Trang chủ    Bài nổi bật    Bàn thêm về thiết chế Đảng cầm quyền ở nước ta
Thứ hai, 25 Tháng 9 2017 11:12
94 Lượt xem

Bàn thêm về thiết chế Đảng cầm quyền ở nước ta

(LLCT) - Thiết chế (thể chế) là “Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”(1). Thiết chế chính trị là những quy định bằng văn bản pháp luật hoặc sự đồng thuận với những cam kết mang tính nguyên tắc của các tổ chức trong hệ thống chính trị (các đảng phái, tổ chức chính trị - xã hội) nhằm duy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền.

Thiết chế Đảng Cộng sản (ĐCS) cầm quyền không chỉ là những quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động của hệ thống tổ chức của Đảng (Điều lệ Đảng), quy định về mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở tất cả các cấp (Quy chế làm việc) mà còn là những quy định của Nhà nước về hoạt động của Đảng (Hiến pháp, pháp luật).

Thiết chế ĐCS cầm quyền hình thành, tồn tại và phát triển là do yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, nhằm đáp ứng nhu cầu của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Song, thiết chế ĐCS cầm quyền cũng có sự độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với mọi hoạt động của hệ thống chính trị và cơ sở kinh tế - xã hội. Vì vậy, thiết chế ĐCS cầm quyền không chỉ quy định hiệu quả hoạt động của chính bản thân Đảng mà còn tác động trực tiếp đến sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự vận động của xã hội, đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội.

Thiết chế ĐCS cầm quyền được tổ chức thành hệ thống bộ máy và được vận hành theo các nguyên tắc, quy tắc, phương châm, quy trình mang tính khuôn mẫu, chuẩn mực với sự đồng thuận cao của các thành viên trong tổ chức và được xã hội thừa nhận. Các yếu tố tạo thành thiết chế ĐCS cầm quyền phải kết hợp lại với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, không cản trở nhau và phục vụ tốt nhất cho mục tiêu chung của từng tổ chức thành viên và cả hệ thống chính trị. Như vậy, thiết chế ĐCS cầm quyền vừa bảo đảm hoạt động của bản thân Đảng vừa bảo đảm tính thống nhất của cả hệ thống chính trị. Việc thực hiện nghiêm túc các thiết chế ĐCS cầm quyền sẽ khích lệ và phát huy sự sáng tạo của từng thành viên trong tổ chức và các thành viên trong cả hệ thống chính trị.

Tuy nhiên, thiết chế ĐCS cầm quyền cũng mang tính bảo thủ, trì trệ, thậm chí luôn có khuynh hướng duy trì những khuôn mẫu có sẵn (cho dù đã lạc hậu, lỗi thời), cản trở sự phát triển của cả hệ thống chính trị, cản trở sự tiến bộ của xã hội. Khi đó, nếu không kiểm soát và điều chỉnh các quan hệ của thiết chế có thể dẫn tới tình trạng các cá nhân, tổ chức không thực hiện tốt vai trò, thậm chí trốn tránh trách nhiệm của mình. Kết quả là hoạt động của từng thành tố hoặc toàn bộ hệ thống chính trị rơi vào tình trạng đình trệ. Vì vậy, khi xã hội càng phát triển, tính phức tạp ngày càng cao của các thiết chế của mỗi thành tố trong hệ thống chính trị thì thiết chế ĐCS cầm quyền phải luôn được bổ sung, hoàn thiện, thích ứng với thực tiễn.

Đối với thể chế chính trị XHCN ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của ĐCS được xác định trong văn bản pháp lý cao nhất của Nhà nước là Hiến pháp. Lời mở đầu Hiến pháp năm 1959, Điều 4, Hiến pháp năm 1980, 1992 và 2013 khẳng định: ĐCS là lực luợng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm truớc Nhân dân về các quyết định của mình; các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam 87 năm qua ghi nhận vai trò là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, khẳng định vị thế cầm quyền của ĐCS. “Là đảng cầm quyền, Đảng phải quan tâm tất cả, phải chịu trách nhiệm về hết thảy mọi việc có quan hệ đến vận mệnh của đất nước, đến quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Đảng không bao biện công tác chỉ đạo hàng ngày của chính quyền, nhưng trên tất cả mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, không có việc gì mà Đảng không cần xem xét đến, phân tích, có chủ trương và phương hướng chỉ đạo”(2).

Đồng thời, nguy cơ của Đảng cầm quyền cũng đã được Hồ Chí Minh thường xuyên cảnh báo và Đảng ta cũng sớm nhận thức rõ. Đại hội IV (12-1976) chỉ rõ: “quan liêu, cửa quyền, xa thực tế, xa quần chúng là nguy cơ của một đảng cầm quyền, là nguồn gốc của biết bao hư hỏng”(3).

Đại hội VIII khẳng định: “Đảng ta là đảng cầm quyền”, do đó “Đảng lãnh đạo phát huy mạnh mẽ vai trò và hiệu lực của Nhà nước chứ không điều hành thay Nhà nước. Đảng và mọi đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình”(4). Đại hội Đảng các khóa tiếp theo đều tiếp tục khẳng định phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, trong đó phải tập trung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: “Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”(5).

Hệ thống tổ chức của Đảng được xác lập tương ứng với hệ thống tổ chức của Nhà nước để thực hiện vai trò lãnh đạo các tổ chức Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội. Các Nghị quyết Trung ương 5 khóa VI, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 7 khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 5 khóa X và Nghị quyết Trung ương 7 khóa XIđã cụ thể hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, xây dựng và hoàn thiện bộ máy tổ chức của cả hệ thống chính trị.

Vì thế, hệ thống tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác của hệ thống chính trị đến nay cơ bản được thực hiện thống nhất. Thành lập các tổ chức đảng (đảng bộ, chi bộ) và trong các cơ quan nhà nước (Đảng đoàn Quốc hội, đảng đoàn hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ và cơ quan ngang bộ, ban cán sự đảng ủy ban nhân dân cấp tỉnh; ban cán sự đảng viện kiểm sát nhân dân và tòa án nhân dân từ cấp tỉnh trở lên). Bên cạnh đó, Đảng đã có nhiều nghị quyết, chủ trương, quy định về kiện toàn các tổ chức đảng ủy khối cơ quan, doanh nghiệp từ cấp huyện đến Trung ương, tổ chức cơ sở đảng ở các loại hình cơ sở (hơn 10 năm qua, Ban Bí thư đã ban hành trên 30 quy định về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng).

Đã có sự đổi mới cơ chế, xây dựng, hoàn thiện các nguyên tắc, quy chế, quy định về các mối quan hệ công tác, lề lối làm việc giữa cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó nguyên tắc tổ chức cơ bản là tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được thực hiện không chỉ trong hệ thống tổ chức của Đảng, mà còn được thực hiện trong hệ thống tổ chức các cơ quan nhà nước và các đoàn thể nhân dân (trừ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Cùng với việc nhất quán khẳng định nguyên tắc đó, Đảng ta đã có nhiều đổi mới trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy định để phân định, giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Các cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ở các cấp giúp cấp ủy trong lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từng bước được kiện toàn. Trong nhiệm kỳ khóa X và XI, Đảng ta đã tiến hành đổi mới, kiện toàn, thành lập lại một số ban đảng ở Trung ương và địa phương, ban hành Quyết định số 222-QĐ/TW ngày 8-5-2009 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu giúp việc tỉnh ủy, thành ủy nay là Quy định số 219-QĐ/TW, ngày 27-12-2013 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy”.

Hệ thống tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang (quân đội, công an) khá ổn định, vững chắc với nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt trong Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” ngày càng được hoàn thiện và tập trung vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trải qua các giai đoạn cách mạng với các nhiệm vụ cách mạng khác nhau, phương thức lãnh đạo của Đảng cũng có sự đổi mới. Thiết chế của Đảng cầm quyền cũng có sự chuyển hướng từ chế độ, mối quan hệ, lề lối làm việc mang nặng tính sự vụ, thiếu quy chế và chương trình cụ thể sang chế độ làm việc có nền nếp hơn, khoa học hơn với quy chế và chương trình tương đối nhịp nhàng, thống nhất giữa Đảng và Nhà nước.

Tuy vậy, cho đến nay, thiết chế về xây dựng nội bộ Đảng trong nhiều khâu vẫn chưa cụ thể, thiếu tính khả thi. Việc mở rộng và thực hành dân chủ trong Đảng chưa có chuyển biến đáng kể. Không ít nơi dân chủ hình thức, lợi dụng “tập thể” để hợp thức hóa ý kiến của thủ trưởng, mà thực chất là gia trưởng, độc đoán. Quyền bảo lưu ý kiến chưa được coi trọng trên thực tế. Nhiều cán bộ lãnh đạo chưa quen với những thông tin ngược chiều, không thích, thậm chí có ác cảm với người có ý kiến khác với ý kiến của mình. Mặt khác, lại có tình trạng dân chủ không đi đôi với kỷ luật; kỷ cương không nghiêm. Còn thiếu những cơ chế cụ thể có hiệu lực bảo đảm tính khả thi của việc phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Có những quy định trong Điều lệ Đảng, trong các quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương và các cấp ủy không được chấp hành nghiêm túc. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” trên thực tế ở nhiều nơi rơi vào hình thức, do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Còn tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Thiết chế về mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước vừa chưa rõ, vừa chồng chéo:Tình trạng tổ chức đảng, cá nhân người đứng đầu cấp ủy “lấn sân”, bao biện, làm thay công việc của chính quyền, can thiệp quá sâu và cụ thể vào công việc của các cơ quan nhà nước, làm suy giảm tính chủ động, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước. Thái cực khác là tình trạng buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng, coi nhẹ vai trò của tổ chức đảng, nhất là ở tổ chức đảng trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, làm cho vai trò của tổ chức đảng mờ nhạt, thậm chí có khi sự lãnh đạo của tổ chức đảng còn là bình phong che chắn cho những tiêu cực, tham nhũng. Chậm ban hành những quy định cụ thể về phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, về mối quan hệ công tác giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị. Chức năng, nhiệm vụ của đảng đoàn, ban cán sự đảng chưa được xác định rõ ràng, cụ thể nên hoạt động còn lúng túng. Chưa thực sự coi trọng đổi mới phong cách, lề lối làm việc; tình trạng họp hành nhiều, nói chưa đi đôi với làm, nói nhiều, làm ít, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu gương mẫu còn diễn ra ở nhiều nơi.

Thiết chế về mối quan hệ giữa Đảng với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội vừa chưa rõ, vừa mang tính áp đặt. Chưa cụ thể hóa mối quan hệ lãnh đạo và mối quan hệ thành viên của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc, nhất là trong hoạt động hiệp thương nhân sự trong bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Quy chế về mối quan hệ lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đang là một trong những nguyên nhân làm cho đoàn thể chính trị thụ động, trông chờ, “hành chính hóa”.

Nhằm ngày càng hoàn thiện thiết chế đảng cầm quyền, những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu công phu, sâu sắc hơn, đó là:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao trong đổi mới chính trị mà trọng tâm là xây dựng thể chế đảng cầm quyền trong điều kiện mới

Đây là vấn đề khó khăn, phức tạp nhất bởi chính sự chi phối lợi ích của tất cả các thành viên trong hệ thống chính trị. Hơn 30 năm đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới chính trị vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra và chưa tương xứng với đổi mới kinh tế. Trong khi vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ngày càng tăng nhưng quyền hạn, trách nhiệm của Đảng trong mối quan hệ với Nhà nước và các thành viên khác trong hệ thống chính trị chưa được cụ thể hóa. Một trong những nguyên nhân của khuyết điểm nêu trên là tâm lý ngại đổi mới, đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm, nhất là về bộ máy tổ chức, con người. Thậm chí những ý kiến, sáng kiến đổi mới về lĩnh vực này lại dễ bị quy chụp, cùng với những tác động tiêu cực của “tư duy nhiệm kỳ” nên ít người có trách nhiệm “mặn mà” với đổi mới chính trị.

Do vậy, phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và tính tất yếu phải có những đổi mới về thể chế Đảng cầm quyền. Đây không chỉ là việc Hiến pháp ghi nhận mà thực tế, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đặc biệt là khi giành được chính quyền năm 1945. Hơn nữa, trong điều kiện đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì yêu cầu Đảng cầm quyền thông qua Nhà nước cần phải đặt ra và giải quyết thấu đáo theo hướng tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Thể chế đảng cầm quyền sẽ được xây dựng chủ yếu thông qua tổ chức đảng (cấp ủy, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng viên là lãnh đạo chủ chốt trong cơ quan nhà nước). Luật pháp của Nhà nước và hiệu lực, hiệu quả thực thi luật pháp đó phải được coi là thước đo hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng. Vì thế, phải tinh giản bộ máy tổ chức của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội một cách tinh gọn nhất. Đảng cần có cơ quan tham mưu, giúp việc nhưng cơ chế hình thành các cơ quan này cũng phải đổi mới, tránh “hành chính hóa” ngay cả bản thân bộ máy của Đảng cũng như các đoàn thể nhân dân.

Thứ hai, xây dựng, hoàn thiện thiết chế xây dựng Đảng

Xây dựng và hoàn thiện các quy định mang tính pháp lý cao về hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu tổ chức đảng đang là yêu cầu cấp bách.

Thiết chế trong xây dựng Đảng là những quy định - thực chất là những cam kết mang tính tự nguyện của đảng viên về các nguyên tắc, quy tắc, quy định,... trong các hoạt động lãnh đạo của Đảng và xây dựng nội bộ Đảng.

Thiết chế trong lãnh đạo, xây dựng nội bộ đảng đòi hỏi phải bảo đảm 3 yếu tố: trước hết phải có quy định (cơ quan ban hành văn bản chính trị, “pháp lý” như nghị quyết, chỉ thị, quy định...), thứ hai, phải thực hiện đúng quy định (tổ chức đảng, đảng viên thực hiện); thứ ba, phải xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm quy định (cơ quan kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng). Theo đó, việc nghiên cứu, quy định quá trình hình thành tổ chức, cơ cấu thành viên tổ chức và chức năng nhiệm vụ của tổ chức đều phải tính đến việc bảo đảm tính khách quan, tính độc lập tương đối của các tổ chức đó, tránh mọi biểu hiện cản trở, kìm hãm việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo điều lệ của từng tổ chức.

Quy chế hóa, cụ thể hóa, quy trình hóa và công khai hóa chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức đảng, bảo đảm trên thực tế vai trò lãnh đạo các tổ chức, nhất là các tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội. Xem lại hoạt động của tổ chức đảng ở những nơi mà chức năng lãnh đạo không có tính khả thi (cơ quan, doanh nghiệp ngoài nhà nước...) để lựa chọn mô hình tổ chức đảng phù hợp.

Quy chế hóa, cụ thể hóa, quy trình hóa và công khai hóa nhiệm vụ của người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội. Theo đó, tất cả những việc làm đúng, sai đều quy được trách nhiệm của từng thành viên, từng tổ chức. Có căn cứ pháp lý rõ ràng để xử lý những tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy vi phạm pháp luật (ban hành các quyết định lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, đoàn thể), vi phạm những quy định của Đảng về công tác xây dựng nội bộ đảng.

Thứ ba, cụ thể hóa thiết chế Đảng lãnh đạo Nhà nước

Quy chế hóa, cụ thể hóa, quy trình hóa và công khai hóa mối quan hệ công tác của tổ chức đảng với tổ chức nhà nước. Theo đó, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng tổ chức, trách nhiệm của từng thành viên, làm căn cứ để kiểm soát quyền lực thực tế của mỗi chủ thể trong hệ thống chính trị.

Đồng thời, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp: “Các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN, không một tổ chức, cá nhân nào đứng trên pháp luật, đứng ngoài pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước có nghĩa là các chủ trương, đường lối của Đảng phải được Nhà nước thể chế hóa bằng pháp luật, để sau đó tất cả mọi tổ chức, mọi công dân đều phải thực hiện theo pháp luật.

Thứ tư, quy chế hoạt động, mối quan hệ công tác của tổ chức đảng với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội

Cụ thể hóa quy định của Hiến pháp: “Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm truớc Nhân dân về các quyết định của mình”. Nhân dân trao quyền lực chính trị cho Đảng, song chưa có cơ chế đủ mạnh để nhân dân thực sự kiểm soát được quyền lực chính trị đối với Đảng. Các cơ quan công quyền chịu sự chỉ đạo chính trị của tổ chức đảng, nhưng chưa có quy định trách nhiệm pháp lý của tổ chức đảng về những chỉ đạo đó. Hơn nữa, trách nhiệm của các tổ chức đảng (nếu có) đều là trách nhiệm tập thể, không được cá thể hóa, do vậy không có ý nghĩa pháp lý.

Quy chế còn thể hiện vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội theo Quyết định số: 217-QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về việc ban hành quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định số 218 - QĐ/TW ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị về ban hành Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

Thứ năm, xây dựng cơ chế giám sát việc thực hiện quy chế, quy định trong nội bộ từng thành viên và cả hệ thống chính trị

Trong nội bộ Đảng cũng thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực hiệu quả. Ủy ban kiểm tra cùng cấp do cấp ủy bầu ra nên việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cấp ủy cùng cấp khó có tính khả thi.

Quy chế hóa, cụ thể hóa, quy trình hóa và công khai hóa chức năng nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra các cấp, bảo đảm mọi hoạt động của các tổ chức đảng đều được kiểm soát chặt chẽ, khách quan theo quy định. Ủy ban kiểm tra của Đảng phải như một cơ quan “tư pháp” của Đảng. Thiết lập một cơ cấu bộ máy của Ủy ban kiểm tra mang tính chuyên nghiệp. Tăng cường vai trò của Ủy ban kiểm tra của Đảng trong việc chủ động thực hiện kế hoạch kiểm tra, đảm bảo tính độc lập trong việc kiểm tra, xử lý việc thực hiện của mọi tổ chức đảng, đảng viên trong việc thực hiện các quy định của Đảng.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1) Trung tâm Từ điển học: Từ điển Tiếng Việt,Nxb Đà Nẵng, 1996, tr.900.

(2), (3) ĐCSVN:Văn kiện Đảng toàn tập, t. 37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.815, 803.

(4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.74, 149.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88.

 

PGS, TS Nguyễn Minh Tuấn

Viện Xây dựng Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền

 

Cùng bạn đọc

Liên kết