Trang chủ    Ảnh chính    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam
Thứ sáu, 24 Tháng 2 2023 10:31
34214 Lượt xem

Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam

(LLCT) - Du lịch là ngành công nghiệp không khói và là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 nhấn mạnh: Phát triển du lịch bền vững, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành và lĩnh vực khác, góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Phát triển du lịch bền vững cũng là một trong những trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhiều địa phương, giúp khai thác hiệu quả tiềm năng phát triển kinh tế, thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bảo vệ môi trường, giữ gìn các giá trị, bản sắc văn hóa, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội. Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi Ngân hàng thương mại cổ phần quân đội (MB).

Du khách trải nghiệm thu hái chè cùng đồng bào dân tộc thiểu số tại các khu du lịch sinh thái ở tỉnh Cao Bằng - Ảnh: vov.vn

1. Phát triển du lịch bền vững

Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch có tính đến đầy đủ các tác động kinh tế, xã hội và môi trường hiện tại và tương lai, vừa đáp ứng được nhu cầu của du khách và sự phát triển của ngành du lịch, vừa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái và các yêu cầu của cộng đồng địa phương. Phát triển du lịch bền vững liên quan đến các khía cạnh môi trường, kinh tế và văn hóa xã hội của phát triển du lịch, đòi hỏi phải thiết lập sự cân bằng hợp lý giữa ba khía cạnh này để bảo đảm tính bền vững lâu dài(1).

Du lịch bền vững giúp quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát triển kinh tế - xã hội, hưởng thụ của con người, đồng thời vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học và sự phát triển của các hệ sinh thái. Khái niệm du lịch bền vững liên quan chặt chẽ đến các khái niệm về du lịch sinh thái, du lịch xanh,...

Ở Việt Nam, Luật Du lịch năm 2017 đưa ra định nghĩa: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”(2).

Phát triển du lịch bền vững gồm 3 nội dung cơ bản sau:

(1) Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế du lịch cao hợp lý, ổn định, liên tục

Tốc độ tăng trưởng của ngành du lịch cần được xác định ở mức độ phù hợp, căn cứ vào các điều kiện thực tế, để đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng của ngành du lịch, đồng thời không tạo nên áp lực đòi hỏi phải đổi lại bằng sự suy giảm tài nguyên và môi trường du lịch. Theo đó, tăng trưởng của ngành kinh tế du lịch không vượt quá khả năng tái tạo của nguồn tài nguyên, khả năng chịu đựng của cơ sở vật chất ngành du lịch và sức chứa xã hội ở địa phương để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ngày càng tốt hơn, sản phẩm du lịch ngày càng thỏa mãn và làm hài lòng du khách. Tăng trưởng du lịch bền vững cần dựa vào chiến lược: ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn khách hơn là theo đuổi thuần túy số lượng khách du lịch.

Phát triển du lịch bền vững giúp thúc đẩy phát triển kinh tế của địa phương trên nhiều khía cạnh: thúc đẩy sự gia tăng về quy mô của nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hóa của các hoạt động kinh tế cũng như ổn định và mở rộng nguồn thu cho ngân sách từ thuế và các dịch vụ khác do chính quyền cung cấp. Đứng trên góc độ quản lý nhà nước, việc tăng nguồn thu cho ngân sách bằng cách hướng tới việc phát triển du lịch bền vững là một trong những động lực lớn khuyến khích chính quyền địa phương đầu tư phát triển hạ tầng như đường giao thông, bệnh viện, viễn thông, năng lượng... tại địa phương, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ công và môi trường sống của người dân bản địa.

(2) Thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa

Quá trình phát triển du lịch sẽ khuyến khích, thu hút và tạo việc làm cho lao động địa phương trực tiếp tham gia vào các hoạt động du lịch, đồng thời tạo tác động lan tỏa, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực kinh tế khác phát triển, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong cộng đồng địa phương. Nói cách khác, du lịch có thể mang lại hiệu ứng phát triển bao trùm.

Phát triển du lịch tạo nhu cầu, điều kiện và đồng thời cũng đặt ra mục tiêu bảo đảm sự khai thác, sử dụng hiệu quả và hợp lý các giá trị văn hóa bản địa, di sản văn hóa, nguồn lực tài nguyên nhân văn của địa phương để có thể duy trì được sự bền vững, tính đặc sắc trong dài hạn. Với việc mở rộng thị trường khách du lịch, trong đó cơ cấu khách du lịch quốc tế ngày càng đa dạng, hình ảnh tốt đẹp của địa phương, của quốc gia cũng được quảng bá, lan tỏa ra thế giới, từ đó tạo thuận lợi cho việc mở rộng, thúc đẩy phát triển các quan hệ giao thương, hợp tác quốc tế. Du lịch nói chung và du lịch bền vững nói riêng còn là cầu nối để du khách và người dân bản địa thấu hiểu lẫn nhau. Việc này giúp cho du khách có những trải nghiệm lý thú trong quá trình du lịch và khám phá các nét văn hóa đặc sắc và con người tại địa phương; đồng thời người dân địa phương cũng qua việc tiếp xúc với khách du lịch để tìm hiểu thêm về văn hóa ở các vùng miền hoặc quốc gia khác nhau, qua đó làm giàu thêm cho phong tục, tập quán của mình.

(3) Bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh

Điều này bao gồm cả hai khía cạnh: giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái trong hoạt động du lịch; giữ gìn, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái để tạo tiền đề, điều kiện cho du lịch phát triển bền vững. Một trong các tiêu chí lớn nhất để đánh giá tính bền vững trong phát triển du lịch tại một địa phương chính là việc bảo tồn, duy trì nguồn tài nguyên sinh thái và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của con người trong quá trình thực hiện hoạt động du lịch lên môi trường. Phát triển du lịch bền vững phải bảo đảm được rằng các tài nguyên du lịch của địa phương như các danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, giá trị văn hóa,... không bị tác động tiêu cực, không gây ra hao hụt các giá trị nguyên bản hay tác động xấu cho việc khai thác chúng trong lâu dài.

Để phát triển du lịch bền vững cho quốc gia nói chung và địa phương nói riêng, các nhà quản lý cần phải lên kế hoạch chi tiết để giải quyết những vấn đề cụ thể trên nguyên tắc cân bằng giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai, cân bằng giữa phát triển trong ngắn hạn và phát triển trong dài hạn nhằm bảo đảm việc phát triển du lịch là hiệu quả, bền vững tránh xảy ra tình trạng hao hụt, lãng phí các nguồn lực phát triển. Theo đó, cần có những giải pháp đặc biệt để quản lý việc khai thác sao cho phù hợp, tránh xảy ra tình trạng khai thác quá mức làm hao hụt hoặc phá hủy hoàn toàn những nguồn tài nguyên du lịch quý báu của quốc gia nói chung và của địa phương phát triển du lịch nói riêng. Đồng thời, cần tích cực đầu tư trở lại bằng nguồn thu từ du lịch cho công tác bảo vệ tài nguyên, phát triển các tài nguyên du lịch có khả năng tái sinh và bảo vệ môi trường.

2. Tiềm năng phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam

Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch với nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, phong phú và đa dạng khắp trên mọi miền đất nước, có sức hấp dẫn đối với du khách. Việt Nam có hơn 40.000 di tích và thắng cảnh, trong đó hơn 3.000 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, 5.000 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.

Việt Nam cũng là một trong những số ít quốc gia trên thế giới được UNESCO công nhận nhiều di sản, gồm: Di tích Hoàng thành Thăng Long, phố cổ Hội An, quần thể danh thắng Tràng An, cố đô Huế, thành nhà Hồ, thánh địa Mỹ Sơn, vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long. Đây là một trong những tiềm năng du lịch Việt Nam thu hút khách quốc tế. Hơn nữa, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có khoảng 117 bảo tàng - nơi lưu giữ quá trình lịch sử của dân tộc với những dấu ấn hào hùng có sức lôi cuốn du khách tìm hiểu về lịch sử Việt Nam.

Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi vùng miền, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa, phong tục tập quán, lối sống riêng khác nhau tạo thành nét cuốn hút riêng. Việt Nam còn có di sản văn hóa phi vật thể nổi tiếng: Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù, quan họ, hát xoan, hội Gióng, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương... để thu hút khách du lịch. Đặc biệt, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu khách, đây là một trong những yếu tố hấp dẫn và thiện cảm đối với du khách quốc tế.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới mục tiêu đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, xác định phát triển du lịch bền vững và bao trùm là quan điểm định hướng, dẫn dắt sự phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn mới. Để thực hiện mục tiêu đó, các chính sách luôn hướng tới tạo môi trường đầu tư thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư vào lĩnh vực du lịch, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng trước pháp luật.

Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, ngành Du lịch Việt Nam đã tập trung ưu tiên phát triển hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, thông tin, dịch vụ du lịch, nơi vui chơi, giải trí, văn hóa... phục vụ du lịch, nâng cao sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch, bảo đảm tính bền vững môi trường và phát triển nguồn nhân lực du lịch, tạo nên “đòn bẩy” quan trọng giúp Việt Nam trở thành điểm đến thu hút đối với du khách trong nước và quốc tế.

Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng cũng được xem là cơ hội để các doanh nghiệp du lịch phát triển. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của du khách và sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp trên thị trường, các doanh nghiệp du lịch buộc phải vươn lên, tự khẳng định và hoàn thiện mình thông qua việc nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ và đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để Việt Nam có thể học hỏi từ các nước trên thế giới kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực du lịch, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường trong nước và theo kịp trình độ quốc tế về du lịch.

Tuy nhiên, ngành du lịch Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức không nhỏ.

Thứ nhất, mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong đầu tư xây dựng và hoàn thiện hệ thống hạ tầng du lịch theo hướng đồng bộ và hiện đại hơn, song hệ thống giao thông đường bộ, hàng không, cầu cảng... trong nước vẫn được coi là kém phát triển, thiếu các tiêu chuẩn an toàn và dễ tiếp cận cho khách du lịch để có thể di chuyển nhanh chóng, an toàn và thuận tiện. Chi phí cho việc di chuyển, cước phí giao thông còn cao. Hệ thống thông tin viễn thông chưa phát triển rộng khắp, chất lượng còn hạn chế trong khi giá dịch vụ lại cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, các tiện nghi phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi, giải trí... tuy đã tăng lên về số lượng, nhưng nhiều nơi vẫn chưa bảo đảm về chất lượng dịch vụ.

Thứ hai, các quy định pháp lý về quản lý du lịch chưa đầy đủ và còn không ít bất cập đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh du lịch. Nhận thức của doanh nghiệp và người dân về phát triển du lịch theo hướng bền vững còn hạn chế. Hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh du lịch của Việt Nam thuộc loại nhỏ, việc bảo đảm chất lượng dịch vụ còn hạn chế, năng lực quản lý thấp, khả năng cạnh tranh quốc tế yếu. Trong khi hệ thống luật pháp Việt Nam còn chưa hoàn chỉnh, nhiều cơ sở kinh doanh chưa tạo dựng được uy tín, làm ăn mang tính chộp giật, chặt chém khách; có nhiều nơi, hoạt động diễn ra tự phát, lộn xộn, thậm chí gây phiền toái cho khách, một số vụ việc tiêu cực làm ảnh hưởng đến hình ảnh của du lịch Việt Nam. Ý thức tôn tạo và bảo vệ cảnh quan môi trường du lịch chưa được nâng cao đã gây trở ngại cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Trên thực tế, người dân sinh sống trong khu vực du lịch thường xâm phạm đến các tài nguyên du lịch mà không ý thức được hết ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và những lợi ích lâu dài cho cộng đồng. Bên cạnh đó, quá trình mở cửa, hội nhập du lịch cũng ảnh hưởng và làm phức tạp hóa một số vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự xã hội, giữ gìn thuần phong mỹ tục.

Thứ ba, chất lượng các sản phẩm du lịch; mức độ liên kết các sản phẩm du lịch còn rất hạn chế. Hệ luỵ là các dịch vụ du lịch tập trung chủ yếu vào việc khai thác nguồn tài nguyên du lịch, gây nên tình trạng quá tải. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân lực ngành du lịch được đào tạo còn ít, yếu về trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, thiếu kinh nghiệm và sự hiểu biết về du lịch bền vững; đội ngũ quản lý và phục vụ có trình độ chuyên môn cao trong các cơ sở phục vụ kinh doanh du lịch ở lĩnh vực khách sạn, nhà hàng, các nơi nghỉ dưỡng, các cơ sở vui chơi, giải trí còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh của lĩnh vực du lịch.

3. Một số giải pháp chủ yếu phát triển bền vững ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới

Một là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả các công cụ quản lý của Nhà nước về bảo vệ môi trường, tài nguyên, bảo đảm phát triển du lịch bền vững

Tổ chức thực hiện tốt công tác tuyên truyền pháp luật, chính sách về phát triển du lịch bền vững đến các nhà đầu tư, du khách và mọi người dân trên địa bàn du lịch. Nhà nước cần quản lý chặt chẽ việc cấp phép và hoạt động của các cơ sở kinh doanh du lịch, việc tổ chức và tham gia các hoạt động du lịch, các sự kiện văn hóa, du lịch; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc sử dụng, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường; thực hiện nghiêm quy định về khảo sát, đánh giá tác động môi trường khi đầu tư dự án du lịch; kiên quyết xử lý các dự án phát triển du lịch vi phạm các quy định trong những lĩnh vực này. Tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, các đối tượng tham gia kinh doanh dịch vụ du lịch, khách du lịch, cộng đồng dân cư trong nỗ lực chung để bảo vệ môi trường cho phát triển du lịch.

Kiểm soát chặt chẽ và có những biện pháp hạn chế tác động của các hoạt động kinh tế trong những lĩnh vực khác (xây dựng, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp...) đến môi trường tại các khu, điểm du lịch. Nghiên cứu, xác định giới hạn áp lực của hoạt động du lịch lên tài nguyên, môi trường; theo dõi, kiểm tra thường xuyên việc sử dụng tài nguyên, tránh sử dụng quá mức gây nguy cơ cạn kiệt, suy giảm hoặc xuống cấp nghiêm trọng. Phối hợp kịp thời giữa cơ quan quản lý chuyên ngành về du lịch với các cơ quan, các ngành chức năng liên quan trong việc khắc phục sự cố, tình trạng suy thoái, xuống cấp của tài nguyên du lịch.

Hoàn thiện hệ thống nội quy, quy chế, quy định về bảo vệ môi trường tại các khu, điểm du lịch. Xây dựng quy chế quản lý khách du lịch, nội quy lễ hội, các bộ quy tắc ứng xử..., tuyên truyền để du khách tôn trọng và có thái độ ứng xử văn hóa với các tài nguyên du lịch nhân văn; đồng thời nâng cao nhận thức, ý thức giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống, môi trường xã hội, truyền thống của cộng đồng khi tham gia hoạt động du lịch. Đôn đốc, giám sát thường xuyên các cơ sở thực hiện đầy đủ các quy định, quy chế bảo vệ môi trường trong các hoạt động du lịch.

Hai là, tăng cường bố trí nguồn lực, thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch bền vững

Tiến hành điều tra, đánh giá tổng thể về hiện trạng của sản phẩm du lịch quốc gia, từ đó xây dựng quy hoạch phát triển ngành du lịch bám sát nhu cầu của thị trường, đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của du khách.

Chú trọng đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, điện, nước, môi trường, bưu chính viễn thông, hạ tầng các ngành, lĩnh vực liên quan trực tiếp đến phát triển du lịch như ngân hàng, tài chính, tín dụng, y tế,... để tăng cường khả năng tiếp cận điểm đến của du khách, đồng thời tạo sự liên kết chuỗi tài nguyên du lịch cũng như sự liên kết giữa du lịch với các ngành khác.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng lớn, công trình du lịch trọng điểm quốc gia. Khuyến khích các dự án đầu tư phát triển du lịch có những cam kết cụ thể về bảo vệ, tôn tạo và phát triển tài nguyên du lịch. Xây dựng Quy chế ưu đãi đầu tư tại các khu, điểm du lịch đặc thù; tạo điều kiện thuận lợi hơn về mặt thủ tục hành chính, cấp phép thành lập doanh nghiệp, cấp phép kinh doanh, đầu tư; đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

Đẩy mạnh thu hút đầu tư cho du lịch phải gắn với việc rà soát, đánh giá, thẩm định năng lực của các nhà đầu tư, chất lượng dự án đầu tư, lựa chọn các nhà đầu tư thực sự có năng lực và có mục đích, chiến lược đầu tư nghiêm túc để bảo đảm tính khả thi và hiệu quả của các dự án. Thực hiện các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đồng thời đi cùng với đôn đốc, kiểm tra thường xuyên việc thực hiện các dự án phát triển du lịch, nhất là việc tuân thủ các nội dung quy hoạch, các cam kết về tiến độ đầu tư; kiên quyết thu hồi các dự án chậm tiến độ quá thời gian cho phép hoặc dự án vi phạm cam kết, quy định để tránh lãng phí các nguồn lực, nhất là nguồn lực đất đai và nguồn tài nguyên du lịch.

Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp kinh doanh du lịch trong thực hiện và tham gia các quy chuẩn về chất lượng sản phẩm du lịch. Xây dựng cơ chế liên kết phát triển sản phẩm giữa ngành du lịch và các ngành liên quan. Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của cộng đồng đối với phát triển sản phẩm du lịch, nhất là đa dạng hóa và khai thác các sản phẩm du lịch đặc sắc của địa phương. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, chú trọng thu hút nguồn vốn từ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cộng đồng dân cư cho đầu tư phát triển du lịch.

Ba là, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch bền vững

Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực du lịch quốc gia nhằm đánh giá đầy đủ số lượng, chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch; khảo sát, đánh giá, dự báo nhu cầu nhân lực du lịch cả trước mắt cũng như dài hạn; xây dựng và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch phù hợp với quy hoạch chung, yêu cầu phát triển và các mục tiêu, định hướng phát triển du lịch.

Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng nhân lực cho bộ máy quản lý và lao động ngành du lịch trên cơ sở thực hiện nghiêm các quy định về tiêu chuẩn chất lượng nhân sự tương ứng với mỗi vị trí công việc và quy trình tuyển dụng. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia, cán bộ, lao động trong ngành du lịch, nhất là các chính sách về xã hội hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch. Thu hút các chuyên gia giỏi, lao động có tay nghề cao từ bên ngoài vào những lĩnh vực ưu tiên hoặc lĩnh vực, công việc mà lực lượng tại chỗ còn mỏng và yếu. Tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế phối hợp, liên kết với các cơ sở đào tạo mở rộng các hình thức đào tạo ngắn hạn, không tập trung, phục vụ nhu cầu vừa học, vừa làm. Hỗ trợ giáo dục cộng đồng, mở các lớp tập huấn các kiến thức về du lịch cho người dân tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch. Tăng cường năng lực đào tạo bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo nhân lực du lịch về: đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và điều kiện giảng dạy, mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các trường, cơ sở, tổ chức đào tạo trong nước và quốc tế có uy tín.

Tổ chức thường xuyên các hoạt động đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành, chú trọng công tác đào tạo phát triển đội ngũ chuyên gia về từng lĩnh vực chuyên sâu của hoạt động du lịch, nhất là về phát triển du lịch bền vững; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước các cấp về du lịch; kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực hành; đặc biệt, nhấn mạnh nội dung giáo dục về bảo vệ tài nguyên, môi trường trong hệ thống chương trình của các cấp độ đào tạo du lịch.

Hỗ trợ đào tạo và hướng dẫn các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm du lịch; đào tạo tay nghề để khôi phục, phát triển nghề cổ truyền tạo điểm tham quan du lịch và sản xuất hàng lưu niệm phục vụ du lịch. Tích cực huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực ngành du lịch, gồm: nguồn ngân sách Nhà nước; các nguồn lực ngoài ngân sách, nhất là vốn xã hội hóa từ các doanh nghiệp du lịch; các nguồn vốn viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài để phát triển đào tạo nhân lực du lịch.

Bốn là, phát triển thị trường, đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá du lịch bền vững

Triển khai ngay việc xây dựng chiến lược, các chương trình, kế hoạch dài hạn và hàng năm về xúc tiến, quảng bá du lịch, nhất là các loại hình du lịch thân thiện với môi trường, du lịch hành trình, du lịch tâm linh, du lịch di sản...; đẩy mạnh hoạt động liên kết nhằm nâng cao hiệu quả tổng hợp trong xúc tiến, quảng bá.

Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với các cơ quan thông tin đại chúng ở Trung ương và các địa phương, cơ quan thông tin đối ngoại, các hiệp hội, hội hữu nghị, cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài để quảng bá hình ảnh của du lịch Việt Nam.

Đẩy mạnh các chương trình hợp tác với các tổ chức quốc tế nhằm mở rộng hoạt động quảng bá du lịch. Đầu tư nguồn kinh phí thoả đáng cho công tác xúc tiến, quảng bá du lịch; mở rộng xã hội hóa công tác quảng bá du lịch, khuyến khích động viên các doanh nghiệp tích cực, chủ động hơn trong công tác quảng bá của doanh nghiệp mình và góp phần quảng bá cho hình ảnh du lịch quốc gia đồng thời tập huấn, hướng dẫn, tuyên truyền giáo dục tính trách nhiệm, trung thực trong hoạt động quảng bá; kiểm tra chặt chẽ các nội dung quảng bá, xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động quảng bá du lịch để bảo đảm uy tín của thương hiệu du lịch Việt Nam.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 539 (tháng 01-2023)

Ngày nhận bài: 04-01-2023; Ngày bình duyệt: 08-01-2023; Ngày duyệt đăng: 27-01-2023.

 

(1) UNEP & UNWTO: Making Tourism More Sustainable - A Guide for Policy Makers, 2005, Page 11-12.

(2) Luật Du lịch 2017, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Luat-du-lich-2017-322936.aspx .

Tài liệu tham khảo:

1. A. Machado (2003): Tourism and Sustainable Developemnt, Capacity Building for Tourism Development in VietNam, VNAT and FUDESO, VietNam.

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014): Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

3. Chính phủ Việt Nam (2020): Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030.

4. Tổ chức du lịch Liên hợp quốc (UNWRTO): Các thuật ngữ về du lịch, https://www.unwto.org/glossary-tourism-terms, 2008.

PGS, TS NGUYỄN MẠNH HÙNG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền