Trang chủ    Bài nổi bật    Giá trị những tư tưởng lớn của C.Mác về con người
Thứ năm, 26 Tháng 7 2018 16:41
304 Lượt xem

Giá trị những tư tưởng lớn của C.Mác về con người

(LLCT) - Trong tương quan với học thuyết về tư bản và giá trị thặng dư, về quyết định luận duy vật và hình thái kinh tế - xã hội, hay về giai cấp vô sản và chủ nghĩa xã hội... thì vấn đề con người không phải là chủ đề trung tâm của học thuyết Mác. Sứ mệnh của chủ nghĩa Mác không nằm ở vấn đề con người. Mặc dù vậy, những tư tưởng của C.Mác về con người lại vẫn đủ tầm vóc để tồn tại trong kho tàng tư tưởng loài người, có ý nghĩa to lớn đối với khoa học về con người và đối với sự nghiệp giải phóng con người.

Những tư tưởng lớn của C.Mác về con người được thể hiện ở các quan điểm sau: 1) Con người là thực thể tự nhiên có tính người. 2) Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. 3) Con người là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ. 4) Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. 5) Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Đó là những tư tưởng thực sự có chiều kích vĩ đại. Ngày nay, những tư tưởng này vẫn đang là tiền đề lý luận thực sự cốt lõi của nhiều khoa học về con người. Trong đời sống hiện thực, những tư tưởng này cũng là những chỉ dẫn thế giới quan và phương pháp luận cơ bản của nhiều lý thuyết xã hội.

1. Tầm vóc của C.Mác trong thời đại hiện nay

Năm 1999, trong một cuộc thăm dò ý kiến bầu chọn vào tháng 9 của BBC về những nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong Thiên niên kỷ trước, C.Mác đã khá bất ngờ được bầu chọn là người giữ vị trí đầu tiên,  Albert Einstein chỉ đứng thứ hai(1).

Những năm 2008 - 2009, khi thế giới bắt đầu rơi vào khủng hoảng tài chính, C.Mác và bộ Tư bản của ông đã đột nhiên nổi tiếng trở lại trong những mối quan tâm sâu sắc trong hầu hết các nước phương Tây. Nhiều tạp chí có tiếng trên thế giới như Time, Newsweek, Forbes, Financial Times và thậm chí là cảDer Spiegel đã đưa hình C.Mác lên trang bìa của mình.

Năm 2013, theo đề xuất chung của Đức và Hà Lan, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và tập đầu tiên của bộ Tư bản của C.Mác được đưa vào Danh mục “Ký ức thế giới”(Memory of the World - MOW(2), UNESCO). Việc đề xuất dựa trên quan điểm cho rằng, những tác phẩm này có tác động lớn tới các phong trào xã hội trên toàn thế giới, ngay từ thời điểm được viết.

Năm 2014, cuốn sách Capital in the Twenty-first Century nói về giá trị của Mác và bộ Tư bản trong thế kỷ XXI của nhà kinh tế học người Pháp Thomas Piketty khi xuất bản tại Đại học Harvard bằng tiếng Anh đã bán được gần nửa triệu bản(3). Piketty chỉ là một trong số nhiều tác giả phương Tây khác đã cho ra mắt những cuốn sách nổi tiếng đánh giá sâu sắc về giá trị của C.Mác; chẳng hạn như Terry Eagleton (Why Marx Was Right, “Tại sao Mác đúng”. Yale University Press, 2011), hay Michel Vadee (Marx, penseur du possible. “Mác - nhà tư tưởng của cái có thể”. Méridiens Klincksieck. Paris, 1992)...

Năm 2016, trong khảo sát hơn một triệu tài liệu mà sinh viên Mỹ bắt buộc phải đọc, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã bỏ xa các cuốn sách khác để trở thành một trong ba tài liệu được đọc và sử dụng nhiều nhất trong chương trình giáo dục về lý thuyết xã hội ở Mỹ, cả về số lượng bài giảng lẫn tần suất được giảng dạy(4).

Giữa tháng 4-2018, tại Trier, nơi C.Mác đã sinh ra và học trung học trước khi rời thành phố này để vào Đại học Bonn, Phòng du lịch thành phố đã bán hàng nghìn tờ EUR có hình chân dung C.Mác để vinh danh ông nhân kỷ niệm 200 ngày sinh. Điều đáng chú ý là 5 nghìn tờ bạc đầu tiên đã được bán hết ngay sau khi ra mắt. Thành phố đang phải in thêm 20 nghìn tờ khác để đáp ứng nhu cầu của người mua Australia, Brazil, Mỹ và các nước khác trên khắp thế giới(5).

Những hiện tượng trên dĩ nhiên chỉ là biểu hiện bề ngoài và không hề chủ yếu. Nhưng sau 200 năm C.Mác xuất hiện trong đời sống nhân loại, đặc biệt trong so sánh với các vĩ nhân khác, những hiện tượng như vậy về một con người chắc chắn sẽ khiến cho các thế hệ sau phải suy ngẫm nhiều hơn, sâu hơn về C.Mác.

Ngày nay chủ nghĩa tư bản chẳng những vẫn đang tồn tại mà còn có những bước phát triển đáng kinh ngạc. Sự điều chỉnh của bản thân cơ chế tư bản chủ nghĩa là một hiện tượng đáng được chú ý nghiên cứu. Trong khi đó, chủ nghĩa xã hội hiện thực, dù đã tồn tại hơn 70 năm nhưng lại bị tan rã và sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Con người và xã hội loài người ở đầu thế kỷ XXI vẫn còn bị tha hóa và mang đầy khuyết tật mà C.Mác đã cảnh báo. Sự thật này làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế rơi vào thoái trào, niềm tin vào chủ nghĩa xã hội ít nhiều bị ảnh hưởng. Mặc dù vậy, lý tưởng của C.Mác và của chủ nghĩa Mác, đặc biệt tư tưởng về xóa bỏ áp bức bóc lột và giải phóng con người, về tự do của con người... cũng vẫn không phải là cái có thể đem đồng nhất với sự tồn tại của các xã hội thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây. Terry Eagleton có lẽ là một trong số các tác giả đã lý giải tương đối thuyết phục cho vấn đề này(6).

Với tinh thần như vậy, trong tham luận này, chúng tôi sẽ điểm lại một số tư tưởng nổi tiếng của C.Mác về con người - những tư tưởng mà cho đến ngày nay vẫn đóng vai trò là tiền đề lý luận cơ bản, có ảnh hưởng rõ rệt đến sự tiến triển của khoa học và đời sống nhân loại.

2. Con người là một thực thể tự nhiên có tính người

Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, C.Mác khẳng định: Con người “là thực thể tự nhiên có tính chất người”(7).

Thực ra, quan niệm xem con người là một thực thể tự nhiên là tư tưởng của L.Phoiơbắc, người được C.Mác đánh giá là đã có công “làm cho quan hệ xã hội của con người với con người trở thành nguyên tắc cơ bản của lý luận”. Phoiơbắc cho rằng, con người là một thực thể đặc biệt của tự nhiên. Đặc biệt vì nó là thực thể duy nhất có ý thức. Tuy vậy, việc xác định bản chất của nó, cũng phải được tiến hành tương tự như đối với mọi sinh vật khác, tức là phải xác định bằng tính chất của các “đối tượng bên ngoài” như không khí, nước, ánh sáng, thức ăn, vật liệu hoạt động... - cái đảm bảo cho con người tồn tại một cách tất yếu và hiện thực. Tiếp thu quan niệm này, C.Mác nhấn mạnh: “Con người trực tiếp là thực thể tự nhiên” (Man is directly a natural being). Ông giải thích: Với tính cách là thực thể tự nhiên, hơn nữa, lại là “thực thể tự nhiên sống”, con người, một mặt, được phú cho sức mạnh tự nhiên dưới hình thức các “năng lực” “thiên bẩm”, “năng khiếu”. Nhưng mặt khác, con người còn “bị quy định và bị hạn chế” bởi những “đối tượng” tự nhiên bên ngoài nó, “những đối tượng không phụ thuộc vào nó” nhưng lại “cần thiết” và “căn bản” để nó thể hiện và khẳng định mình. Cho nên về phương diện này, con người là “thực thể đau khổ” (“Suffering Being”- C.Mác dùng lại thuật ngữ của Phoiơbắc, với hàm nghĩa là con người buộc phải chịu sự quy định của tự nhiên). C.Mác nói rõ thêm: “Thực thể không có tự nhiên ở bên ngoài nó thì không phải là thực thể tự nhiên, nó không tham gia vào đời sống của tự nhiên”(8).

Có thể thấy, đây là quan niệm rất sâu và có lẽ hơi khác với quan niệm hiện đại về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Hiện thời, ngay cả quan niệm phát triển bền vững, một quan niệm chủ trương coi việc bảo vệ môi trường như một thành tố đầu vào của sự phát triển xã hội và phát triển con người, cũng không xem tự nhiên là một cái gì đó lớn đến mức như Phoiơbắc và C.Mác đã luận giải. (Dĩ nhiên, các quan niệm hiện đại không hề xem thường sức mạnh tự nhiên ngự trị trong và ngoài con người. Chính vì thế mới cần suy ngẫm, tại sao hơn một trăm năm trước, Phoiơbắc và C.Mác lại đề cao yếu tố tự nhiên trong sự tồn tại của con người đến thế, và ngày nay, liệu có cần một lần nữa nhấn mạnh cái tự nhiên như thế hay không).

Mặc dù tiếp thu quan điểm đề cao yếu tố tự nhiên trong sự tồn tại người của Phoiơbắc, song C.Mác không dừng lại ở tư tưởng của Phoiơbắc, mà đi xa hơn và hoàn chỉnh khái niệm con người của mình. C.Mác viết: “Nhưng con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người, nghĩa là thực thể tồn tại cho bản thân mình và do đó là thực thể loài. Nó phải biểu hiện và tự khẳng định như là thực thể loài trong tồn tại của nó cũng như trong tri thức của nó”(9).

Con người là thực thể tự nhiên có tính chất người- Có thể coi đây là định nghĩa khái niệm con người của C.Mác. Theo chúng tôi, cả về mặt hình thức trình bày cũng như cả về mặt nội dung và tầm vóc của tư tưởng được diễn đạt, mệnh đề này đều đáp ứng những yêu cầu khắt khe của một định nghĩa.

3. Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người

Trong chủ đề về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, tư tưởng độc đáo nhất của C.Mác là tư tưởng cho rằng giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người.

Khi phân tích sự tha hóa của giới tự nhiên, một hậu quả của lao động bị tha hóa, C.Mác cho rằng, “giới tự nhiên là một bộ phận của đời sống con người”. Vì hai lý do: “thứ nhất, giới tự nhiên là tư liệu sinh sống trực tiếp đối với con người, và thứ hai, giới tự nhiên là vật liệu, đối tượng và công cụ của hoạt động sinh sống của con người”. Theo nghĩa ấy, giới tự nhiên cũng là thân thể - thân thể vô cơ - của con người. C.Mác viết: “Giới tự nhiên - cụ thể là giới tự nhiên trong chừng mực nó không phải là thân thể của con người - là thân thể vô cơ của con người. Con người sống bằng giới tự nhiên. Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại”(10). Ở một đoạn khác, C.Mác còn nêu một ý tưởng rất hay có thể dùng để giải thích cho điều này. C.Mác cho rằng, đời sống của con người không những được duy trì nhờ dựa vào giới tự nhiên mà hơn thế nữa, giới tự nhiên còn là nguồn gốc của đời sống con người. Nếu con người không tự nó sáng tạo ra bản thân nó, thì tất nhiên kẻ sáng tạo ra nó phải ở bên ngoài nó. Kẻ đó chính là giới tự nhiên. Đó là lý do giải thích tại sao trong ý thức thông thường, sự sáng tạo của con người lại là biểu tượng rất khó từ bỏ. Nói chung, quần chúng không thể hiểu được “sự - tồn - tại - thông - qua - mình của tự nhiên”(11).

Chúng tôi xem quan điểm “giới tự nhiên là thân thể của con người” là tư tưởng độc đáo, vì trong chừng mực mà chúng tôi được biết, từ thời cổ đại cho đến ngày nay, ngoài C.Mác, không có ai coi giới tự nhiên là thân thể của con người. Hầu hết các trường phái triết học phương Đông cổ đại tuy đề cao triết lý con người hòa hợp với tự nhiên, coi con người với giới tự nhiên là một, chủ trương “thiên nhân hợp nhất”, “thiên nhân tương giao”, song cũng không đến mức coi tự nhiên là thân thể nào đó của con người.

Sự tinh tế và sâu sắc của C.Mác thể hiện ở chỗ, vào thời của ông, các vấn đề môi sinh chưa đặt ra một cách gay gắt đối với cuộc sống con người như ngày nay. Và dĩ nhiên, thời đó, C.Mác chưa thể biết tới lỗ thủng tầng Ozone, hiệu ứng nhà kính và các hiện tượng sinh thái phức tạp khác mà ngày nay ta hay gọi là nguy cơ khủng hoảng sinh thái. Thế mà giới tự nhiên lại được C.Mác coi là thân thể - thân thể vô cơ của con người. C.Mác muốn nói rằng, mọi tác động của con người đến giới tự nhiên, đều có nghĩa là tác động đến thân thể con người. Làm tổn hại giới tự nhiên nghĩa là làm tổn hại chính con người. Đây không phải là điều suy diễn, mà chính C.Mác nói thế. Ông viết: “Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên”(12).

4. Con người là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ

Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Những tiền đề xuất phát của chúng tôi không phải là những tiền đề tùy tiện, không phải là giáo điều; đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi. Đó là những cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra. Như vậy, những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần túy”(13). “Hoạt động sống của họ như thế nào thì họ như thế ấy. Do đó, họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách mà họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sản xuất của họ”(14).

Vấn đề là ở chỗ, khi nói tới con người, nếu chỉ chú ý đến con người sinh học thì con người ở các thời đại chẳng khác nhau là bao. Bởi vậy, sự khác nhau giữa những con người, trên thực tế, là khác nhau về cái gì. C.Mác cho rằng chỉ có thể hiểu được con người khi xuất phát từ những tiền đề hiện thực trong nghiên cứu con người. Đó là hoạt động và những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người. Nói chính xác hơn, đó là con người trong hoạt động và trong điều kiện sinh hoạt vật chất của họ, những điều kiện mà họ thấy có sẵn cũng như những điều kiện do hoạt động của chính họ tạo ra.

Đây là những tư tưởng rất căn bản đặt nền móng cho sự ra đời của lý thuyết hoạt động mà các nhà khoa học Xôviết đầu thế kỷ XX như A.R.Luria, L.S.Vưgosky, N.A.Leonchiev, X.L.Rubenstein,... đã cùng với nhiều nhà tâm lý học Đức, Pháp, Bungari phát triển thành một trường phái học thuật nghiên cứu tâm lý người. Trường phái này chủ trương giải thích mọi hiện tượng tâm lý, kể cả những hiện tượng phức tạp nhất, bằng hoạt động, bằng giao tiếp và trong các mối quan hệ xã hội. Tâm lý người, vì thế, mang bản chất xã hội, là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp. Trường phái này đã đạt được nhiều thành tựu và có ảnh hưởng đáng kể trong tâm lý học, giáo dục học... đến tận ngày nay(15).

5. Bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội

Trong Luận cương thứ VI về Phoiơbắc, C.Mác viết “Phoiơbắc hòa tan bản chất tôn giáo và bản chất con người. Nhưng bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(16).

Trong suốt nhiều thập niên ở thế kỷ XX, luận cương này đã trở thành tiền đề phương pháp luận cho nhiều nghiên cứu, khám phá khoa học và hoạch định những kế hoạch cải tạo
xã hội.

Trên thực tế, luận cương này đã ghi nhận mâu thuẫn thực tế của bản chất con người và loài người. Bản chất con người quy định và định hình mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, là phẩm chất không nằm ngoài từng cá nhân riêng rẽ, song bản chất ấy lại không phải là cái gì đó cô lập, trừu tượng, tách biệt với lịch sử và với thế giới xung quanh như Phoiơbắc và người đời vẫn hình dung. Bản chất ấy hóa ra lại là kết quả tổng hợp (tổng hòa) của tất cả các quan hệ xã hội mà mỗi chủ thể phải giao tiếp - các quan hệ xã hội thực tế, từ thiêng liêng, cao cả tới bình thường, hằng ngày - trong tính hiện thực của nó. I.T. Frolov coi luận cương này là một trong những điểm sâu sắc và sáng chói nhất của tư tưởng C.Mác, là phát kiến có tầm rộng nhất về con người, đạt tới tầm công thức tìm tòi vĩ đại. Frolov cho rằng, khó mà tìm thấy, trong lịch sử nhận thức khoa học, một chân lý nào mà thoạt nhìn thì rất đơn giản và hiển nhiên, nhưng thực ra lại rất sâu sắc mà phải qua nhiều thế kỷ, với những tìm tòi khó khăn trong những cuộc đấu tranh tư tưởng khốc liệt mới có thể tìm ra và khẳng định được.

Những năm 1980, luận cương này đã ít nhiều chịu sự phê phán là xem nhẹ yếu tố cá nhân, cá thể và sinh học. Các nhà khoa học đã tiến hành những kiểm chứng bằng nhiều cách thức khác nhau. Cuối cùng, mặc dù vẫn còn tranh cãi song người ta đã ghi nhận rằng, bản chất con người dẫu sao vẫn là trên cá nhân (phi cá nhân), “nó không định hình dưới hình thức cá nhân” (не имеет персо-нифицированной формы)và nó buộc phải thể hiện ra như là tổng hòa (tổng thể hòa đồng) của toàn bộ các quan hệ xã hội(17).

Về phương diện khoa học, nhận định này cho phép lý luận phân loại các loại bản chất người và điều đó có ý nghĩa đáng kể trong hoạt động thực tiễn.

6. Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”(18)

C.Mác và Ph.Ăngghen giải thích, sau khi các quan hệ tư bản chủ nghĩa bị xóa bỏ trong xã hội loài người, giai cấp vô sản và chế độ của họ sẽ không thể tồn tại mãi. Khi hoàn thành sứ mệnh của mình, chế độ đó phải nhường chỗ cho “một liên hiệp của các cá nhân”, tức là một kiểu tổ chức xã hội hoàn toàn mới trong lịch sử, xã hội cộng sản chủ nghĩa. Ở đó, sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.

Cần thiết phải nói rằng, trong đời sống tinh thần nhân loại, tự do, xưa nay luôn là lý tưởng cao cả của tất cả các giai tầng, dù là thượng lưu hay chỉ là bình dân. Tôn giáo nào cũng răn dạy con người phải tôn trọng tự do của người khác bằng cách tiết chế tự do cá nhân. Triết học Hegel cũng đề cao “ý thức về tự do” nhưng trong tương quan với sự nhận thức về cái tất yếu. Nghĩa là về thực chất, tự do của mỗi cá nhân không thể tránh khỏi làm hạn chế tự do của người khác và của toàn xã hội. Mỗi triết thuyết, mỗi tôn giáo đều đưa ra những cách thức, những phương án của riêng mình để giải quyết mâu thuẫn này. Nhưng điều đáng chú ý là, không có học thuyết nào, tôn giáo nào nhận thấy giữa tự do cá nhân và tự do của kẻ khác lại có thể tương dung với nhau, thậm chí là điều kiện cho nhau, như C.Mác.

Đây rõ ràng là quan niệm độc đáo và hấp dẫn của C.Mác. Xã hội tương lai sẽ là một “liên hợp của các cá nhân”, ở đó sự phát triển tự do của người này có vai trò tạo điều kiện để người khác được phát triển tự do hơn. Quan niệm mới nhất về phát triển con người của các tổ chức quốc tế ngày nay cũng khó đạt tới trình độ như vậy.

Lời kết

Mặc dù chủ nghĩa Mác vẫn còn bị không ít người hoài nghi và chủ nghĩa xã hội vẫn đang phải đối mặt với những thách thức, nhưng C.Mác - với tính cách là nhà tư tưởng, là nhà khoa học và là một Con Người, hầu như được tất cả những người có trí tuệ và lương tri thừa nhận. Thời gian càng trôi đi, tầm vóc của ông càng trở nên vĩ đại, những giá trị căn bản trong tư tưởng của ông càng trở nên rõ rệt.

Với tính cách là một con người, C.Mác tự thừa nhận tất cả những gì thuộc về con người đều không xa lạ đối với tôi (Nihil humani a me alienum puto(19)). Thái độ này cho phép C.Mác hiểu sâu sắc gốc rễ của con người là chính bản thân con người(20). Con người là thực thể tự nhiên có tính người, tức là những cá nhân hiện thực, là sản phẩm của hoạt động của chính con người. C.Mác vĩ đại và được ngưỡng mộ, vì trước hết, ông không không phải là thần thánh - tư tưởng của ông là tư tưởng của một con người.

Với tính cách nhà khoa học, C.Mác tự thừa nhận là người hoài nghi tất cả (De Omnibus Dubitandum). Với lập trường khách quan này, ông đã cống hiến cho nhân loại nhiều phát minh có ý nghĩa “vạch thời đại”, trong đó có những phát minh về giá trị thặng dư, về chủ nghĩa duy vật lịch sử, vềhình thái kinh tế - xã hội... Từ những phát minh rất cơ bản đó, lịch sử xã hội loài người hiện ra trong sự vận động không hề ngẫu nhiên, mà có những nền tảng và những động lực thực sự, tuân theo những quy luật khách quan, tất yếu của tiến bộ xã hội.

Với tính cách nhà tư tưởng, C.Mác được đánh giá là nhà tư tưởng vĩ đại nhất trong lịch sử loài người hơn 1000 năm qua - nhà tư tưởng của các giải pháp trần thế thực hiện khát vọng xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột, bất công, chủ trương xây dựng một xã hội mà ở đó, tự do của mỗi người là điều kiện cho tự do của tất cả mọi người.

Ngày nay, những người lao động, các phong trào xã hội, các nhà hoạt động xã hội và nhân loại tiến bộ vẫn chưa tìm thấy một nhà tư tưởng nào khác có thể thay thế được C.Mác trong việc nhen lên ngọn lửa đấu tranh để giải quyết các vấn đề xã hội và phấn đấu cho lý tưởng cao đẹp về tiến bộ xã hội và giải phóng con người.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2018

(1) Xem: World Marx the millennium’s “greatest thinker”, http://news.bbc.co.uk.

(2) Memory of the World - MOW, Chương trình do UNESCO đề xướng và thực hiện từ năm 1992 nhằm bảo tồn và tiếp cận những di sản tài liệu quý hiếm có nguy cơ bị xâm hại và mai một ở nhiều nước và khu vực trên thế giới. Cho đến nay, Việt Nam đang có 6 di sản nhận danh hiệu này, bao gồm “Mộc bản triều Nguyễn”, “Châu bản triều Nguyễn”, “Mộc bản kinh Phật thiền phái Trúc Lâm chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang”, “Bia đá Văn Miếu - Quốc Tử Giám”, “Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” và “Mộc bản Trường Phúc Giang, Hà Tĩnh”.

(3) Thomas Piketty (2014). Le Capital au XXIe siècle. Pub. Éditions du Seuil. 2013. Capital in the Twenty-First Century. Pub Harvard University Press, 2014.

(4) Xem: Susan Berry (2016): Karl Marx’s ‘Communist Manifesto’ Ranked Among Top Three Assigned College Texts.http://www.breitbart.com.

(5) Xem:Alanna Petroff (2018): Karl Marx 0 bills are red hot, http://money.cnn.com.

(6) Xem: Terry Eagleton: Tại sao Mác đúng?, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2012.

(7) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.234.

(8) C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd, tr.232-233 (những chữ trong ngoặc kép là của C.Mác).

(9)C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd, tr.234. (“But man is not merely a natural being: he is a human natural being. That is to say, he is a being for himself. Therefore he is a species-being, and has to confirm and manifest himself as such both in his being and in his knowing”. Trong phần “Critique of Hegel’s Philosophy in General”).

(10), (11), (12) C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd., tr.135, 180, 135.

(13), (14), (16) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.29, 30, 11.

(15) XemSteven J. Haggbloom (2002), The 100 Most Eminent Psychologists of the 20th Century, Review of General Psychology, Vol. 6, No.2, pp.139–152.

(17) Xem: V.E. Davidovich: Dưới lăng kính triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.341-342.

(18) C.Mác và Ph.Ăngghen:Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,tr.628. (“The free development of each is the condition for the free development of all”).

(19) Karl Marx’s “Confession”, Zalt-Bommel, 1 April 1865, https://www.marxists.org.

(20) C.Mác và Ph.Ăngghen:Toàn tập, t.1, Sđd., tr.580. (“Triệt để có nghĩa là hiểu được sự vật đến tận gốc rễ của nó. Nhưng gốc rễ của con người là chính bản thân con người”).

 

GS, TS Hồ Sĩ Quý

Viện Thông tin Khoa học xã hội,

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

 

 

Các bài viết khác