Trang chủ    Bài nổi bật    Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân - giá trị bền vững và một số vấn đề cần bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay
Thứ năm, 25 Tháng 4 2019 15:21
431 Lượt xem

Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân - giá trị bền vững và một số vấn đề cần bổ sung, phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân (GCCN) là một trong ba phát kiến vĩ đại của C.Mác, là biểu hiện tập trung cho giá trị khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác và cũng là cơ sở lý luận quan trọng nhất cho quá trình phát triển theo định hướng XHCN trên thế giới và của Việt Nam. Kể từ khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời (1848) - tác phẩm đầu tiên trình bày cô đúc lý luận sứ mệnh lịch sử của GCCN, hoạt động thực tiễn của GCCN, các Đảng Cộng sản và toàn thể nhân loại tiến bộ đã khẳng định những giá trị bền vững, đồng thời cung cấp thêm những dữ liệu mới để bổ sung và phát triển một số luận điểm của C.Mác về vấn đề này. 

 

1. Những giá trị bền vững trong học thuyết của C.Mác về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân

a. Nhận thức khoa học về giai cấp công nhân hiện đại

Trước C.Mác, do sự quy định của điều kiện lịch sử và phương pháp tư duy, trong các văn phẩm của CNXH không tưởng, chưa thấy hình bóng của giai cấp công nhân (GCCN), có chăng chỉ là những “phác thảo” tương đối phiến diện về những người vô sản như là một bộ phận của đám đông quần chúng nghèo khổ, cần được cứu vớt bởi các vĩ nhân tài giỏi và bác ái. Clode Henry Xanhximon (1760 - 1825) còn nhập cả vô sản và tư sản thành một “giai cấp của những nhà công nghiệp”! Hiển nhiên, theo họ, giai cấp vô sản “nghèo đói và đáng thương” ấy chưa thể tự giải phóng và chưa thể có sứ mệnh giải phóng nhân loại.     

Chỉ đến C.Mác, từ thực tế của Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII) và với quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác đã nhận thấy GCCN “là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”(1) và là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất hiện đại. Đại công nghiệp hay quá trình công nghiệp hóa, nhờ ứng dụng máy móc vào sản xuất và dịch vụ, đã làm biến đổi sâu sắc tồn tại xã hội.

Từ quá trình này, một phương thức lao động mới dần định hình, đó là phương thức lao động công nghiệp với những đặc điểm: sản xuất bằng máy móc, lao động có tính chất xã hội hóa, năng suất lao động cao và tạo ra những tiền đề cho xã hội mới, là yếu tố hàng đầu, tác động trực tiếp đến giai cấp công nhân. Do gắn liền với phương thức lao động này, giai cấp công nhân có được những phẩm chất như tính tổ chức, kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác, tâm lý lao động công nghiệp... Những đặc điểm ấy lại chính là những phẩm chất cần thiết cho một giai cấp cách mạng và có năng lực lãnh đạo cách mạng.

Từ lịch sử phát triển của CNTB, giai cấp công nhân còn là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê”. C.Mác nhận thấy: “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống”(2). “Họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”(3).

Họ là giai cấp bị giai cấp tư sản bóc lột bởi phương thức bóc lột giá trị thặng dư. Giá trị thặng dư, về bản chất là lao động không được trả công của người công nhân. Sức lao động của GCCN trở thành hàng hóa là điều kiện cần cho quá trình sản xuất giá trị thặng dư của giai cấp tư sản. Sở hữu tư bản tạo ra độc quyền phân chia giá trị thặng dư. Vì mục tiêu tăng thêm lợi nhuận, giai cấp tư sản có nhu cầu ngày càng tăng về sức lao động của giai cấp công nhân. “Tư bản, tức là cái sở hữu bóc lột lao động làm thuê, cái sở hữu chỉ có thể tăng thêm với điều kiện là phải sản xuất ra lao động làm thuê mới để lại bóc lột lao động làm thuê đó. Trong hình thái hiện tại của nó, sở hữu vận động trong sự đối lập giữa hai cực: tư bản và lao động”(4).

C.Mác là người đầu tiên chỉ ra quan hệ lợi ích phức tạp giữa công nhân và tư bản. Hai bên vừa đối lập nhau về lợi ích cơ bản, vừa phụ thuộc nhau về lợi ích hàng ngày trong thị trường sức lao động. Lao động sống của công nhân là nguồn gốc cơ bản của giá trị thặng dư và sự giàu có của giai cấp tư sản cũng chủ yếu nhờ vào việc bóc lột được ngày càng nhiều giá trị thặng dư. “Trong xã hội ấy, những người lao động thì không được hưởng, mà những kẻ được hưởng lại không lao động”(5). Đây là mâu thuẫn cơ bản về lợi ích giữa  GCCN và giai cấp tư sản. Nó không thể điều hòa và chỉ có thể được giải quyết bằng việc xóa bỏ chế độ bóc lột giá trị thặng dư trên cơ sở xác lập một quan hệ sản xuất mang tính chất công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu. Chính lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa đã chỉ ra biện pháp giải quyết ấy. Mặt khác, bán được sức lao động cũng là tiền đề cho việc bảo đảm đời sống của công nhân. Hai bên đều phụ thuộc vào quy luật cung - cầu của thị trường hàng hóa sức lao động. Tác động qua lại về lợi ích giữa hai giai cấp này đã tạo nên tính chất phức tạp của đấu tranh giai cấp hiện đại.          

Trong cách nhìn duy vật biện chứng về lịch sử, sự thống trị của giai cấp tư sản, đặc biệt là của bộ phận tư sản đại công nghiệp, được chủ nghĩa Mác xem như một điều kiện ban đầu cho sự phát triển  GCCN: “Nói chung, sự phát triển của giai cấp vô sản công nghiệp được quy định bởi sự phát triển của giai cấp tư sản công nghiệp. Chỉ có dưới sự thống trị của giai cấp này... thì bản thân giai cấp vô sản công nghiệp mới có thể tạo ra những tư liệu sản xuất hiện đại, tức là những thứ đều trở thành những phương tiện để thực hiện sự nghiệp giải phóng cách mạng của nó”(6).

Chế độ chính trị, nhà nước pháp quyền tư sản cũng đã tác động hai mặt đến công nhân. Nó hình thành cho công nhân - với tư cách là công dân, thói quen tuân thủ pháp luật hiện hành, theo đó các phản ứng ban đầu của giai cấp này với chế độ tư sản, thường là với trình độ của chủ nghĩa công liên. Công nhân với tư cách là giai cấp bị trị, cũng đã học được nhiều biện pháp đấu tranh hợp pháp từ nền dân chủ tư sản, qua đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm đấu tranh chính trị. Tính chất chuyên chế của chế độ chính trị tư sản cũng thúc đẩy GCCN cùng với nhân dân đấu tranh chính trị chống áp bức, bất công.

C.Mác cho rằng: con người là sản phẩm của hoàn cảnh ở chừng mực tạo ra và tác động vào hoàn cảnh ấy.  GCCN hiện đại là sản phẩm của phương thức sản xuất công nghiệp và là chủ thể của phương thức sản xuất hiện đại và ngày càng xã hội hóa ấy. Đó là những giá trị khoa học ngày càng sáng rõ theo thời gian.     

b. Phát hiện và luận chứng về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân 

C.Mác có công đầu trong việc phát hiện và luận giải tính khách quan và tự giác về sứ mệnh lịch sử của GCCN hiện đại. Đó là giai cấp có năng lực tự giải phóng và sẽ giải phóng nhân loại thoát khỏi ách áp bức bóc lột cuối cùng của lịch sử: chế độ bóc lột giá trị thặng dư của phương thức sản xuất TBCN. 

Về tính tất yếu của sứ mệnh lịch sử GCCN, C.Mác bắt đầu từ một nguyên lý khái quát rằng, xã hội nào cũng tồn tại và phát triển trên cơ sở sản xuất và tiêu thụ của cải vật chất. Sản xuất hiện đại về cơ bản là bằng phương thức công nghiệp và giai cấp công nhân là chủ thể tiêu biểu của quá trình sản xuất đó. Vì thế, họ là giai cấp quyết định sự phát triển của xã hội hiện đại. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cũng bắt đầu từ đây.   

Tính chất xã hội hóa của sản xuất hiện đại làm xuất hiện những tiền đề vật chất, nhu cầu phát triển và gợi ý những biện pháp để giải quyết các vấn đề của xã hội tư bản. Xã hội hóa sản xuất đã thúc đẩy sự vận động của mâu thuẫn cơ bản trong lòng phương thức sản xuất TBCN. Mâu thuẫn cơ bản đó là xung đột giữa tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất với tính chất tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội là yêu cầu khách quan và đã được quá trình sản xuất hiện đại vạch ra. “Cái tính chất của đại công nghiệp, trong xã hội hiện thời, là đẻ ra mọi sự nghèo đói và mọi cuộc khủng hoảng thương nghiệp, thì đến một chế độ xã hội khác, chính tính chất ấy lại trở thành tính chất thủ tiêu sự nghèo khổ đó và những sự biến động đem lại tai họa đó”(7). C.Mác nhận định: “Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”(8).

Nội dung của sứ mệnh lịch sử GCCN là một quá trình cách mạng toàn diện để xây dựng một hình thái kinh tế xã hội mới trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng. Nó làm xuất hiện hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là CNHX. Lần đầu tiên trong lịch sử, có “một cuộc cách mạng của đại đa số mưu lợi ích cho tuyệt đại đa số”, nhờ việc hướng tới xây dựng một xã hội trên cơ sở công hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu.

Để làm tròn sứ mệnh ấy, GCCN cần phải được rèn luyện và phát triển tự giác mà nhân tố hàng đầu là Đảng Cộng sản. Quy luật hình thành Đảng là sự kết hợp giữa CNXH khoa học với phong trào công nhân - kết quả xã hội của quá trình công nghiệp hóa và đấu tranh giai cấp hiện đại. Tính chất tiền phong trong thực tiễn và lý luận xác định vị thế lãnh đạo của Đảng: “Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên. Về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản”(9). 

Mục tiêu của Đảng là thực hiện nội dung chính trị của sứ mệnh lịch sử GCCN: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”(10).

Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng về chiến lược, sách lược, tổ chức và tư tưởng là điều kiện bảo đảm cho GCCN hoàn thành sứ mệnh lịch sử toàn thế giới. Nắm được quyền lực chính trị để lãnh đạo thực hiện sứ mệnh lịch sử xây dựng CNXH; không ngừng nâng cao bản chất GCCN và trở thành đại biểu chân chính cho lợi ích của quốc gia - dân tộc... là những quy luật phát triển của Đảng.

Trên đây là khái quát những giá trị khoa học tiêu biểu của C.Mác về sứ mệnh lịch sử của GCCN. Thực tiễn của phong trào công nhân và cách mạng XHCN gần hai thế kỷ qua đã xác nhận tính đúng đắn và coi đó là những nguyên lý.     

2. Một số luận điểm cần được bổ sung, phát triển cho quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam  

C.Mác bàn đến sứ mệnh lịch sử của GCCN từ bối cảnh điển hình của những nước tư bản phát triển cao đương thời như Anh, Mỹ, Pháp, Đức ở thời điểm của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất... còn Việt Nam bỏ qua giai đoạn phát triển của CNTB, hiện nay chưa công nghiệp hóa xong và đang bước dần sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. C.Mác nghiên cứu về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của GCCN và yêu cầu hậu thế khi vận dụng học thuyết của mình vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia phải biết đứng vững trên “mảnh đất hiện thực” của mỗi nước và bổ sung, phát triển những nguyên lý “đến từng chi tiết”...

Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề xuất bổ sung cho “chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông...”(11). Người khẳng định, cùng với động lực đấu tranh giai cấp thì, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(12) và phải gắn sứ mệnh của giai cấp với lợi ích của dân tộc. Người đã phát hiện thêm hai điều mà C.Mác chưa nói tới: “Chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn với châu Âu”(13) vì nó có nhiều tiền đề từ xã hội cổ truyền, và chưa phải là sự phát triển của xã hội sản xuất mà là “Sự tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc đã chuẩn bị sẵn mảnh đất rồi. Chủ nghĩa cộng sản chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng mà thôi”(14). Chính từ những quan điểm mới mẻ ấy, Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công nhiệm vụ giải phóng dân tộc ở Việt Nam và đã bổ sung, phát triển lý luận về cách mạng XHCN. Đó cũng cũng chính là phương pháp luận để chúng ta vận dụng và phát triển lý luận về sứ mệnh lịch sử. Có nhiều điều cần được cụ thể hóa, bổ sung và phát triển khi vận dụng lý luận này, nhưng có thể chỉ ra một số điểm tiêu biểu như sau:

a. Xây dựng GCCN Việt Nam hiện nay cần chú ý tới quy luật phát triển của giai cấp này là sản phẩm và là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa. Hiển nhiên quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH của Việt Nam, phải gắn liền với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH. Mặt khác, một vấn đề có tính quy luật là, sự phát triển của GCCN cũng là “sản phẩm” của đường lối, chính sách CNH, HĐH cho nên bất kỳ thiếu sót, sai lầm nào về đường lối chiến lược cũng ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của GCCN. Bài học kinh nghiệm mà Đại hội VI rút ra là: “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng”(15).

Trong bối cảnh của kinh tế thị trường nhiều thành phần hiện nay, cần đặc biệt chú ý để điều chỉnh hiện tượng: “Lợi ích mà một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với thành tựu của công cuộc đổi mới và sự đóng góp của chính họ”(16). Thực tiễn ở Việt Nam hiện nay còn chỉ ra rằng, không chỉ do tác động của sở hữu tư nhân, quy luật bóc lột giá trị thặng dư mà cơ chế quản lý yếu kém và trình độ quản lý sản xuất, quản lý xã hội bất cập, cùng quan liêu, tham nhũng lại là nguyên nhân trực tiếp khiến lao động không được trả công xứng đáng. Điều nghịch lý là những hiện tượng đó lại xuất hiện trong chế độ coi công hữu là nền tảng và đôi khi ngay trong thành phần kinh tế nhà nước. Nhận thức mới cần được bổ sung là, trong quá trình phát triển của nhân loại, để xóa bỏ sở hữu tư nhân thì bên cạnh phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, thì vai trò quản lý sản xuất và quản lý nhà nước XHCN với các quá trình xã hội cần được coi là nhân tố trực tiếp để hạn chế và dần xóa bỏ hiện tượng bóc lột, bất công. 

Những nhận thức mới về giải quyết vấn đề sở hữu ở Việt Nam hiện nay. C.Mác nghiên cứu sở hữu tư nhân TBCN rất sâu sắc và nhận định thường thiên về các kết luận về sự chấm dứt vai trò lịch sử của nó, do không còn phù hợp với tính chất xã hội của lực lượng sản xuất và do tính chất bất công, phi nhân tính của nó. Thực tế và kết quả nghiên cứu của Việt Nam và nhiều nước khác, do được “đứng trên vai hai người khổng lồ” (lý luận của C.Mác và thực tiễn cải cách, đổi mới) nên nhận thức đã tiến xa hơn ở chỗ: thừa nhận tính tất yếu, sự tồn tại lâu dài của sở hữu tư nhân cùng khả năng liên kết với các hình thức sở hữu khác và đóng góp của nó trong xây dựng CNXH. Tư duy mới có tính đột phá là thừa nhận và khuyến khích sự phát triển kinh tế tư nhân, coi đó là bộ phận “có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam”.

Vấn đề bóc lột của sở hữu tư nhân đã được nhìn rộng hơn, sâu hơn, biện chứng hơn. Chẳng hạn, bị bóc lột cũng “được”, và đi bóc lột cũng “mất”! Người lao động “được” gì khi tham gia vào quá trình sản xuất tư bản? Với những công nhân Việt Nam xuất thân từ nông dân, họ có nghề nghiệp, kỹ năng lao động mới, thu nhập tăng hơn, được tiếp cận môi trường lao động hiện đại với phương thức lao động và quản lý mới... Nhà nước thu được thuế, tiếp cận với công nghệ mới, kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa hiện đại, qua đó mà phát triển sản xuất và “làm bạn, là đối tác, là thành viên có trách nhiệm” với thế giới... Người sử dụng lao động cũng phải chia sẻ bí quyết công nghệ, chia sẻ thị trường, kinh nghiệm quản lý, chấp nhận sự nguy hiểm của đồng vốn khi đầu tư v.v.. chứ không chỉ biết có lợi nhuận. Nguyên tắc hai bên, các bên cùng có lợi là một yêu cầu khách quan và đã diễn ra trên thực tế(17). Cũng như trong lịch sử công nghiệp hóa, hiện nay tầng lớp doanh nhân - tư sản ở Việt Nam cũng có một vai trò tích cực cần được nhìn nhận, đó là góp phần công nhân hóa lực lượng lao động. 

C.Mác phê phán giai cấp tư sản “ngày càng trở nên thừa”, là giai cấp ăn bám về kinh tế và phản động về chính trị. Tuy vậy, vai trò của giai cấp tư sản trong quản lý sản xuất và quản lý xã hội thì rõ ràng ở thời C.Mác và Ph.Ăngghen không thể có được luận cứ thực tiễn đầy đủ như hiện nay. Tuy là những yếu tố thuộc về quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng, song thực tiễn hiện đại xác định rằng, những điều chỉnh của CNTB hiện đại cũng góp phần hỗ trợ cho quá trình phát triển sản xuất và văn minh. Tuy đó là những biện pháp để duy trì chế độ TBCN, nhưng cũng có những nhân tố hợp lý (như kinh nghiệm tổ chức, quản lý sản xuất, kinh nghiệm sử dụng động lực lợi ích vật chất...) cần được GCCN - với tư cách giai cấp lãnh đạo xã hội, kế thừa trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH và hoàn thành sứ mệnh của mình.      

b. Xây dựng Đảng của GCCN và của dân tộc     

C.Mác tin tưởng ở sự phát triển mạnh mẽ, tất yếu của chính đảng vô sản trong quá trình cách mạng. C.Mác tin tưởng vào sự phát triển của các Đảng thông qua đấu tranh giai cấp và đấu tranh tư tưởng trong nội bộ để giữ vững lập trường của một đảng chân chính của GCCN. C.Mác cho rằng: “Những người cộng sản... tuyệt nhiên không có một lợi ích nào khác tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”(18). Nhưng C.Mác chưa có điều kiện lịch sử để nghiên cứu về những bất cập, hạn chế của các Đảng Cộng sản khi cầm quyền.

C.Mác quan niệm rằng: Những người cộng sản chỉ khác với các đảng vô sản khác... là, trong các cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản... Quan điểm ấy, trong điều kiện phức tạp của chính trị thế giới hiện nay chưa được thực tiễn chứng minh. Chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân đã đóng vai trò tích cực với cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng XHCN và đang tiếp tục vai trò ấy trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng thực tế hiện nay còn chỉ ra rằng “chủ nghĩa dân tộc còn là một động lực lớn” cho sự nghiệp giải phóng. Một vấn đề có tính quy luật đang dần được làm sáng rõ là: Tất cả các Đảng Cộng sản cầm quyền và các đảng đang đấu tranh để cầm quyền đều phải trở thành dân tộc, không phải ở mức độ là “hình thức của cuộc đấu tranh giai cấp” mà cần được coi là bản chất của Đảng! Nhiệm vụ chính trị hàng đầu của Đảng là phải giải quyết hài hòa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc. Thậm chí, hiện nay với một số đảng cầm quyền, không bảo vệ được chủ quyền, lợi ích của quốc gia dân tộc là đồng nghĩa với “tự sát” về chính trị.

C.Mác chưa có điều kiện để nói về suy thoái chính trị - tư tưởng và đạo đức của một Đảng Cộng sản cầm quyền. C.Mác cũng chưa lường trước được xung đột về quan điểm chính trị, bất đồng về tư tưởng, phân liệt về tổ chức giữa các Đảng, các nước XHCN là có thể diễn ra và gây hại cho sự đoàn kết quốc tế và sự phát triển lý luận về CNXH. C.Mác cũng chưa có điều kiện lịch sử để chứng kiến sự biến dạng lý luận và tư tưởng trong một Đảng Cộng sản như trường hợp Trung Quốc với “Đại nhảy vọt” và “Đại cách mạng văn hóa vô sản”. Sự suy thoái ấy có thể làm biến dạng nền dân chủ XHCN, làm cho chính những người xây dựng CNXH cũng mắc phải các căn bệnh kiêu ngạo, chủ quan, duy ý chí, quan liêu và lạm dụng quyền lực, tham nhũng...

C.Mác không có điều kiện thực tế để thấy rằng, đôi khi do cơ chế tổ chức và hoạt động, Đảng đã lựa chọn nhầm những nhân vật không tiêu biểu cho cả thực tiễn và lý luận, không đại biểu trung thành cho lợi ích giai cấp công nhân. Họ có thể lợi dụng sự “xơ cứng” của cơ chế tập trung dân chủ trong bầu cử để làm biến dạng dân chủ trong đảng. Cơ chế làm tha hóa con người, con người làm tha hóa tổ chức và chế độ là điều có thật! Tất cả các Tổng Bí thư và cán bộ lãnh đạo cao cấp của những Đảng Cộng sản cầm quyền, đều do bầu cử mà ra, nhưng cũng từ cơ chế ấy đã đẻ ra các hiện tượng như Gorbachop, Enxin là những kẻ đã phá tan Đảng và CNXH hiện thực!

Bối cảnh mới của thế giới và đặc thù của Việt Nam trong xây dựng CNXH đòi hỏi chúng ta ngày càng phải “thâm canh” trên mảnh đất lý luận của chủ nghĩa Mác để vận dụng và phát triển nó.

________________________

(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu tổng kết lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về giai cấp công nhân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong lịch sử và thời đại ngày nay; đề xuất bổ sung, phát triển vào thực tiễn Việt Nam trong bối cảnh mới” do PGS, TS Nguyễn Viết Thảo làm Chủ nhiệm. Đề tài thuộc Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, “Nghiên cứu tổng kết, đề xuất bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - cấu phần quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh mới.”; mã số KX.02/16-20.

(1), (2), (3), (4), (5), (7), (8), (9), (10), (18) C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.610, 596, 605, 616, 619, 466, 612-613, 469, 614-615, 614.

(6) Sđd, t.7, tr.29.

(11), (12), (13), (14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr.465, 466, 36, 28.

(15) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, dangcongsan.vn.

(16) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị Trung ương 6, khóa X, Nghị quyết về Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa,  2008. 

(17) Xem thêm GS, TS Nguyễn Kế Tuấn (Chủ biên): Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr.51, 87-88, 292...

 

PGS, TS Nguyễn An Ninh

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác