Trang chủ    Ảnh chính    Giải pháp tăng cường ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Thứ tư, 22 Tháng 12 2021 17:32
565 Lượt xem

Giải pháp tăng cường ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

(LLCT) ng dụng vào thực tiễn nhằm “cải tạo thực tiễn” là một trong những chức năng, nhiệm vụ cơ bản thuộc về bản chất của khoa học. Ứng dụng vào thực tiễn đời sống xã hội là vấn đề có tính sống còn đối với việc khẳng định và phát huy vai trò, sức mạnh động lực của khoa học đối với sự phát triển xã hội.

Ảnh minh họa - Nguồn: tuyengiao.vn

Từ kết quả nghiên cứu, Đề tài khoa học Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp năm 2020-2021, đề xuất một số kiến nghị: 

1. Nghiên cứu hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật về phát triển khoa học công nghệ, nhất là sửa đổi, bổ sung Luật khoa học và công nghệ theo tinh thần “một luật sửa nhiều luật”

Cần khẩn trương nghiên cứu cụ thể hóa, thể chế hóa quan điểm, chủ trương, định hướng của Đảng thành các chính sách, pháp luật để thực hiện trong thực tiễn. 

Trước hết, cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật khoa học và công nghệ theo tinh thần “một luật sửa nhiều luật” với những nội dung sau: 

Chú ý tới quy định về tăng cường liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp để hình thành và phát triển lực lượng doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Liên kết giữa viện - trường - doanh nghiệp là yêu cầu khách quan dựa trên những nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục của nhà trường gắn liền với giáo dục của gia đình và xã hội”, “Nhà trường đào tạo cái xã hội cần chứ không phải đào tạo cái nhà trường có”. Quan hệ hợp tác giữa viện - trường - doanh nghiệp là quan hệ biện chứng tương hỗ vì lợi ích của cả hai phía cũng như lợi ích chung của toàn xã hội. Từ mối liên kết này, các trường đại học ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra những “sản phẩm” được trải nghiệm hoạt động thực tiễn. Về phía doanh nghiệp, lâu dài sẽ tận dụng được nguồn nhân lực chất lượng cao, ổn định, góp phần đưa họ vững vàng trong cạnh tranh và vươn lên trong hội nhập. Như vậy, về tổng thể, hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đã, đang và sẽ hướng các trường đại học, viện nghiên cứu đào tạo ra những “sản phẩm” gắn liền với yêu cầu thực tiễn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong xã hội, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, giúp các doanh nghiệp xây dựng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của quốc gia. Vì vậy, thời gian tới cần: Xây dựng và ban hành cơ chế phù hợp tạo sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tiếp nhận kết quả khoa học và công nghệ mới để hình thành các doanh nghiệp KHCN. Đồng thời, thúc đẩy hỗ trợ phát triển mô hình doanh nghiệp khởi nguồn từ các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm thúc đẩy việc ứng dụng, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu được tạo ra từ viện nghiên cứu, trường.

Quy định rõ về tổ chức khoa học công lập chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thực tế cho thấy, việc chuyển đổi các tổ chức khoa học và công nghệ sang thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã góp phần tăng cường trách nhiệm, nâng cao tính chủ động, sáng tạo của tổ chức cũng như của thủ trưởng các tổ chức đó, tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ. Trong thực tế, mặc dù, chủ trương chuyển đổi tổ chức khoa học và công nghệ công lập thành doanh nghiệp đã được ban hành từ khá sớm (Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11-4-2012 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020), nhưng quá trình chuyển đổi các tổ chức khoa học và công nghệ công lập sang mô hình doanh nghiệp ở Việt Nam diễn ra rất chậm. Một trong những nguyên nhân chậm chuyển đổi là do cơ chế chính sách liên quan đến việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nhất là cơ chế tự chủ về tài chính còn thiếu động bộ, chưa tạo được động lực thúc đẩy các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thực hiện cơ chế tự chủ. Vì vậy, thời gian tới cần đồng bộ chính sách liên quan đến việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc chuyển đổi. 

Có những quy định rõ ràng nhằm khuyến khích phát triển thị trường khoa học và công nghệ và đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp theo tinh thần Quyết định số 1158/QĐ-TTg ngày 13-7-2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ quốc gia đến năm 2030. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị giao dịch hàng hóa khoa học và công nghệ hàng năm tăng mạnh, bình quân đạt 30%, trên 35% đối với một số lĩnh vực, ngành hàng xuất khẩu chủ lực. Tỷ trọng giao dịch tài sản trí tuệ đạt trên 20%, tỷ trọng giao dịch các công nghệ nhập khẩu từ các nước phát triển đạt 35%. Tỷ trọng giao dịch công nghệ từ các viện nghiên cứu, trường đại học Việt Nam đạt trên 40% trong tổng giao dịch công nghệ có nguồn gốc trong nước(1). Để đạt được những mục tiêu trên, chương trình đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như: tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý hỗ trợ phát triển thị trường khoa học và công nghệ; thúc đẩy phát triển nguồn cầu của thị trường khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; thúc đẩy phát triển nguồn cung của thị trường khoa học và công nghệ; phát triển các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ; tăng cường hoạt động xúc tiến thị trường khoa học và công nghệ; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, truyền thông và hội nhập quốc tế về thị trường khoa học và công nghệ; phát triển hạ tầng quốc gia của thị trường khoa học và công nghệ… Trong đó chú trọng xây dựng cơ chế, chính sách tạo động lực cạnh tranh để thúc đẩy doanh nghiệp tham gia thị trường khoa học và công nghệ; cơ chế liên thông thị trường khoa học và công nghệ với các thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính và lao động. Xây dựng khu công nghệ cao, khu nông nghiệp công nghệ cao, trung tâm nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Hiện đại hóa hệ thống hạ tầng quốc gia về thị trường khoa học và công nghệ.

Có những quy định rõ ràng nhằm tháo gỡ khó khăn về thủ tục hành chính. Linh hoạt và đơn giản hóa thủ tục tuyển chọn nhiệm vụ khoa học và công nghệ, thanh quyết toán tài chính theo thông lệ quốc tế, giảm tối đa các gánh nặng hành chính cho các nhà khoa học, nhất là việc thanh quyết toán các nhiệm vụ khoa học, nếu vẫn áp dụng quy trình như hiện nay thì gây khó khăn trong công tác giải ngân. Các văn bản quy phạm pháp luật cần định hướng, quy định cụ thể và chi tiết hơn về việc lập kế hoạch, đề xuất các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, dự toán kinh phí, phê duyệt các nhiệm vụ, cấp phát kinh phí được kịp thời, linh động và chủ động hơn. Mạnh dạn giao quyền sở hữu kết quả khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì để thúc đẩy ứng dụng, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.

Bên cạnh việc bổ sung, sửa đổi Luật khoa học và công nghệ, cần tổ chức triển khai và thực hiện tốt Nghị định số 13/2019/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệvà các thông tư hướng dẫn. 

Đổi mới cơ chế thực thi hoạt động quản lý Nhà nước về sở hữu trí tuệ, đổi mới hệ thống sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Cần xây dựng những chính sách và hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về quyền sở hữu trí tuệ. Có thể giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ cho các Viện nghiên cứu, trường Đại học chủ trì để họ xúc tiến thương mại hóa các sản phẩm. Cần có sự tiếp xúc giữa các nhà khoa học và doanh nghiệp để có khách hàng cụ thể, tạo lòng tin với nhau và có nhiều sản phẩm thương mại hóa. Cần có một bộ phận trung gian kết nối giữa người làm ra sản phẩm trí tuệ và người bỏ tiền đầu tư, khai thác. Cần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc hiện nay thúc đẩy hoạt động thương mại hóa các sản phẩm trí tuệ.

2. Coi trọng ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển văn hóa xã hộinhất là nghiên cứu luận chứng xây dựng chính sách, pháp luật phát triển văn hóa xã hội 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Lĩnh vực văn hóa, xã hội chưa có nhiều đột phá, hiệu quả chưa cao. Văn hóa chưa được quan tâm tương xứng với kinh tế và chính trị, chưa thật sự trở thành nguồn lực, động lực nội sinh của sự phát triển bền vững đất nước”; “Quản lý phát triển xã hội và giải quyết một số vấn đề xã hội chưa được quan tâm đúng mức, chưa được kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa”(2)… 

Lý do, nguyên nhân, dẫn đến những hạn chế, bất cập, thiếu đồng bộ đó có nhiều, nhưng chắc chắn có phần trách nhiệm của hoạt động nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển văn hóa, xã hội nói riêng, hoạt động khoa học công nghệ và quản lý khoa học học công nghệ nói chung.  

Công cuộc đổi mới, phát triển đất nước đặt ra yêu cầu tất yếu về sự phát triển nhanh, bền vững và toàn diện, đồng bộ. Do đó, hơn bao giờ hết, phải coi trọng đổi mới, sáng tạo, phải thực sự khẳng định khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Và theo đó, để lĩnh vực văn hóa, xã hội phát triển theo kịp, đồng bộ, tương thích với các lĩnh vực khác, nhất là với lĩnh vực kinh tế và chính trị phải coi trọng nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển văn hóa, xã hội, nhất là nghiên cứu luận chứng, ứng dụng nhằm xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển văn hóa xã hội của đất nước. 

3. Cần coi trọng việc thường xuyên đánh giá về ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển kinh tế - xã hội và tích cực số hóa, kết nối, xây dựng dữ liệu khoa học công nghệ quốc gia. 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Hệ thống thông tin, thống kê khoa học và công nghệ chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phục vụ việc xây dựng các chiến lược, chính sách”(3); “Các ngành, các cấp có trách nhiệm trong việc thúc đẩy phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào lĩnh vực mình phụ trách”(4); “Phát triển mạnh thị trường khoa học, công nghệ gắn với xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học, công nghệ”(5)

Do vậy, mỗi cơ quan đơn vị hoạt động khoa học công nghệ hàng năm, qua mỗi nhiệm kỳ phải đánh giá việc nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu; đồng thời báo cáo kết quả nghiên cứu, ứng dụng về cơ quan chủ quản để không ngừng bổ sung, cập nhật dữ liệu ngành, dữ liệu quốc gia và đây cũng là một trong những cơ sở, căn cứ để điều chỉnh chính sách đầu tư phát triển, nghiên cứu, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ. 

Đồng thời, ngành khoa học công nghệ, trước hết là Bộ Khoa học - Công nghệ, các sở khoa học công nghệ và các tổ chức, đơn vị hoạt động khoa học công nghệ cần đi tiên phong trong chuyển đổi số, kết nối, xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả dữ liệu quốc gia khoa học công nghệ. 

4. Đổi mới, nâng cao chất lượng nghiên cứu, hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế xã hội 

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy, để đổi mới, nâng cao chất lượng nghiên cứu, hiệu quả ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cần đặc biệt quan tâm mấy vấn đề sau: 

Thứ nhất, phải chọn đúng nội dung nghiên cứu. Đây là yếu tố đầu tiên quyết định chất lượng, hiệu quả của các chương trình, đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Để chọn đúng nội dung nghiên cứu cần dựa trên 5 cơ sở sau: 

i) Bám sát Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng qua các kỳ Đại hội, nhất là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, trong đó tập trung vào những vấn đề, nội dung mới trên các lĩnh vực được đưa vào Văn kiện để tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn. Đây là căn cứ để các tổ chức nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học nghiên cứu, đề xuất những nội dung nghiên cứu, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng hoặc giúp cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự quản lý, điều hành của Chính phủ hoặc phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của ngành, lĩnh vực, địa phương.

ii) Bám sát vào Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Thông thường sau Đại hội đại biểu toàn quốc, tại Hội nghị lần thứ hai, thứ ba Ban Chấp hành Trung ương sẽ bàn, cho ý kiến và thông qua Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương. Tại mỗi kỳ họp, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ cho ý kiến về một số nội dung liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị… Đồng thời, hằng năm Văn phòng Trung ương Đảng có văn bản gửi các cơ quan Trung ương (ban, bộ, ngành), các địa phương nghiên cứu, đề xuất các nội dung, trước hết và chủ yếu là những vấn đề liên quan trực tiếp đến lĩnh vực, địa bàn được giao phụ trách để đưa vào chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Do vậy, đây chính cũng chính là căn cứ đề các cơ quan, tổ chức, địa phương nghiên cứu, đề xuất và xác định các nội dung nghiên cứu phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đưa Nghị quyết Đại hội Đảng vào thực tiễn cuộc sống. 

iii) Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương để đề xuất, xác định nội dung nghiên cứu cho phù hợp gắn với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực, địa phương, cơ quan, đơn vị và gắn với Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ quốc gia. 

iv) Căn cứ vào những yêu cầu mới mà thực tiễn đặt ra hoặc những vấn đề đã tồn tại trong thực tiễn nhưng chưa được giải đáp đầy đủ, có sức thuyết phục về mặt lý luận hoặc những vấn đề cũ trong thực tế nhưng do yêu cầu, bối cảnh thực tế thay đổi đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, lý giải mới hợp lý, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Ở góc độ quốc gia, có thể căn cứ vào Văn kiện Đại hội XIII của Đảng để xác định các vấn đề đặt ra(6). Ở góc độ địa phương có thể căn cứ vào Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh, thành phố hoặc Chiến lược phát triển địa phương để xác định nội dung, các vấn đề đặt ra cần nghiên cứu, luận giải làm rõ, phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Việc nghiên cứu thực tế ở các địa phương cần chú ý đến các địa bàn đại diện cho các vùng, các khu vực của đất nước. Nghiên cứu các mô hình, điển hình tiên tiến về tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, đồng thời nghiên cứu những địa phương, đơn vị, cơ sở có nhiều khó khăn, tình hình phức tạp, tìm ra những nguyên nhân, điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển của địa phương, đơn vị đó. Từ nghiên cứu, khảo sát thực tế ở các địa phương, các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, không chỉ nhằm nắm bắt đặc điểm, tình hình thực trạng, các yếu tố tác động và nguyên nhân dẫn đến thành công, hạn chế, mà quan trọng hơn, cần làm rõ đặc điểm chung mang tính khái quát của các mô hình tiên tiến, các nguyên nhân phổ biến và đặc thù dẫn đến những hạn chế, những vấn đề đặt ra về đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với các loại mô hình đó. Đó chính là cơ sở thực tế gợi ý cho việc xác định một số nội dung cho các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

v) Lấy ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ lãnh đạo quản lý lâu năm, có nhiều kinh nghiệm nhằm thu thập, chọn lọc các ý tưởng và xác định các chương trình, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu. Mặt khác, thông qua ý kiến các nhà khoa học, các chuyên gia nhằm cân nhắc, đánh giá lại hệ thống các chương trình, đề tài, nhiệm vụ, bảo đảm sự đúng đắn, chính xác, hợp lý. Đồng thời, các nhà khoa học, các chuyên gia cũng chính là những lực lượng không thể thiếu để đề xuất và xác định nội dung yêu cầu, mục tiêu cần đạt được đối với từng chương trình, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể. Việc tập hợp, lựa chọn được đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia mạnh để tham gia giải quyết các khâu công việc trong quá trình xác định định hướng nội dung và hệ thống các chương trình, đề tài, nhiệm vụ là yếu tố đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng, hiệu quả toàn bộ các chương trình, đề tài và nhiệm vụ khoa học, công nghệ.

Thứ haigiao đúng, trúng tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và xác định rõ yêu cầu đối với sản phẩm nghiên cứu. 

- Giao đúng, trúng tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học: Sau khi đã xác định được nội dung, yếu tố thứ hai quyết định sự thành bại và chất lượng kết quả nghiên cứu của các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ đó là việc lựa chọn cơ quan chủ trì, nhà khoa học làm chủ nhiệm và lực lượng nhà khoa học tham gia nghiên cứu các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Kinh nghiệm cho thấy, nếu lựa chọn không tốt các cơ quan chủ trì, các chủ nhiệm chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đội ngũ nhà khoa học tham gia các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ sẽ ảnh hưởng nhiều mặt đến toàn bộ hoạt động triển khai các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Do vậy, cấp có thẩm quyền cần lựa chọn cơ quan chủ trì, cá nhân làm chủ nhiệm và các thành viên tham gia phải có đủ năng lực, kinh nghiệm và cơ sở vật chất bảo đảm thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.

Xác định rõ yêu cầu sản phẩm đối với các chương trình, đề tài và nhiệm vụ khoa học, công nghệ: Ở cấp cơ sở, phải quyết được những vấn đề lý luận, thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đóng góp cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả chuyên môn của cơ quan, đơn vị, tổ chức, địa phương; số lượng và chất lượng sản phẩm khoa học tương thích với nội dung nghiên cứu và kinh phí được cấp. Ở cấp bộ, phải giải quyết được những vấn đề lý luận, thực tiễn mới, kết quả nghiên cứu phải cung cấp luận cứ khoa học góp phần phục vụ hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực, góp phần làm chuyển biến nhận thức của xã hội; xây dựng được báo cáo kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước trong hoạch định chủ trương, chính sách; số lượng và chất lượng sản phẩm khoa học tương thích với nội dung nghiên cứu và kinh phí được cấp của đề tài. Ở cấp nhà nước, phải giải quyết được những vấn đề lý luận, thực tiễn mới; kết quả nghiên cứu phải cung cấp luận cứ khoa học góp phần phục vụ hoạch định chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, ngành, lĩnh vực, tạo chuyển biến nhận thức trong xã hội; xây dựng được báo cáo kiến nghị đối với Đảng, Nhà nước trong hoạch định chủ trương, chính sách; số lượng và chất lượng sản phẩm khoa học tương thích với nội dung nghiên cứu và kinh phí được cấp.

Thứ ba, tổ chức, quản lý các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ chất lượng, hiệu quả, thực chất. 

Việc tổ chức, quản lý các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ gồm nhiều khâu công việc với nội dung, yêu cầu khác nhau, song cơ bản gồm các công việc với các yêu cầu chặt chẽ sau đây: (1) Tổ chức đấu thầu, xét tuyển, lựa chọn các chủ nhiệm chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ; (2) Tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực tế trong và ngoài nước; (3) Tổ chức kiểm tra định kỳ; (4) Báo cáo chắt lọc kết quả nghiên cứu; (5) Quản lý tài chính; (6) Tổ chức nghiệm thu, đánh giá kết quả các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ; (7) Tổng kết đánh giá kết quả thực hiện chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ. 

Thứ tư, khen thưởng, biểu dương kịp thời những những cơ quan, tổ chức và chủ nhiệm các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu được giao. Đồng thời, xử lý nghiêm, kịp thời những cơ quan, tổ chức và chủ nhiệm các chương trình, đề tài, nhiệm vụ khoa học, công nghệ không bảo đảm tiến độ thời gian, cũng như chất lượng sản phẩm, trường hợp không bảo đảm chất lượng sản phẩm thì có thể thu hồi kinh phí hoặc không giao triển khai các nhiệm vụ tiếp theo. 

5. Tiếp tục cải cách căn bản thủ tục hành chính trong nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội 

Tuy trong10 năm qua, Chương trình cải cách hành chính đã có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu. Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy thủ tục hành chính phức tạp vẫn gây sự lãng phí nhiều thời gian của người làm khoa học; và đây là một trong những rào cản, lực cản lớn đối với hoạt động khoa học công nghệ nói chung và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào phát triển kinh tế xã hội nói riêng. 

Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15-7-2021 của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 đã xác định trọng tâm cải cách hành chính 10 năm tới bao gồm 6 nội dung trọng tâm là: cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; cải cách tài chính công; xây dựng phát triển chính phủ điện tử, chính phủ số. Do vậy, trong tổng thể chương trình cải cách hành chính nhà nước phải quan tâm việc cải cách hành chính trong nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội. 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Cơ chế và chính sách cán bộ trong hoạt động khoa học và công nghệ còn nặng về hành chính hóa, chưa tạo được môi trường thuận lợi để phát huy sức sáng tạo, thu hút nhân tài”(7). Gần đây, tại Hội nghị toàn quốc Đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam tổ chức chiều 15-9-2021, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cũng khẳng định yêu cầu tất yếu phải “tiếp tục xây dựng cơ chế, chính sách, giảm tối đa các gánh nặng hành chính cho các nhà khoa học, tôn trọng đặc thù của lao động sáng tạo, đặt niềm tin và chấp nhận rủi ro, độ trễ trong khoa học, dỡ bỏ các rào cản duy ý chí và hành chính hóa hoạt động khoa học - công nghệ để tạo không gian rộng hơn, cởi mở hơn cho hoạt động đổi mới, sáng tạo vì sự nghiệp khoa học của nước nhà”(8).

__________________

(1) Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ quốc gia, ngày 23-07-2021, http://www.khoahocphothong.com.vn/chuong-trinh-phat-trien-thi-truong-khoa-hoc-va-cong-nghe-quoc-gia-58499.html

(2), (3), (4), (5), (7) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr 84 - 85, 83-84, 121, 230, 72. 

(6) Xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững; Tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; Tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh; Phát triển con người gắn kết chặt chẽ với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Xây dựng môi trường văn hóa, đạo đức xã hội lành mạnh, không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; Chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; Về quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; Định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Gắn công tác xây dựng Đảng với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Về các mối quan hệ lớn cần giải quyết trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước…

(8) Xem Thủ tướng: Tạo mọi điều kiện để đội ngũ trí thức đóng góp nhiều hơn cho đất nước, tại trang: https://vtv.vn/chinh-tri/thu-tuong-tao-moi-dieu-kien-de-doi-ngu-tri-thuc-dong-gop-nhieu-hon-cho-dat-nuoc-20210915202204841.htm.  

                                

PGS, TS DƯƠNG TRUNG Ý

             Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền