghĩa là giá trị chiến lược của ta trong toan tính của các nước lớn khác sẽ không còn. Đặc biệt, việc chúng ta nghiêng hẳn với một nước lớn là đối thủ chiến lược của Trung Quốc (chẳng hạn như Mỹ) sẽ gây ra phản ứng cực đoan của Trung Quốc và ngược lại, ảnh hưởng xấu đến lợi ích chiến lược của chúng ta. Là nước nhỏ nằm sát Trung Quốc, chúng ta không thể lựa chọn một chính sách đối ngoại mang tính đối đầu với Trung Quốc hoặc tham gia các tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế chiến lược Trung Quốc một cách công khai, trực diện.

Vì vậy, trong chiến lược bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục thực hiện chính sách cân bằng động trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ cũng như các nước lớn khác. Chúng ta cần chủ động thúc đẩy quan hệ với Mỹ và các nước lớn khác, dùng quan hệ với nước lớn này để tác động quan hệ với nước lớn kia, tránh rơi vào tình trạng cùng một lúc căng thẳng với cả hai nước lớn. Ngoài ra, chúng ta cũng phải đặc biệt coi trọng quan hệ với ASEAN, đóng góp tích cực và phát huy vai trò lớn hơn trong việc đưa ASEAN trở thành một tổ chức khu vực thống nhất, liên kết chặt chẽ hơn về chính trị và kinh tế, đồng thời thắt chặt quan hệ với các cường quốc khu vực khác như Nhật Bản, Ấn Độ, Nga , EU để tạo thế cân bằng chiến lược, giảm sức ép và tránh bị quá lệ thuộc vào hai đối tượng Trung Quốc và Mỹ.

Tuy nhiên, trong một số tình huống nhất định (chẳng hạn khi xảy ra chiến tranh, xung đột trực tiếp hay gián tiếp giữa các nước lớn), các nước lớn sẽ không để ta yên với chính sách cân bằng động hoặc trung lập tích cực, mà sẽ buộc Việt Nam phải chọn bên. Vị trí địa - chiến lược của Việt Nam buộc chúng ta dẫu không muốn chọn bên trong những tình huống như vậy cũng không được. Khi đó, đánh giá, dự báo đúng hay sai về cục diện chiến lược và đối tượng có khả năng giành ưu thế chung cuộc sẽ tác động lớn đến quyết định chiến lược và lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam.

Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam từ ngày 2-5-2014 đến ngày 15-7-2014 (ngay ở thời điểm quan hệ Việt - Trung đang ở trạng thái tốt) cho thấy chính sách khu vực của Trung Quốc nói chung và chính sách đối với Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới. Đồng nghĩa với việc, chiến lược bảo vệ Tổ quốc của chúng ta bước vào giai đoạn khó khăn, cam go hơn. Quan hệ Việt - Trung cũng đã bước vào thời kỳ mới, dự báo sẽ xuất hiện nhiều nhân tố bất ổn, khó lường hơn trước.

Trước tình thế đó, nếu Việt Nam không chuẩn bị sẵn sàng cho các kịch bản xấu nhất trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, cụ thể là các tình huống xung đột quân sự trên Biển Đông, khả năng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam bị xâm phạm là rất lớn. Ngay từ bây giờ, quá trình cải thiện thế đứng chiến lược của chúng ta trong cục diện mới ở khu vực là vô cùng cấp bách.

Nhìn nhận một cách thực tế, đấu tranh ngoại giao của nước ta và phản ứng của khu vực và quốc tế đối với việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 và cải tạo các đảo nhân tạo mang lại những kết quả tương đối hạn chế. Đến nay, phản ứng dư luận thế giới, khu vực chưa đủ để buộc Trung Quốc phải điều chỉnh chính sách, thậm chí tiếp tục gia tăng hành động can dự theo lộ trình Trung Quốc đã xác định, bất chấp phản ứng của các nước liên quan và thế giới nói chung. Nói cách khác, biện pháp đấu tranh của Việt Nam và áp lực ngoại giao quốc tế không tạo được sự răn đe cần thiết đối với Trung Quốc hay làm cho cái giá mà Trung Quốc phải trả lớn hơn những cái lợi mà Trung Quốc đạt được. Trước thực tế đó, nhiều ý kiến của các chuyên gia, học giả cho rằng nên chăng đã đến lúc Việt Nam cần từ bỏ chính sách quốc phòng “ba không”, chuyển hướng sang chính sách liên minh với các nước lớn có cả ý chí và khả năng kiềm chế chiến lược Trung Quốc ở khu vực.

Tuy nhiên, xét thực tiễn chính trị nội bộ của chúng ta và những bài học lịch sử trong những lần Việt Nam thực hiện chính sách liên minh trong quá khứ, có thể thấy việc chuyển hướng chính sách đối ngoại vào thời điểm này là không khả thi. Vào thời điểm hiện nay, nước lớn duy nhất vừa có đủ khả năng, vừa có ý chí kiềm chế chiến lược Trung Quốc trên Biển Đông là Mỹ. Nhưng sự khác biệt chế độ chính trị - xã hội và hệ giá trị giữa chúng ta và Mỹ khiến hai nước không thể tiến tới quan hệ đồng minh thực sự. Thậm chí, một giả thuyết nếu chính quyền mới của D.Trump có vượt qua được sức ép chính trị nội bộ để chấp nhận lập quan hệ đồng minh với Việt Nam vào thời điểm này, thì tính chất của mối quan hệ liên minh này cũng chỉ như “hôn nhân vụ lợi” (marriage of convenience), được gắn kết bởi mẫu số chung lợi ích chiến lược duy nhất là ngăn ngừa Trung Quốc xác lập bá quyền khu vực. Mối quan hệ như vậy sẽ không bao giờ bền vững, và Mỹ sẽ chắc chắn hy sinh lợi ích của Việt Nam nếu đánh đổi được một thỏa thuận có lợi hơn với Trung Quốc. Trong lịch sử, đã diễn ra những lần Trung Quốc và Mỹ đổi chác lợi ích trên lưng chúng ta, cũng như một số bài học khiến chúng ta phải trả giá với chính sách liên minh, “nhất biên đảo”.

Thực tế trên khiến các cơ quan hoạch định chính sách của Việt Nam luôn có tâm lý cảnh giác, không đặt cược vào quan hệ liên minh với bất cứ nước lớn nào. Theo quy luật, đối với một nước nhỏ nằm cạnh một nước lớn hơn nhiều lần như Trung Quốc, việc đột ngột thay đổi định hướng chiến lược sang chính sách liên minh có thể khiến Việt Nam phải trả giá bởi phản ứng cực đoan của Trung Quốc. Tuy nhiên, là nước nhỏ, trong các tình huống chiến lược như chiến tranh, Việt Nam không thể tự dựa vào sức mình, mà phải tìm kiếm sự ủng hộ, hậu thuẫn của các nước lớn khác. Do đó, đối sách hợp lý và khả thi nhất của Việt Nam nhằm ứng phó với mối đe dọa Trung Quốc là tiếp tục thực hiện chính sách “phòng bị nước đôi” (hedging) với Trung Quốc, đồng thời dần cải thiện tình trạng mất cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước lớn khác như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ để chuẩn bị sẵn sàng cho các bước đi cấp tiến hơn trong trường hợp chúng ta bị Trung Quốc dồn vào chân tường, không có sự lựa chọn khác.

3. Những hàm ý chính sách cần thiết cho Việt Nam

Từ phân tích trên, chúng ta thấy những vấn đề đặt ra đối với việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông hiện nay là:

Về nhận thức chung

Một là, kinh nghiệm giải quyết thành công 2 trong 3 vấn đề biên giới lãnh thổ do lịch sử để lại giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy việc tìm ra giải pháp hòa bình cho tranh chấp ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay không phải là nhiệm vụ bất khả thi. Ít nhất từ nay đến năm 2020, Trung Quốc vẫn rất cần môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện mục tiêu thứ nhất trong “Hai mục tiêu trăm năm” mà ĐCS Trung Quốc đã đề ra tại Đại hội XVIII năm 2012. Cho nên, trừ phi xảy ra khủng hoảng lớn về nội trị hay sự kiện lớn bên ngoài xâm phạm đến “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, chẳng hạn như nước ngoài xâm lược hay Đài Loan tuyên bố độc lập, rất ít có khả năng Trung Quốc sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, biển đảo. Vì thế, có lý do để tin tưởng vào việc Trung Quốc muốn giải quyết tranh chấp với các nước láng giềng bằng phương thức hòa bình.

Tuy nhiên, đà trỗi dậy của Trung Quốc là gần như không thể đảo ngược. Thế và lực của Trung Quốc sẽ ngày càng gia tăng ở khu vực. Trong 5-10 năm tới, Trung Quốc có khả năng trở thành cường quốc số một ở châu Á - Thái Bình Dương trên tất cả các phương diện từ kinh tế đến quân sự, chỉ xếp sau sức mạnh tổng thể của Mỹ, nhưng có thể vượt Mỹ về tổng lượng kinh tế. Tương quan sức mạnh tổng thể giữa Trung Quốc và Việt Nam sẽ ngày càng doãng ra theo hướng bất lợi hơn cho Việt Nam(2). Hệ quả là thế mặc cả của Việt Nam trong đàm phán với Trung Quốc sẽ bị suy yếu dần. Điều này đặt ra cho Việt Nam những lựa chọn chính sách hết sức khó khăn nếu muốn bảo vệ vững chắc các lợi ích chiến lược và chính đáng của mình ở Biển Đông.

Hơn nữa, nếu như tranh chấp biên giới trên bộ và trên biển trong Vịnh Bắc Bộ chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc, thì tranh chấp Biển Đông hiện nay liên quan đến nhiều nước khác (5 nước, 6 bên). Thêm vào đó, vấn đề Biển Đông đã vượt ra khỏi khuôn khổ tranh chấp chủ quyền, tài nguyên giữa Trung Quốc và 4 nước ASEAN (Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Brunây) và vùng lãnh thổ (Đài Loan), trở thành một trong những tâm điểm của cạnh tranh chiến lược Trung - Mỹ. Bởi vậy, tính phức tạp, khó lường của tranh chấp Biển Đông cao hơn rất nhiều so với vấn đề tranh chấp biên giới trên bộ và ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc trước đây. Việc Mỹ triển khai chính sách “tái cân bằng” ở khu vực một mặt có tác dụng kiềm chế Trung Quốc, ngăn cản các hành vi phiêu lưu quân sự của Trung Quốc trên biển, mặt khác cũng làm vấn đề Biển Đông ngày càng phức tạp và bị quốc tế hóa cao độ. Do đó, việc tìm giải pháp lâu dài, thỏa đáng cho tranh chấp ở Biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ rất khó khăn, phức tạp, bởi liên quan đến nhiều biến số nằm ngoài khả năng chi phối của cả hai nước. Nếu như trước đây, đối với các tranh chấp chỉ liên quan song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam, Bắc Kinh có thể nhượng bộ, nhưng nay, dư địa thỏa hiệp của Trung Quốc ngày càng bị thu hẹp. Kể cả trong trường hợp có thể chấp nhận thỏa hiệp với Việt Nam, chắc chắn Trung Quốc cũng không muốn tạo ra những tiền lệ “bất lợi” có thể bị các nước tranh chấp khác khai thác sau này.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang giảm dần và những mâu thuẫn rất khó giải quyết đang nổi lên trong lòng xã hội Trung Quốc khiến thế hệ lãnh đạo thứ năm do Tập Cận Bình đứng đầu đang chịu sức ép ngày càng lớn. Điều này khiến Trung Quốc có xu hướng ngày càng khai thác con bài chủ nghĩa dân tộc nhằm duy trì tính chính danh cho chế độ. Hậu quả là Trung Quốc đã ở vào thế gần như không còn đường lùi, không còn dư địa thỏa hiệp trong vấn đề Biển Đông, ít nhất là cho đến khi Tập Cận Bình còn cầm quyền(3).

Hai là, một nhân tố bất lợi đối với Việt Nam là trên thực tế Trung Quốc ngày càng có xu hướng xem nhẹ quan hệ với Việt Nam so với các lợi ích và tham vọng ở Biển Đông. Yếu tố cùng chung ý thức hệ không còn là mẫu số chung lợi ích quan trọng giữa hai nước, chủ yếu bởi Trung Quốc ngày càng thực dụng, theo đuổi các lợi ích dân tộc nước lớn. Ngay trong thời điểm quan hệ Việt - Trung đang ở trạng thái tốt và có xu hướng cải thiện, Trung Quốc vẫn bất ngờ hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, sau đó là hàng loạt hành động xâm lấn thực địa có tính hệ thống.

Ba là, có thể thấy hiện nay, Mỹ là cường quốc duy nhất có đủ cả khả năng và ý chí kiềm chế các hành vi và tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng với đà suy yếu tương đối và tâm lý hướng nội, chán ghét can thiệp bên ngoài của cử tri Mỹ, chính quyền Obama cũng rất thận trọng, rơi vào thế lúng túng, chưa tìm ra được biện pháp hữu hiệu để ngăn Trung Quốc phá vỡ nguyên trạng Biển Đông. Phán quyết ngày 12-7-2016 của PCA về vụ kiện của Philíppin có thể là thắng lợi pháp lý tương đối toàn diện cho Philíppin, nhưng điều này không đủ để làm Trung Quốc thay đổi hành vi trong bối cảnh Mỹ ngày càng ngại đối đầu trực tiếp với Trung Quốc. Đặc biệt, Donald Trump lên cầm quyền ở Mỹ, nếu không xác định rõ được các lợi ích chiến lược, không loại trừ khả năng Mỹ sẽ giảm cam kết an ninh đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khiến Trung Quốc có thêm điều kiện thuận lợi để hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” ở Biển Đông.

Tựu chung lại, các nhân tố không thuận đối với Việt Nam trong tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc sẽ nổi lên ngày càng nhiều. Sự bất đối xứng (asymmetry) về tương quan lực lượng giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như môi trường chiến lược ở khu vực đã và sẽ đặt ra rất nhiều thách thức nan giải đối với Việt Nam. Nếu chỉ hoàn toàn dựa vào các nguồn lực của riêng mình, Việt Nam sẽ khó có cơ hội tìm giải pháp tương đối thỏa đáng, bền vững cho các tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc.

Một số gợi ý chính sách

Thực trạng nói trên buộc Việt Nam phải tính toán rất kỹ nhằm tìm giải pháp có lợi nhất, hoặc ít bất lợi nhất trong việc xử lý tranh chấp trên biển với Trung Quốc. Với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, không liên minh liên kết và chính sách quốc phòng “ba không”(4), Việt Nam chủ yếu phải dựa vào các nguồn lực của chính mình trong đối sách với Trung Quốc.

Một là, cần xác định rõ quan điểm chỉ đạo “kiên quyết, kiên trì đấu tranh nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”, kết hợp phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” như Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ. Nghĩa là, cần cân bằng, hài hòa cả hai mặt, tránh tuyệt đối hóa, rơi vào bất cứ thái cực nào. Cần xác định rõ, trong đối sách với Trung Quốc ở Biển Đông, Việt Nam phải bám sát phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” - kiên định về nguyên tắc chiến lược, nhưng linh hoạt, mềm dẻo về sách lược.

Hai là, Việt Nam cần thống nhất, xây dựng đồng thuận trong nội bộ coi vấn đề Biển Đông là vấn đề lâu dài, không thể nóng vội xử lý theo cảm tính hay sự dẫn dắt của tình cảm dân tộc chủ nghĩa. Cần xác định rõ vấn đề Biển Đông có thể tiếp tục chưa được xử lý dứt điểm trong nhiều thập kỷ tới, thậm chí trong cả thế kỷ XXI. Do đó, điều Việt Nam cần kiên trì, nhất quán thực hiện là tuyệt đối tránh xung đột nếu chưa bị đẩy vào đường cùng, cố gắng tranh thủ tối đa các cơ hội duy trì môi trường hòa bình, quản lý tranh chấp, xử lý khủng hoảng, không để khủng hoảng leo thang thành xung đột quân sự.

Bên cạnh đó, cũng cần nhạy bén phát hiện và nắm bắt các cơ hội, dù nhỏ nhất, nhằm tìm cách giải quyết hòa bình tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. Cần tranh thủ thời kỳ Trung Quốc vẫn đang chủ trương giải quyết tranh chấp với các nước láng giềng bằng phương thức hòa bình, chưa từ bỏ hẳn con đường “trỗi dậy hòa bình”.

Ba là, Việt Nam cần tranh thủ các kênh quan hệ đặc thù với Trung quốc, nhất là kênh Đảng. Mặc dù ý thức hệ không còn là mẫu số chung lợi ích lớn giữa hai nước như thời kỳ trước, Trung Quốc vẫn có nhu cầu duy trì quan hệ với một nước có cùng chế độ chính trị - xã hội như Việt Nam. Kênh Đảng trong quan hệ với Trung Quốc là kênh duy nhất mà Việt Nam có, đồng thời là lợi thế so sánh của Việt Nam so với các nước tranh chấp khác như Philíppin, Malaixia, Brunây. Do đó, cần tiếp tục duy trì, phát huy kênh này trong việc kiểm soát tranh chấp, xử lý khủng hoảng trên biển. Chuyến thăm chính thức của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Trung Quốc (từ ngày 12 đến 16 tháng 1-2017) là biểu hiện cụ thể mới nhất về vai trò của ngoại giao cấp cao của Đảng ta. Và kết quả thực tế của chuyến thăm đã góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ hai nước với những bàn thảo cụ thể trong việc xử lý vấn đề Biển Đông hiện nay.

Bốn là, Việt Nam cần tăng cường hơn nữa tốc độ đan xen lợi ích chiến lược với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ, kể cả với Trung Quốc. Cần tạo cục diện “trong anh có tôi, trong tôi có anh”, từ đó đan cài lợi ích với các nước lớn để góp phần tăng mặt “đối tác”, giảm thiểu mặt “đối tượng”, khiến bất cứ hành vi nào của Trung Quốc xâm phạm lợi ích của Việt Nam ở Biển Đông đều gây tác động “rút dây động rừng”. Sở dĩ ở thời điểm xảy ra vụ Hải Dương 981, khủng hoảng không leo thang thành xung đột quân sự một phần lớn là do Việt Nam đã có cục diện quan hệ đối ngoại tương đối vững chắc, nhất là quan hệ với các nước lớn.

Cuối cùng, là một quốc gia tầm trung với nguồn lực có hạn, Việt Nam phải biết khai thác hiệu quả hơn nữa công cụ ngoại giao đa phương và chuẩn bị sẵn sàng công cụ pháp lý trong tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc. Vai trò của công luận, chủ nghĩa đa phương và luật pháp quốc tế ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế trong thế kỷ XXI. Bởi vậy, việc tiếp tục theo đuổi chiến lược “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông sẽ góp phần làm chậm lại tốc độ hiện thực hóa yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, tập hợp thêm lực lượng bên ngoài ủng hộ các lợi ích chính đáng của Việt Nam. Bản thân việc “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông tự nó không thay thế được việc đàm phán song phương và đa phương nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông, nhưng nó góp phần giúp Việt Nam tránh kịch bản xấu nhất trong vấn đề Biển Đông. Trong quá trình này, việc tiếp tục sử dụng các cơ chế do ASEAN dẫn dắt có vai trò rất quan trọng. Mặc dù bản chất vẫn lỏng lẻo, dễ bị Trung quốc phân hóa, song đến nay ASEAN vẫn là diễn đàn quan trọng nhất để Việt Nam tập hợp lực lượng và “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông. Vì vậy, việc chủ động, tích cực hơn nữa phát huy vai trò dẫn dắt trong ASEAN cùng các nước nòng cốt như Inđônêxia, Xinhgapo... là lợi ích chiến lược của Việt Nam, góp phần hạn chế bớt khả năng phải đơn độc đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.18.

(2) Trung Quốc gấp Việt Nam khoảng 28 lần về diện tích, 14 lần về dân số, hơn 50 lần về quy mô GDP và hơn 30 lần về ngân sách quốc phòng. Khoảng cách này dự kiến sẽ tiếp tục nới rộng trong các năm tới.

(3) Khác với các thế hệ lãnh đạo cấp cao trước đó, Tập Cận Bình là TBT/CTN đầu tiên của Trung Quốc nhiều lần công khai khẳng định các đảo ở Nam Hải (Biển Đông) là lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc; thể hiện quan điểm cứng rắn rằng Trung Quốc sẽ không đem lợi ích chủ quyền ra để đổi chác.

(4) Chính sách “Ba không” được nêu trong Sách Trắng quốc phòng Việt Nam 2009. Đó là: (i) Không tham gia các liên minh quân sự; (ii) Không để nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam; và (iii) Không đi với bất cứ nước nào để chống lại bên thứ ba.

 

PGS, TS Nguyễn Viết Thảo

Phó Giám đốc

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền

 

Cùng bạn đọc

Liên kết