Trang chủ    Bài nổi bật    Đối sách của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông
Thứ hai, 24 Tháng 7 2017 17:52
624 Lượt xem

Đối sách của Việt Nam trong việc giải quyết tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông

(LLCT) - Chủ trương nhất quán của Việt Nam là giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. 

Cùng với những thành tựu to lớn về kinh tế đã đạt được trong những năm tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới sau Mỹ kể từ năm 2010, Trung Quốc đang tìm cách khẳng định vai trò nước lớn của mình, trước hết là ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Một trong những động thái khẳng định vai trò này là việc Trung Quốc đang tìm mọi cách vươn lên trở thành cường quốc biển, trong đó có chính sách độc chiếm Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, ngày 7-5-2009, Trung Quốc gửi công hàm tới Tổng Thư ký Liên Hợp quốc và kèm theo một tấm bản đồ có vẽ 9 đoạn đứt khúc (còn gọi là “đường chữ U” hay “đường lưỡi bò”) thể hiện yêu sách bao chiếm gần như toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế thừa nhận “vùng biển lịch sử” của họ được bao chiếm bởi “đường lưỡi bò”. Đường “lưỡi bò”, “chữ U” hay “đứt đoạn”... là những cách gọi khác nhau mà các học giả trên thế giới dùng để chỉ yêu sách của Trung Quốc đối với 80% diện tích của Biển Đông, được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ven Biển Đông như Việt Nam, Inđônêxia, Malaixia, Brunây, Philíppin.

Đường yêu sách này ban đầu có 11 đoạn, do chính quyền Trung Quốc (Quốc dân Đảng) vẽ ra vào năm 1947 và sau đó được Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tiếp tục sử dụng nhưng có sửa đổi (bỏ bớt hai đoạn trong vịnh Bắc Bộ nên chỉ còn lại 9 đoạn). Với Công hàm ngày 7-5-2009 kèm theo bản đồ “đường lưỡi bò”, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận tính chất lịch sử của “đường lưỡi bò” và mặc nhiên coi Biển Đông là vùng biển lịch sử của Trung Quốc. Về lâu dài, sự nhập nhằng này sẽ khiến “đường lưỡi bò” được ngộ nhận là đường biên giới trên biển của Trung Quốc. Trung Quốc cũng khéo léo kết hợp đường này với các khái niệm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Luật Biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Trường Sa. Như vậy, toàn bộ Biển Đông sẽ trở thành “ao nhà” của Trung Quốc.

Đứng trên phương diện pháp lý quốc tế, yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc thiếu cả hai điều kiện: 1/ Phải thực thi chủ quyền thật sự liên tục, hòa bình và lâu dài; 2/ Phải có sự chấp nhận công khai hoặc im lặng không phản đối của các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia láng giềng và có lợi ích liên quan. Do vậy, yêu sách “đường lưỡi bò” đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ không chỉ của các nước liên quan mà còn là sự thách thức đối với quyền lợi hàng hải, hàng không của cộng đồng quốc tế. Cộng đồng thế giới chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách chiếm cứ hầu hết toàn bộ Biển Đông như vậy và sẽ không bao giờ chấp nhận một vùng biển lớn, con đường hàng hải quốc tế quan trọng vào loại nhất, nhì thế giới lại nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một quốc gia như yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc.

Trung Quốc luôn tuyên bố muốn có hòa bình, ổn định và chủ trương giải quyết các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình nhưng trên thực tế là ngược lại. Trung Quốc đã và đang tiến hành các hoạt động bằng vũ lực để độc chiếm Biển Đông. Đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, năm 1956, Trung Quốc chiếm các đảo phía Đông quần đảo Hoàng Sa và năm 1974 chiếm các đảo còn lại ở phía Tây quần đảo này. Năm 1988, Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự chiếm 1 số đảo, bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Những năm gần đây, Trung Quốc tăng cường các hoạt động, kể cả các hoạt động quân sự nhằm áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” chiếm gần trọn diện tích Biển Đông, bất chấp quyền lợi của các nước trong khu vực cũng như chính các điều luật quốc tế mà họ đã công nhận và ký kết. Đó là việc ngày 26-5 và 9-6-2011, tàu Trung Quốc đã hai lần xâm nhập cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam hoạt động trong vùng biển chủ quyền Việt Nam (Ngày 27-5-2011, Việt Nam gửi Công hàm cho Đại sứ Trung Quốc tố cáo Trung Quốc vi phạm Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển và quyền chủ quyền của Việt Nam ngay trong khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam). Không dừng lại ở các hoạt động này, với bản chất của cường quyền nước lớn, bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý và chủ quyền của các nước có liên quan, trong đó có Việt Nam, từ đầu tháng 5-2014, Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 cùng tàu thuyền, máy bay hộ tống vào sâu trong vùng biển của Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Trước sự phản đối một cách kiên quyết của Việt Nam và cộng đồng quốc tế, Trung Quốc buộc phải rút HD 981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Tuy nhiên, Trung Quốc lại tiếp tục thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông bằng việc chính quyền Bắc Kinh liên tục có các hành động bồi đắp, xây dựng và quân sự hóa các đảo, đá ở Biển Đông, bất chấp phản đối của các nước trong khu vực cùng dư luận quốc tế. Trung Quốc đã hoàn tất việc xây dựng trái phép 7 “đảo nhân tạo” ở Biển Đông, cùng với đó là việc triển khai các tổ hợp tên lửa HQ 9 tại đảo Phú Lâm trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Ngày 11-4-2015, Trung Quốc đã điều chiến đấu cơ J-11 ra Phú Lâm. Việc bồi đắp, quân sự hóa các địa điểm chiến lược trên Biển Đông, Trung Quốc đang thực hiện tham vọng đuổi các nước khỏi vùng lãnh thổ đang tranh chấp, tuyên bố lập Vùng Nhận diện Phòng không (ADIZ) bao trùm toàn bộ hoặc phần lớn Biển Đông.

Một số hành động nêu trên của Trung Quốc cho thấy, Trung Quốc lúc ngấm ngầm, lúc công khai đang tìm mọi cách độc chiếm Biển Đông, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Trước những hành động cường quyền nước lớn của Trung Quốc, Nhà nước Việt Nam, một mặt,khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; mặt khác,chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế về thềm lục địa. Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, quan điểm của Việt Nam là các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Điều đó đã được thể hiện ngay sau khi Chính phủ Việt Nam tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (12-5-1977) là Chính phủ Việt Nam cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay, để bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, trong đó có việc giải quyết vấn đề Biển Đông, Việt Nam đã ký các Hiệp định, thỏa thuận song phương giữa Việt Nam và các nước liên quan như: Hiệp định về Vùng nước lịch sử với Campuchia (1982); thỏa thuận khai thác chung với Malaixia (1992); Hiệp định phân ranh giới biển với Thái Lan (1997); Hiệp định phân định vịnh Bắc bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá với Trung Quốc (2000); Hiệp định phân định thềm lục địa với Inđônêxia (2003); Việt Nam đã thực hiện các cơ chế đối thoại và hợp tác về chính trị - an ninh khu vực, nhất là Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng với các đối tác quan trọng (ADMM +), Hội nghị những người đứng đầu các cơ quan an ninh ASEAN (MACOSA) và Diễn đàn Biển ASEAN (AMF), Việt Nam còn tăng cường các hoạt động tham kiến về đối sách trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông:

1. Tham kiến với các nước trong ASEAN nhằm sớm hoàn thành dự thảo và thông qua Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC)

Chủ trương nhất quán của Việt Nam là giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổn định trên cơ sở giữ nguyên trạng không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Để ngăn chặn những hành động đơn phương có thể tạo nên căng thẳng, ngay từ năm 2010, Việt Nam và 9 nước thành viên còn lại trong ASEAN đã cùng với Trung Quốc bắt đầu thảo luận một Bộ Quy tắc hướng tới việc tránh xung đột giữa các bên đưa ra yêu sách ở Biển Đông. Sau các cuộc tham kiến giữa Việt Nam và các nước khác trong ASEAN, tại cuộc họp lần thứ 6 Quan chức Cao cấp (SOM) ASEAN - Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 9 Nhóm Công tác chung ASEAN - Trung Quốc về triển khai Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) diễn ra trong hai ngày 14 và 15-9-2013, tại thành phố Tô Châu, Trung Quốc, ngoài việc định kỳ kiểm điểm và thúc đẩy thực hiện DOC, ASEAN và Trung Quốc đã tham vấn chính thức ở cấp SOM về việc xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Cũng tại cuộc họp này, ASEAN và Trung Quốc nhấn mạnh tầm quan trọng của bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông và sự cần thiết phải xây dựng COC. Quan điểm của Việt Nam sau tham kiến được các thành viên khác của ASEAN đồng tình ủng hộ là cần sớm có COC mang tính ràng buộc và quy định tổng thể các quy tắc, hành vi ứng xử của các bên nhằm bảo đảm hòa bình, an ninh, an toàn hàng hải, ngăn ngừa và quản lý xung đột, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tuân thủ Luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Cũng với cách tiếp cận này, ngày 9-6-2016, cuộc họp lần thứ 12 các quan chức Cao cấp ASEAN-Trung Quốc (SOM) về thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và tham vấn về xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) được tổ chức tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh dưới sự đồng chủ trì của Trung Quốc và Xinhgapo, nước điều phối quan hệ ASEAN - Trung Quốc. Tại cuộc họp, các nước ASEAN bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây tại Biển Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông và sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với tình hình Biển Đông thời gian gần đây. Các nước ASEAN và Trung Quốc tái khẳng định tầm quan trọng và cam kết thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC nhằm tăng cường tin cậy và thúc đẩy hợp tác thực tiễn, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông, nhất là Điều 4 về giải quyết hòa bình các tranh chấp, Điều 5 về tự kiềm chế, Điều 6 về thúc đẩy hợp tác và Điều 10 về xây dựng COC.

Trong tham vấn xây dựng COC, các nước lần đầu tiên trao đổi về bản chất của COC, cách tiếp cận xây dựng COC, thời gian hoàn thành và đề cương COC. Các nước cũng nhất trí đẩy mạnh thực hiện các biện pháp “thu hoạch sớm”, trong đó có việc sớm hoàn tất tài liệu hướng dẫn để đưa vào vận hành đường dây nóng giữa các quan chức ngoại giao ASEAN và Trung Quốc về ứng phó các sự cố khẩn cấp trên biển cũng như hoàn tất xây dựng Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về thực hiện Bộ quy tắc ứng xử để tránh va chạm bất ngờ trên biển (CUES) tại Biển Đông.

2. Tham kiến với Philíppin về việc thực thi phán quyết ngày 12-7-2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) công bố tại Lahay về yêu sách của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông

Cho đến nay, Việt Nam chưa khởi kiện Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông và cân nhắc tìm cách tiếp cận có lợi nhất trong việc giải quyết tranh chấp này. Tuy nhiên, thắng lợi của Philíppin sẽ tạo điều kiện để Việt Nam có thể dùng tới điều chỉnh của pháp luật quốc tế để đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền ở Biển Đông trước hành động của Trung Quốc khi cần thiết.

Ngay sau khi Tòa Trọng tài Thường trực ra Phán quyết cuối cùng ngày 12-7-2016, bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về bản đồ “đường lưỡi bò”, Việt Nam tuyên bố hoan nghênh phán quyết và khẳng định lập trường nhất quán của mình về vụ kiện này như đã được thể hiện đầy đủ trong Tuyên bố ngày 5-12-2014 của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Tòa Trọng tài. Trên tinh thần đó, Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương. Cũng nhân sự kiện này, Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như tất cả các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam liên quan đến các cấu trúc địa lý thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cùng với các Tuyên bố của mình, Việt Nam đã và đang tham kiến, phối hợp với Philíppin trong đấu tranh chống các hoạt động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển, đảo của hai nước ở Biển Đông. Tại buổi tiếp Bộ Trưởng Ngoại giao Philíppin Del Rosario (7-2014), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng không có cách nào khác, các nước có chủ quyền trên Biển Đông, các nước ASEAN phải đấu tranh, ngăn chặn hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, kể cả đưa vụ việc ra các cơ quan tài phán quốc tế; kêu gọi cộng đồng quốc tế phê phán, phản đối Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động gây hấn, vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm DOC, yêu cầu Trung Quốc thực thi nghiêm túc DOC tiến tới ký kết COC.

Tại buổi tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Philíppin Jose Almendras, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đề nghị Chính phủ hai nước duy trì các chương trình phối hợp chung; tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường tình đoàn kết, thống nhất cũng như vai trò của ASEAN trong việc duy trì hòa bình và hợp tác trên Biển Đông; thực hiện nghiêm túc DOC tiến tới đàm phán, hoàn tất COC. Về phần mình, Ngoại trưởng Philíppin Jose Almendras khẳng định hai nước cần tăng cường hơn nữa các chương trình hợp tác trên biển, đồng thời cam kết Philíppin sẽ tiếp tục hợp tác đầy đủ, có trách nhiệm với Việt Nam trong vấn đề này. 

Ngoài ra, Việt Nam cũng trao đổi, tham kiến với phía Philíppin về quá trình kiện Trung Quốc trước tham vọng độc chiếm Biển Đông của nước này cũng như những vấn đề cần phối hợp giữa hai nước trong thời gian tới nhằm thực thi Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực ngày 12-7-2016 về việc bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về bản đồ “đường lưỡi bò” ở Biển Đông.

3. Tham kiến với Nhật Bản trong giải quyết tranh chấp giữa Nhật Bản với Trung Quốc về chủ quyền quần đảo Senkaku (Điếu Ngư)

Việt Nam luôn khẳng định Nhật Bản và Trung Quốc là hai nước lớn có tầm quan trọng và ảnh hưởng hàng đầu trong khu vực, đồng thời cũng là hai đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam. Việt Nam mong muốn Nhật Bản và Trung Quốc xử lý thỏa đáng những bất đồng còn tồn tại trong quan hệ hai nước thông qua đối thoại, trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Việt Nam cho rằng việc Nhật Bản và Trung Quốc duy trì quan hệ hòa bình có ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định và phát triển trong khu vực, phù hợp với lợi ích chung của hai nước, mong muốn hai nước tiếp tục phát huy vị thế của mình, đóng góp cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Liên quan đến vấn đề quần đảo Senkaku  (Điếu Ngư) giữa Nhật Bản và Trung Quốc, về tổng thể, Việt Nam mong muốn hai nước giải quyết ổn thỏa bất đồng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Thông qua các cuộc tiếp xúc, tham kiến với phía Nhật Bản, Việt Nam có thể rút ra những kinh nghiệm trong xử lý tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

So sánh việc tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) giữa Trung Quốc và Nhật Bản với tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc với Việt Nam, có thể thấy một số điểm giống và khác nhau. Giống là việc Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền bằng việc khẳng định mối liên hệ lịch sử đối với quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) và quyền lịch sử (vùng nước lịch sử) ở Biển Đông. Khác là, “lịch sử” trong trường hợp quần đảo Senkaku có thể được thảo luận theo quan điểm luật pháp quốc tế, còn từ “lịch sử” trong tranh chấp Biển Đông không thể thảo luận theo quan điểm đó, vì luật pháp quốc tế không công nhận sự tồn tại của vùng nước lịch sử, ngoại trừ trường hợp các bên sở hữu hợp pháp cùng thừa nhận. Điều này có nghĩa hai cách sử dụng từ “lịch sử” là khác nhau.

Một điểm khác ở Biển Đông, đặc biệt vùng nước xung quanh quần đảo Trường Sa, là mục tiêu của 6 bên tuyên bố chủ quyền. Đây là tranh chấp chủ quyền đa phương và các cuộc thảo luận đa phương đang được các bên nỗ lực hướng tới. Ở biển Hoa Đông, hầu như các tranh chấp là song phương và vấn đề lớn nhất là quần đảo Senkaku.

Từ thực tế đó, Việt Nam có thể rút ra một số bài học trong đấu tranh chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc như sau:

- Về vùng nước bên trong “đường lưỡi bò ” mà Trung Quốc đưa ra và gọi là “vùng nước lịch sử”, Việt Nam phải tiếp tục bác bỏ yêu sách quyền tài phán của Trung Quốc đối với vùng nước được bao quanh “đường lưỡi bò” (yêu sách này của Trung Quốc đã được Phán quyết ngày 12-7-2016 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) công bố tại Lahay bác bỏ). Vì khái niệm về vùng nước lịch sử không thể tìm thấy trong luật pháp quốc tế. Nếu Trung Quốc vẫn giữ nguyên quan điểm của mình thì phải giải thích yêu sách đó trên cơ sở luật pháp quốc tế. Hơn nữa, vùng nước lịch sử không được hiểu là vùng nước thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) bởi chúng bao gồm một số đá và bãi ngầm.

- Về việc Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động cải tạo bồi đắp bãi đá, rạn san hô trong thời gian gần đây, Việt Nam cần theo dõi sát phản ứng của Trung Quốc đối với yêu sách của Nhật Bản trọng vụ Okinotori shima để có những lập luận sắc bén trong đấu tranh phản đối những hành động tôn tạo bãi đảo trái phép của Trung Quốc tại Biển Đông. Trên thực tế, Trung Quốc đã cáo buộc việc Nhật Bản ngày 1-10-2014 mở rộng thềm lục địa đảo Okinotori 3000 km2 về phía Bắc và 174.000km2 về phía Nam là hành động không theo căn cứ quy định của Liên Hợp quốc về việc mở rộng thềm lục địa và gây tổn hại đến lợi ích của các nước, trong đó có Trung Quốc. Đồng thời, truyền thông Trung Quốc cũng tố cáo Nhật Bản liên tục bố trí quân đội, trang thiết bị quân sự ở các đảo phía Tây Nam với mục đích nhằm vào Trung Quốc. Trước đó năm 2009, Trung Quốc đã gửi Công hàm phản đối việc Nhật Bản lấy đảo Okinotori làm điểm cơ sở để mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lý vì Trung Quốc lập luận rằng đảo Okinotori chỉ là bãi đá ngầm, không phải là nơi cư dân có thể sinh sống, cũng không thể duy trì đời sống kinh tế riêng. Vì vậy, Việt Nam cần: 1/ Trên thực địa, tiếp tục theo dõi sát và công khai hóa bằng chứng về các hoạt động của Trung Quốc trong việc cơi nới, mở rộng, xây dựng cấu trúc tại các đảo, bãi ở quần đảo Trường Sa, nhất là tại các địa điểm chưa có nước nào quản lý; đồng thời chủ động lực lượng để ngăn chặn, cản phá các hành vi gây hấn mới của Trung Quốc; 2/ Kịp thời thông qua các kênh ngoại giao, kênh Đảng và giao thiệp trực tiếp giữa các Bộ, ngành, địa phương hai nước để trao đổi, xử lý ổn thỏa các vụ việc nảy sinh, tránh để leo thang thành xung đột quân sự; 3/ Tiếp tục vận động dư luận quốc tế, nhất là Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN... phát huy tiếng nói mạnh mẽ hơn nữa trong vấn đề Biển Đông, duy trì sức ép, buộc Trung Quốc phải hạn chế các hành động gây hấn trên biển; 4/ Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chứng cứ lịch sử, pháp lý của Việt Nam ra bên ngoài; ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực ngày 12-7-2016 về việc bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về bản đồ “đường lưỡi bò” ở Biển Đông, kêu gọi các bên liên quan nghiêm chỉnh thực hiện DOC và đẩy nhanh đàm phán xây dựng COC; 5/ Nâng cao tiềm lực quân sự và chấp pháp biển; hỗ trợ về vật chất, phương tiện, ban hành thêm các biện pháp hiệu quả cho lực lượng này.

- Về vấn đề ngư dân, vụ va chạm giữa tàu cá Trung Quốc với tàu tuần tra Nhật Bản đã tạo thêm thế và lập luận cho Việt Nam để đấu tranh với Trung Quốc trong vấn đề ngư dân và tàu cá Việt Nam bị phía Trung Quốc bắt giữ, buộc Trung Quốc phải thả vô điều kiện tàu cá và ngư dân Việt Nam khi đang hoạt động ở ngư trường hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Đặc biệt, trong quan hệ với Nhật Bản, Việt Nam cần tiếp tục tích cực trao đổi với Nhật Bản về tình hình Biển Đông, vận động Nhật Bản ủng hộ quan điểm của Việt Nam về tự do và an toàn hàng hải, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt UNCLOS 1982, tuân thủ DOC, sớm xây dựng COC của Việt Nam và đề nghị nước bạn phản đối yêu sách đường lưỡi bò của Trung Quốc. Việc vận động của Việt Nam đã phát huy hiệu quả khi Nhật Bản ủng hộ quan điểm của Việt Nam một cách rõ ràng, mạnh mẽ hơn tại các cuộc gặp song phương cũng như tại diễn đàn đa phương. Trong thời gian tới, Việt Nam, một mặt,cần phối hợp, tranh thủ hơn nữa sự ủng hộ của phía Nhật Bản về quan điểm của Việt Nam về tranh chấp ở Biển Đông; mặt khác,cần tăng cường quan hệ hợp tác với Nhật Bản cả cơ chế đối thoại và nâng cao năng lực cho lực lượng chấp pháp trên biển của Việt Nam, chia sẻ kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp biển đảo giữa Nhật Bản và Trung Quốc...

Với sự điều chỉnh chính sách của chính quyền mới Nhật Bản, khả năng Nhật Bản sẽ tăng cường hợp tác với Việt Nam về các vấn đề trên biển nhiều hơn nữa. Việt Nam cần tranh thủ trao đổi thông tin về các vấn đề trên biển, đẩy mạnh phối hợp lập trường tại các diễn đàn đa phương như ARF, ADMM+, EAS, thúc đẩy nước bạn nhanh chóng hỗ trợ nâng cao năng lực chấp pháp trên biển cho Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh quan hệ Trung - Nhật nhiều khả năng tiếp tục căng thẳng kéo dài, đây là vấn đề nhạy cảm đối với quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, do vậy việc đẩy mạnh hợp tác về vấn đề Biển Đông với Nhật Bản, thành lập cơ chế trao đổi thông tin, yêu cầu Nhật Bản tăng cường năng lực chấp pháp trên biển cho Việt Nam cần thực hiện khéo léo, cân nhắc trong tuyên truyền, không để vấn đề này ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017

 

PGS, TS Phan Văn Rân

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác