Trang chủ    Ảnh chính    Nhận thức lý luận về văn hóa, xã hội, con người: Thực trạng và những vấn đề đặt ra
Thứ năm, 24 Tháng 5 2018 16:03
250 Lượt xem

Nhận thức lý luận về văn hóa, xã hội, con người: Thực trạng và những vấn đề đặt ra

(LLCT) - Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện. Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và con người, nhận thức lý luận của Đảng ta cũng đã có những thành tựu không nhỏ, góp phần quan trọng vào những thành tựu chung của sự nghiệp đổi mới. Tuy nhiên, cũng còn một số vấn đề đặt ra về công tác nghiên cứu lý luận về vấn đề này, như: cần làm rõ nội dung, cơ chế và hệ quả tác động giữa văn hóa và đời sống kinh tế - xã hội; nhìn rõ hơn vai trò của văn hóa với con người, an ninh xã hội và sự phát triển xã hội; vai trò của văn hóa trong chính trị, trong kinh tế; xây dựng chuẩn giá trị con người và xây dựng con người Việt Nam,...

(Nguồn: internet)

1. Sự phát triển nhận thức lý luận về văn hóa, xã hội, con người

Đường lối về lĩnh vực văn hóa, xã hội và con người trong Cương lĩnh năm 1991 của Đảng đánh dấu một bước đổi mới quan trọng trong nhận thức lý luận. Từ việc xác định “có nền văn hóa tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc” là một đặc trưng định hướng của chế độ XHCN mà chúng ta theo đuổi, Cương lĩnh chỉ ra nhiệm vụ của cách mạng trong lĩnh vực văn hóa là: “Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên chủ nghĩa xã hội”(1). Như vậy, đường lối “dân tộc, khoa học, đại chúng” đã xác định trong Đề cương văn hóa năm 1943 được diễn đạt mới trong điều kiện hòa bình xây dựng đất nước là “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Nội dung của “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” là sự kết hợp chặt chẽ giữa trình độ phát triển hiện đại, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, được đặt trên cơ sở của hệ tư tưởng chính trị với lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với nhận thức đường lối văn hóa ấy là chính sách xã hội coi con người là nhân tố quan trọng, cần được phát huy, bảo đảm toàn diện các yếu tố vật chất và tinh thần cho con người. Đây là kết quả sự nhận thức tương đối toàn diện về con người trong các mối quan hệ chính trị - xã hội phong phú, gắn bó hữu cơ với mục tiêu nhân văn của chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về văn hóa - văn nghệ là sự tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa những nhận thức về văn hóa, xã hội và con người của Cương lĩnh năm 1991.

Tại Đại hội VIII của Đảng, nhận thức về văn hóa đã có một bước chuyển biến quan trọng. Văn hóa được xác định là “nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội(2). Đây là một cách tiếp cận mới đối với văn hóa, cách nhìn nhận mới về bản chất, vị trí và vai trò của   văn hóa trong đời sống xã hội. Như cách nói của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(3). Nhưng đến lượt nó, văn hóa không đơn thuần là sản phẩm được tạo ra một cách phụ thuộc, bị động, mà có đời sống riêng của nó, trở thành môi trường phát triển của con người, trở thành điều kiện quy định sự vận động của đời sống kinh tế - xã hội. Khẳng định, văn hóa là “nền tảng tinh thần”, “là động lực phát triển kinh tế - xã hội”, rõ ràng sẽ dẫn đến những thay đổi về cách ứng xử, các chính sách mới về văn hóa, xã hội và con người.

Tiếp tục phát triển nhận thức về văn hóa, xã hội, con người của Đại hội VIII của Đảng, Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 của Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII “về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” mở đầu băng sự khẳng định: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”(4). Luận điểm trên đã thểhiệnrất rõ nhận thức về quan hệ hai mặt của văn hóa, đó là sản phẩm của xã hội, và đồng thời cũng là yếu tố quy định sự phát triển của xã hội, khẳng định vai trò của văn hóa trong việc hình thành con người, góp phần tạo dựng những giá trị lịch sử của dân tộc.

Trên cơ sở tiếp tục khẳng định quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII xác định 10 nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người, trong đó có hai nhiệm vụ đáng chú ý nhất là: Xây dựng con người và xây dựng môi trường văn hóa - xã hội. Các yêu cầu xây dựng con người Việt Nam được xác định với 5 nội dung (hoặc tiêu chí): Yêu nước, tự cường dân tộc; ý thức tập thể, đoàn kết; lối sống lành mạnh, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng phép nước; lao động chăm chỉ, sáng tạo; cầu thị, ham hiểu biết. Vấn đề xây dựng môi trường văn hóa hầu như lần đầu tiên được đặt ra tương xứng với vai trò, tầm quan trọng của nó. Đây là kết quả của việc tổng kết thực tiễn phát triển văn hóa, đánh giá nguyên nhân của những hiện tượng tiêu cực xã hội. Yêu cầu xây dựng môi trường văn hóa được đặt ra tương đối toàn diện, bao gồm môi trường gia đình, cộng đồng, làng bản, khu dân cư, nhà trường và môi trường xã hội nói chung.

Cương lĩnh năm 2011 trên cơ sở đã bổ sung, phát triển những thành tựu trong nhận thức lý luận về văn hóa, xã hội và con người, đã khẳng định quan điểm: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thànhnền tảng tinh thần vững chắc,sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”(5). Đây chính là bước phát triển mới về nhận thức lý luận văn hóa, xã hội và con người khi tiếp cận văn hóa như “sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển”. Lần đầu tiên, văn hóa được nhìn nhận với vai trò, vị thế và ý nghĩa quan trọng đặc biệt như yếu tố bên trong quyết định sự phát triển của xã hội. Đó là một điểm mốc đầy ý nghĩa trên con đường nhận chân giá trị đích thực của văn hóa. Cùng với nhận thức mới mẻ về vai trò, vị thế văn hóa trong đời sống xã hội, Cương lĩnh 2011 còn khẳng định một bước phát triển trong nhận thức về con người khi đặt “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển”. Đồng thời, Cương lĩnh 2011 vẫn tiếp tục cách tiếp cận vấn đề con người theo hướng gắn kết hài hoà giữa cái riêng với cái chung, giữa con người cá nhân với con người xã hội, con người công dân. Từ cách tiếp cận đó, Cương lĩnh xác định phương hướng xây dựng con người là: “Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân”. Khi Cương lĩnh 2011 đặt con người là trung tâm của chiến lược phát triển, có thể thấy, nhận thức của Đảng ta về vấn đề con người đã vận dụngquan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, về nhân dân “nước lấy dân làm gốc”, và “gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Nhận thức ấy cũng rất gần gũi với quan điểm của UNDP trong Báo cáo phát triển con người năm 1990, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển con người là mục đích của sự phát triển”, vì “tài sản của mỗi quốc gia là con người của quốc gia đó”.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương9khóa XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã tiếp tục khẳng định và cụ thểhóa những luận điểm cơ bản trong nhận thức lý luận về văn hóa, xã hội và con người của Cương lĩnh năm 2011: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(6). Trước hết, văn hóa được nhìn nhận trong mối quan hệ gắn kết hữu cơ với con người, không tách rời mục tiêu phát triển con người. Từ nhận thức ấy, Nghị quyết nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa văn hóa và con người, trong đó, “Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa”(7), đồng thời yêu cầu: “Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”(8).

Cùng với việc tiếp tục khẳng định những quan điểm lớn về văn hóa, con người và xã hội như: Xây dựng nền văn hóa tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng dân tộc Việt Nam, xây dựng môi trường văn hóa đồng bộ, lành mạnh, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng, phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa... Nghị quyết Trung ương 9 nhấn mạnh quan điểm về xây dựng con người: “Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo”. Thực chất, đây là sự tiếp nối và cập nhật hóa luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Trên thực tế, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng nhân tố con người, luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của các quan điểm,đường lối. Tuy nhiên,ở mỗi thời kỳ khác nhau, tùy theo các điều kiện lịch sử cụ thể, cách tiếp cận vấn đề cũng khác nhau. Với việc khẳng định những đặc tính cơ bản của con người Việt Nam cần hướng tới hiện nay, cho thấy cách tiếp cận vấn đề con người một cách toàn diện, không chỉ cập nhật những tính chất hiện đại mà còn tiếp nối những truyền thống tốt đẹp trong lịch sử, đáp ứng yêu cầu cuộc sống hiện nay. Mặt khác, lần đầu tiên, Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI đặt ra yêu cầu “xây dựng văn hóa trong chính trị và trong kinh tế”. Nội dung xây dựng văn hóa trong chính trị được xác định là văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, trong đó, quan tâm chủ yếu đến phẩm chất đạo đức công vụ, trách nhiệm chính trị - xã hội, tinh thần tận tụy công tác, phục vụ nhân dân và ý thức kỷ luật, kỷ cương trong lao động. Nội dung xây dựng văn hóa trong kinh tế dựa trên cơ sở lấy “con người thực sự là trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội”. Từ đó, nội dung văn hóa trong kinh tế được coi là sự minh bạch, giữ chữ tín, tôn trọng pháp luật, cạnh tranh lành mạnh...

Đại hội XII đã tổng kết 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đề ra đường lối xây dựng đất nước trong thời kỳ mới với bước chuyển giai đoạn quan trọng. Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và con người, nhận thức lý luận của Đảng về mối quan hệ giữa kinh tế, xã hội, văn hóa và con người thể hiện sự gắn bó hữu cơ, nhuần nhuyễn. Các yếu tố này làm tiền đề cho nhau, quy định lẫn nhau, trong đó, con người vừa là động lực quyết định, vừa là mục tiêu trung tâm của sự phát triển. Từ nhận thức chung về mối quan hệ đó, Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành mục tiêu của chiến lược phát triển”. Để thực hiện yêu cầu ấy, cần phải “Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Đồng thời, tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh tế phù hợp với yêu cầu, điều kiện của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCNvà hội nhập quốc tế.

Tiếp tục khẳng định quan điểm quan trọng về phát triển gắn với giải quyết các vấn đề xã hội, con người đã được đặt ra từ Đại hội X “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển”, Đại hội XII của Đảng lần đầu tiên đặt ra vấn đề quản lý phát triển xã hội. Thực chất của vấn đề quản lý phát triển xã hội là điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa các tiến trình, các lĩnh vực trong quá trình phát triển đất nước, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, hài hòa của xã hội, nhất là các vấn đề liên quan đến con người. Mặt khác, quản lý phát triển xã hội cũng là yêu cầu nhằm bảo đảm sự công bằng cho mọi thành viên xã hội, bảo đảm cho sự phát triển toàn diện của con người trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Như vậy, nhận thức lý luận của Đảng ta về văn hóa, xã hội và con người trong thời gian qua, nhất là trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đã phát triển liên tục theo hai hướng chủ yếu. Hướng thứ nhất, nhận thức lý luận về lĩnh vực này ngày càng gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với thực tế vận động của đời sống văn hóa, xã hội và những biểu hiện cụ thể liên quan đến con người trên cơ sở sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn với phương pháp nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh những vấn đề phức tạp đặt ra từ cuộc sống. Hướng thứ hai, những kết quả đạt được từ nhận thức lý luận về văn hóa, xã hội và con người cho thấy, chúng ta đã khắc phục những hạn chế về phương pháp luận để tiếp cận với những vấn đề của lĩnh vực này theo những nguyên lý khoa học của học thuyết Mác - Lênin, phù hợp với những nhận thức chung, tiến bộ của nhân loại. Văn hóa, xã hội và con người ngày càng được nhìn nhận trong mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với thượng tầngkiến trúc, giữa con người với hoàn cảnh sống và các điều kiện xã hội -lịch sử...

2. Những vấn đề đặt ra về lý luận

Thứ nhất, từ nhận thức về văn hóa với vai trò là “nền tảng tinh thần của xã hội, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”, “sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm cho sự phát triển bền vững”, vấn đề đặt ra cần tiếp tục đào sâu nghiên cứu để làm rõ nội dung, cơ chế và hệ quả tác động qua lại giữa văn hóa với đời sống kinh tế - xã hội nước ta như thế nào, nhất là trong điều kiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Cần phải thấy rằng, với việc “nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường” đã tạo ra những thay đổi vô cùng to lớn trong đời sống xã hội nước ta. Quy luật giá trị, sức mạnh đồng tiền và những quan hệ lợi ích đã và đang len lỏi vào mọi ngõ ngách cuộc sống, mọi mối quan hệ xã hội. Dù muốn hay không muốn thừa nhận thì trên thực tế, thang giá trị cuộc sống trước đây đã có những biến động không nhỏ, trong đó có những giá trị đã không còn phù hợp. Ngay cả một số giá trị tích cực trong truyền thống dân tộc hay mang tính đặc trưng của chế độ trước đây cũng đã có những biểu hiện mới, được nhìn nhận dưới những hệ quy chiếu mới. Một loạt những thiết chế, giá trị văn hóa, xã hội của thời kỳ bao cấp trước đây đã không còn phù hợp, thậm chí việc tiếp tục duy trì chúng sẽ không mang lại hiệu quả như mong muốn.

Mặt khác, những vận động của cuộc sống hiện đại, cuộc cách mạng khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hóa cũng đang tác động mạnh mẽ vào đời sống xã hội, làm thay đổi mạnh mẽ lối sống của con người Việt Nam. Môi trường mạng và sự tràn ngập của dòng thông tin trực tuyến đang trở thành yếu tố quan trọng, góp phần quy định nhận thức tư tưởng, giá trị cuộc sống và các mối quan hệ xã hội của mỗi người dân. Nếu trở lại đúng với quan niệm của Hồ Chí Minh, “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”, thì sự thay đổi văn hóa hiện nay lại càng rộng lớn, càng có ý nghĩa đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh yêu cầu “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc” là: (1) Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường; (2) Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng; (3) Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội; (4) Xây dựng chính trị: dân quyền; (5) Xây dựng kinh tế”(9. Nói cách khác, việc nghiên cứu để tìm ra nội dung, cơ chế tác động của những yếu tố văn hóa hiện nay đối với các tiến trình phát triển kinh tế - xã hội không chỉ là vấn đề của văn hóa hay xã hội cụ thể, mà nó ảnh hưởng đến toàn bộ sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ hai, từ tổng kết thực tế 30 năm đổi mới, chúng ta đã nhìn nhận rõ hơn về vai trò của môi trường văn hóa đối với con người, an ninh xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì thế, Đại hội Đảng lần thứ XI và XII đã dành nhiều sự chú ý cho vấn đề xây dựng môi trường văn hóa - xã hội. Tuy nhiên, sự cải thiện môi trường văn hóa - xã hội trên thực tế chưa rõ ràng. Đặc biệt, môi trường tư tưởng của nhân dân còn không ít vấn đề. Trong khi cuộc sống vật chất của người dân ngày càng được cải thiện, an sinh xã hội và an ninh con người ngày càng được bảo đảm tốt hơn thì niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ có phần giảm đi, hiện tượng tội phạm và các tệ nạn xã hội có chiều hướng tăng lên. Vấn đề đặt ra là những hiện tượng đó do đâu mà có, môi trường văn hóa - xã hội có ảnh hưởng như thế nào, tại sao. Cầntiếp tục nghiên cứu làm rõ nguyên nhân nào dẫn đến những hạn chế về môi trường văn hóa - xã hội hiện nay, mối liên hệ và tác động qua lại giữa môi trường và các hiện tượng tiêu cực trong đời sống như thế nào, giải pháp nào để tích cực hóa môi trường văn hóa - xã hội và giải quyết những hiện tượng tiêu cực đó. Hơn thế nữa, việc nghiên cứu về môi trường văn hóa - xã hội là công việc thường xuyên. Đó là yêu cầu cần thiết để giải quyết vấn đề quản lý phát triển xã hội và xuất phát từ một thực tế hiển nhiên là môi trường ấy luôn thay đổi.

Thứ ba, vấn đề nghiên cứu và xây dựng văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh tế đã được đặt ra trong các văn kiện gần đây của Đảng nhưng chưa được làm rõ về nhận thức, cho nên chưa có những chính sách cụ thể để hiện thực hóa. Nói đến văn hóa trong chính trị và văn hóa trong kinh tế là nói đến văn hóa trong hai lĩnh vực trụ cột của đời sống xã hội, có ý nghĩa chi phối toàn bộ các lĩnh vực khác của đời sống văn hóa, quy định tiến trình xây dựng, phát triển đất nước. Đương nhiên, đó cũng là những yếu tố có ảnh hưởng to lớn đến nhân cách, lối sống và thái độ ứng xử của con người. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu để làm rõ nội dung, tính chất, đặc điểm hình thành, cơ chế vận hành, tác động, những biểu hiện thực tế của văn hóa trong kinh tế và văn hóa trong chính trị. Đó là cơ sở khoa học và thực tế để hoạch định những chính sách thích hợp nhằm xây dựng văn hóa trong hai lĩnh vực sống cònlàchính trị và kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng, phát triển đất nước.

Thứ tư, các vấn đề nghiên cứu chuẩn giá trị con người và xây dựng con người Việt Nam hiện đại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Con người không chỉ là trung tâm của chiến lược phát triển, là mục tiêu hướng tới của nền văn hóa, mà chính là biểu hiện tập trung nhất, đại diện caonhất của một nền văn hóa, là động lực quyết định nhất của sự phát triển xã hội. Nếu trở lại với quan niệm của C.Mác, “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”, thì việc nghiên cứu về con người cần phải đặt trong mối quan hệ toàn diện, trong đó không thể tách rời những thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội. Đặc biệt, chính những thiết chế chính trị, kinh tế và xã hội có ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự hình thành nhân cách, lối sống của mỗi con người. Đó là sự tác động hai chiều, quy định lẫn nhau. Nói cách khác, sự hạn chế trong các thiết chế chính trị, kinh tế, xã hội tất yếu sẽ dẫn đến những hạn chế về con người, nhất là về đạo đức, lối sống. Do đó, muốn tích cực hóa nhân tố con người, đương nhiên phải tích cực hóa tất cả các yếu tố có vai trò chi phối hay quy định đối với nó. Đây cũng chính là một trong những vấn đề ít được quan tâm của xã hội, ít được đề cập trong các nghiên cứu và do đó, ít được chú ý trong các chính sách nói chung.

Mặt khác, ngay trong tính hiện thực của nó, con người không chỉ là con người xã hội, con người còn có mặt bản thể của nó như là biểu hiện của con người sinh học, những quan hệ cá nhân, những vấn đề riêng tư, những cơ chế vận hành nội biên của con người. Khi C.Mác nói “bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” là sự nhấn mạnh đặc trưng xã hội của con người. Trên thực tế, những vấn đề liên quan đến con người bản thể luôn thể hiện dưới những hình thức, hiện tượng rất phong phú. Nếu không có sự hiểu biết đầy đủ, không có những chính sách xã hội tương thích sẽ dẫn đến những hệ quả không mong muốn. Tuy nhiên, hầu như trong một thời gian dài, chúng ta hoặc bỏ qua hoặc cố tình quên đi vấn đề này. Vấn đề đặt ra là, cần phải nghiên cứu và đưa ra những chính sách tích cực nhằm phục vụ cho sự phát triển toàn diện, hài hòa của con người Việt Nam hiện đại. Muốn vậy, không thể quên mặt thứ hai của con người. Đây cũng chính là một đòi hỏi mang tính nhân văn.

Thứ năm, hợp tác nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại đang là yêu cầu tất yếu, khách quan và cấp thiết, nhất là trong điều kiện chúng ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào mọi tiến trình của đời sống quốc tế. Quá trình toàn cầu hóa đã trở thành không thể đảo ngược, thậm chí có chiều hướng ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc hơn. Biên giới địa lý giữa các quốc gia đã bị công nghệ thông tin vô hiệu hóa nhiều chức năng vốn có, chỉ còn vai trò nhất định đối với những yếu tố “cứng” như chủ quyền đất đai, lãnh thổ, biển đảo, di cư, xuất - nhập khẩu hàng hóa, v.v.. Muốn hay không muốn thì những giá trị văn hóa của các dân tộc, quốc gia khác cũng đang hằng ngày, hằng giờ tràn vào môi trường xã hội nước ta qua nhiều con đường khác nhau như mạng Internet, các phương tiện truyền thông, báo chí, du lịch, các hình thích giao lưu nhân dân v.v.. Việc nghiên cứu văn hóa thế giới cho phép chúng ta mở mang nhận thức về các giá trị văn hóa của nhân loại, chủ động trong chính sách lựa chọn,tiếp thu, học tập những kinh nghiệm hay về chính sách văn hóa. Mặt khác,đây cũng là cơ hội để truyền bá những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta, tăng cường sức mạnh mềm quốc gia, mở mang hiểu biết, tạo môi trường và điều kiện cho việc hợp tác phát triển kinh tế, thương mại và các lĩnh vực khác.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017

(1) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,năm 1991.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.29.

(3), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.458, 458.

(4) ĐCSVN: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII), số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, http://dangcongsan.vn.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2011, tr.75-76.

(6), (7), (8) ĐCSVN: Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, http://dangcongsan.vn.

 

GS, TS Tạ Ngọc Tấn

Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương

Các bài viết khác