Trang chủ    Bài nổi bật    Nhận diện đối tượng của quản lý phát triển xã hội trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế
Thứ ba, 28 Tháng 5 2019 09:11
151 Lượt xem

Nhận diện đối tượng của quản lý phát triển xã hội trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế

(LLCT) - Biến đổi xã hội ở Việt Nam là một quá trình “biến đổi kép”, không chỉ là chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang nền văn minh công nghiệp và hiện đại mà đồng thời còn là sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự điều tiết của Nhà nước rồi đến nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Biến đổi cấu trúc xã hội; biến đổi phân tầng xã hội; biến đổi thiết chế xã hội/thể chế xã hội; biến đổi quan hệ xã hội; biến đổi hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội; biến đổi nhu cầu lợi ích; biến đổi tâm lý xã hội, mô hình hành vi và lối sống; biến đổi cấu trúc lao động; biến đổi hệ thống phúc lợi xã hội và mạng lưới an sinh xã hội... là những biến đổi xã hội điển hình sâu sắc nhất ở Việt Nam trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua. Nhận diện rõ các chiều cạnh của biến đổi xã hội là cơ sở để quản lý phát triển xã hội hiệu quả và bền vững.

1. Biến đổi xã hội - đối tượng nghiên cứu của quản lý phát triển xã hội

Phát triển xã hội

Phát triển xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, bắt nguồn từ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của con người; đồng thời, phụ thuộc vào quan điểm, đường hướng và hành động của các chủ thể quản lý xã hội. Phát triển xã hội là hệ quả của quản lý phát triển xã hội. Phát triển xã hội được tiếp cận, luận giải ở nhiều phạm vi rộng, hẹp khác nhau, tùy vào việc xác định phạm vi của thuật ngữ “xã hội”. Phát triển xã hội theo nghĩa rộng là sự phát triển trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa - xã hội. Phát triển xã hội theo nghĩa hẹp là sự phát triển về con người, của các nhóm xã hội và các quan hệ xã hội. Do đó, phát triển xã hội được đo lường từ sự biến đổi của các thành tố của hệ thống xã hội, đó là sự biến đổi của cấu trúc xã hội. Phát triển xã hội với nội dung chủ yếu là sự vận động, biến đổi của cấu trúc xã hội.

Đối tượng quản lý phát triển xã hội

Từ quan niệm về phát triển xã hội nêu trên, có thể thấy rằng: đối tượng của quản lý phát triển xã hội là sự vận động, biến đổi của cấu trúc xã hội. V.I.Lênin chỉ rõ: “Kết cấu của xã hội và chính quyền có nhiều biến đổi, nếu không tìm hiểu các biến đổi này thì không thể tiến một bước trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động xã hội nào. Vấn đề tiền đồ phụ thuộc vào sự tìm hiểu biến đổi này”(1). Phân tích sự biến đổi về cấu trúc xã hội rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở cho việc quản lý phát triển xã hội, nhằm đảm bảo cấu trúc xã hội hợp lý, phù hợp với quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Có nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc xã hội, song về cơ bản, cấu trúc xã hội luôn đề cập đến “hai mặt”: yếu tố cấu thành hệ thống xã hội và tính chất, mức độ quan hệ giữa các yếu tố. Phân tích cấu trúc xã hội phải phân tích các yếu tố cấu thành, đồng thời phân tích tính chất, mức độ quan hệ giữa các yếu tố; làm rõ sự vận động của các yếu tố và sự biến đổi mức độ, tính chất quan hệ giữa các yếu tố để chỉ ra xu hướng chuyển dịch của cấu trúc xã hội, sự vận động, biến đổi bên trong hệ thống xã hội.

Xã hội với tính cách hệ thống, chứa đựng trong đó nhiều thành tố (phân hệ cấu trúc xã hội). Trong cấu trúc xã hội có các phân hệ cơ bản như: giai tầng xã hội; lãnh thổ; dân số (nhân khẩu); ngành nghề; dân tộc (tộc người); tôn giáo. Phân tích biến đổi cấu trúc xã hội là sự phân tích sự biến đổi của các thành tố, các phân hệ cấu trúc xã hội cơ bản và mức độ, tính chất quan hệ giữa chúng.

Biến đổi xã hội

Biến đổi xã hội (social change) là quá trình xã hội trong đó các yếu tố cấu thành của xã hội hoặc cả hệ thống xã hội thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác. Biến đổi xã hội là sự thay đổi theo thời gian của một hay nhiều yếu tố hoặc tất cả các yếu tố cấu thành nên toàn thể xã hội. Biến đổi xã hội là quá trình xã hội trong đó các yếu tố cấu thành xã hội và cả hệ thống xã hội thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác(2). Khái niệm biến đổi xã hội vừa nêu cho thấy bất kỳ một sự thay đổi nào ở thành phần và cấu trúc của xã hội đều được gọi là biến đổi xã hội. Biến đổi xã hội diễn ra ở quy mô, cấu trúc và thành phần của xã hội như nhóm xã hội, vị thế xã hội, văn hóa, mạng lưới xã hội và toàn bộ hệ thống xã hội mà các yếu tố này tạo nên. Cùng với chiều cạnh cấu trúc - hệ thống xã hội còn có chiều cạnh thời gian: bất kỳ sự biến đổi nào cũng diễn ra trong khung thời gian nhất định và có thể là tạm thời, ngắn gọn hoặc bền vững lâu dài. Sự biến đổi xã hội có thể diễn ra một cách tuần tự, từ từ theo quy luật tiến hóa hoặc diễn ra một cách mạnh mẽ, đột ngột dưới tác động của các cuộc cách mạng xã hội. Sự biến đổi có thể theo chiều hướng tiến bộ, với đặc trưng là trạng thái tiếp theo đạt tới mức hoàn thiện cao hơn trạng thái trước đó. Cũng có thể biến đổi xã hội theo chiều hướng suy thoái, với biểu hiện là trạng thái tiếp theo kém hơn trạng thái trước đó(3).

Biến đổi xã hội là hiện tượng phổ biến, nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội. Biến đổi xã hội không song hành, thuận chiều và đồng nhất tự nhiên với phát triển và tiến bộ. Biến đổi xã hội vừa bao hàm những biến đổi nội tại của lĩnh vực xã hội, của từng yếu tố cấu thành lĩnh vực này lại vừa bao hàm, phản ánh những biến đổi với tư cách là hệ quả xã hội từ những biến đổi ngoài lĩnh vực xã hội, của kinh tế, chính trị văn hóa và môi trường tác động vào con người, vào các quan hệ và cấu trúc xã hội.

Các khía cạnh trong biến đổi xã hội bao gồm: (i) Biến đổi về dân số, (ii) Biến đổi về môi trường, (iii) Biến đổi về chính trị, (iv) Biến đổi về kinh tế, (v) Biến đổi về tư tưởng, (vi) Biến đổi về văn hóa và tôn giáo, (vii) Biến đổi về công nghệ và kỹ thuật. Quá trình biến đổi xã hội là quá trình chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó hoạt động quản lý xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Điều này thể hiện ở chỗ, hệ thống lý thuyết về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường tạo nên mô hình bền vững, hài hòa cho sự biến đổi xã hội; hệ thống chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường bảo đảm những điều kiện cụ thể cho sự biến đổi xã hội; đội ngũ những con người thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường bảo đảm những điều kiện thực hiện sự cam kết của xã hội cho biến đổi xã hội; hệ thống thể chế, thiết chế xã hội kiểm soát việc thực hiện các quá trình biến đổi xã hội... Đây là những điều kiện ràng buộc đối với việc thực hiện các điều kiện biến đổi xã hội vì con người, vì sự tiến bộ. Nhận diện những biến đổi xã hội, tức là xem xét nội dung, nguyên nhân, quy mô, xu hướng và tính phức tạp của những biến đổi đó một cách cụ thể.

Quản lý biến đổi xã hội

Quản lý biến đổi xã hội (management of social change) là sự tác động có định hướng, có tổ chức của các chủ thể quản lý đến các quá trình biến đổi xã hội nhằm đảm bảo cho các thành tố trong hệ thống xã hội vận động theo chiều hướng tích cực, đồng bộ và bền vững. Quá trình này diễn ra trong môi trường tương tác xã hội giữa chủ thể thuộc hệ thống chính trị và khu vực bên ngoài hệ thống chính trị. Chẳng hạn, nhà nước ban hành các quy tắc, quy định cho biến đổi xã hội; trong khi xã hội xác định rõ lợi ích và hành động tập thể để thúc đẩy biến đổi xã hội theo hướng tích cực. Như vậy, quản lý biến đổi xã hội là đem những tác động của thể chế chính sách, của các nhân tố điều kiện vào đối tượng sao cho đủ sức kích thích tích cực, phát triển, đồng thời ngăn chặn hoặc ít ra cũng làm giảm thiểu mặt tiêu cực, thoái triển(4).

Ngày nay, quá trình hiện đại hóa là xu hướng thống lĩnh xã hội đã và đang làm thay đổi thang bậc giá trị, chuẩn mực trong xã hội, nhiều giá trị và quy tắc được định hướng và xác lập trong quá khứ nhưng không còn được chấp nhận trong thời hiện đại và ngược lại. Xã hội Việt Nam đang diễn ra quá trình biến đổi xã hội nhanh chóng với sự vận động phức tạp, khó lường. Điều này đặt ra yêu cầu phải chuyển đổi mô hình, phương thức quản lý xã hội từ truyền thống sang hiện đại. Để đảm bảo sự biến đổi đúng định hướng cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của mọi giai tầng xã hội một cách chủ động, sáng tạo, dựa trên nền tảng tri thức khoa học. Có thể nhận thấy ở cấp độ vi mô, có nhiều biến đổi tích cực hơn là ở cấp độ trung và vĩ mô; biến đổi xã hội ở tầm ngắn hạn có nhiều biểu hiện tích cực hơn là nhìn biến đổi xã hội trong chiều cạnh dài hạn; so sánh sự biến đổi xã hội trước năm 1986 so với giai đoạn hiện nay có nhiều thay đổi nhanh chóng, tích cực nhưng so với yêu cầu của thực tiễn và so với các quốc gia có cùng điều kiện tương tự thì chúng ta lại thấy sự biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề(5). Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường các hoạt động quản lý biến đổi xã hội, nhất là quản lý biến đổi cấu trúc xã hội.

Biến đổi cấu trúc xã hội ở Việt Nam hiện nay

Biến đổi xã hội ở Việt Nam là một quá trình “biến đổi kép”, không chỉ là chuyển đổi từ nền văn minh nông nghiệp cổ truyền sang nền văn minh công nghiệp và hiện đại mà đồng thời còn là sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước(6). Nghiên cứu biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 30 năm vừa qua là nghiên cứu những biến đổi xã hội gắn liền với tiến trình đổi mới đất nước. Biến đổi xã hội ở Việt Nam vừa chịu sự tác động to lớn của lực hút và lực đẩy của bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trong nước và thế giới; của truyền thống và hội nhập quốc tế; của quy luật phát triển không đều giữa các vùng miền, giai tầng xã hội, lĩnh vực; đặc biệt là định hướng xã hội chủ nghĩa chưa có tiền lệ... Trong đó có thể dễ dàng nhận diện biến đổi xã hội trên các chiều cạnh: Biến đổi cấu trúc xã hội; biến đổi phân tầng xã hội; biến đổi thiết chế xã hội/thể chế xã hội; biến đổi quan hệ xã hội; biến đổi hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội; biến đổi nhu cầu lợi ích; biến đổi tâm lý xã hội, mô hình hành vi và lối sống; biến đổi cấu trúc lao động; biến đổi hệ thống phúc lợi xã hội và mạng lưới an sinh xã hội... là những biến đổi xã hội điển hình nhất ở Việt Nam trong đổi mới. Đặc biệt, trong cấu  trúc xã hội đã và đang biến đổi mạnh mẽ, với sự xuất hiện của các giai tầng xã hội mới. Hiện nay, cấu trúc giai tầng xã hội ở Việt Nam được xác định, bao gồm: (i) công nhân; (ii) nông dân; (iii) trí thức; (iv) doanh nhân; (v) thanh niên; (vi) phụ nữ; (vii) quân đội; (viii) người cao tuổi; (ix) người về hưu; (x) tôn giáo; (xi) dân tộc (các tộc người thiểu số); (xii) công chức, viên chức; (xiii) người Việt Nam ở nước ngoài(7).

Biến đổi cấu trúc giai tầng xã hội

Từ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, cấu trúc giai tầng xã hội ở nước ta chuyển sang cấu trúc với nhiều giai tầng xã hội. Có giai tầng xã hội đã tồn tại rất lâu và có giai tầng xã hội mới xuất hiện; có giai tầng xã hội đã được định danh nhưng cũng có giai tầng xã hội chưa được định danh. Về cơ bản, các giai tầng xã hội ở nước ta hiện nay đang trong quá trình vận động, biến đổi, khó định danh, định dạng, đo lường. Các giai tầng xã hội chuyển hóa và đan cài vào nhau, tạo nên tính phức tạp, khó nhận diện về tầng lớp xã hội của mỗi người, mỗi nhóm xã hội. Việc định danh, định dạng các giai tầng xã hội đã và đang là một nhu cầu bức thiết, câu hỏi thực tiễn cần có câu trả lời từ các nhà làm chính sách, các nhà khoa học để làm cơ sở cho quản lý phát triển xã hội.

Cùng với sự đa dạng các giai tầng xã hội, vị trí, tính chất của các giai tầng xã hội cũng có sự biến động, thay đổi cùng với những biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội. Lợi ích của các giai tầng xã hội vừa có sự thống nhất trong mục tiêu chung (độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh), vừa có sự khác biệt. Mối quan hệ giữa các giai tầng xã hội là vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong nội bộ nhân dân, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng(8).

Thực tiễn đó đòi hỏi phải bảo đảm cấu trúc giai tầng xã hội hợp lý với tính chất nền kinh tế nhiều thành phần và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu tạo dựng cơ cấu giai tầng xã hội xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải có những giải pháp quản lý xã hội hiệu quả, chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội để giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, bảo đảm hài hòa về lợi ích. Trên cơ sở đó tạo dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Biến đổi cấu trúc xã hội về khu vực sống: đô thị - nông thôn

Quá trình đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hóa dẫn đến mở rộng khu vực đô thị, thu hẹp khu vực nông thôn, cư dân đô thị ngày càng nhiều hơn cư dân nông thôn là một xu thế tất yếu trong phát triển xã hội nước ta hiện nay.

Sự hình thành và mở rộng khu vực đô thị ở nước ta làm gia tăng dân cư sống ở các đô thị đặt ra nhiều nội dung mới cho quản lý phát triển xã hội. Đó là mối quan hệ giữa đô thị và nông thôn, cư dân đô thị và cư dân nông thôn, tương quan đời sống vật chất, tinh thần giữa đô thị và nông thôn. Vấn đề đặt ra hiện nay là thực hiện hiệu quả cơ chế quản lý đô thị, thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa đô thị và nông thôn, tăng cường kết nối nông thôn - đô thị.

Việc chuyển hóa từ những cư dân nông thôn sang cư dân đô thị là một quá trình, không chỉ là sự chuyển đổi về phương thức sản xuất mà còn là sự chuyển đổi về lối sống. Sự quá độ về lối sống của những cư dân đô thị mới sẽ diễn ra trong khoảng thời gian không ngắn. Xây dựng lối sống đô thị lành mạnh, văn minh, hiện đại là vấn đề đặc biệt quan trọng, vì xây dựng con người là mục tiêu của chiến lược phát triển.

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, thực hiện Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã tạo cho khu vực nông thôn diện mạo mới, và cùng với nó là sự biến chuyển về nhiều mặt của cư dân sống ở khu vực nông thôn. Quản lý phát triển xã hội nông thôn, đã và đang đòi hỏi có những chính sách và giải pháp phù hợp để xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, đạo đức, lối sống, không bị cám dỗ, tha hóa bởi lối sống không lành mạnh.

Biến đổi cấu trúc xã hội ngành nghề, lao động

Sự đa dạng, phong phú của ngành nghề ở nước ta hiện nay dẫn đến sự đa dạng trong cấu trúc lao động, tạo nên tính đa dạng, phức tạp của lao động xã hội. Nhu cầu lao động, tính đa dạng trong cấu trúc lao động đã và đang đặt ra vấn đề của việc cung ứng lao động xã hội, quản lý lao động xã hội. Đây là vấn đề lớn, bức thiết trong nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nó càng bức thiết hơn khi mà lao động của nước ta chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chất lượng lao động thấp dẫn đến năng suất lao động thấp, lương thấp, cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế; mất cân đối giữa cung và cầu; dư thừa lao động ở nông thôn, thiếu hụt lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ; khoảng 70% - 85% lao động trong khu vực ngoài nhà nước, chủ yếu ở hộ cá thể, sản xuất nhỏ phân tán, phi chính thức với trình độ công nghệ, phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp; ý thức tự giác và tính kỷ luật lao động chưa cao;... Do đó, quản lý phát triển xã hội phải đặt trọng điểm vào việc đào tạo, đào tạo lại nhằm cung ứng cho xã hội những lao động có nhân cách, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật. Muốn vậy, cần nắm bắt kịp thời những biến đổi về ngành nghề, về lao động ở nước ta hiện nay, làm cơ sở cho quản lý phát triển xã hội trong lĩnh vực ngành nghề, lao động. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển đồng bộ và liên thông thị trường lao động cả về quy mô, chất lượng lao động và cơ cấu ngành nghề đang là vấn đề xã hội cấp thiết hiện nay.

Sự đa dạng về ngành nghề, lao động xã hội kéo theo sự đa dạng về lợi ích, về thu nhập và mức sống, gia tăng sự phân hóa trong xã hội trên tất cả các mặt của đời sống xã hội. Hội tụ các yếu tố đó làm nảy sinh mâu thuẫn xã hội, ẩn chứa nhiều vấn đề xã hội đòi hỏi phải giải quyết kịp thời, thỏa đáng để giảm thiểu các xung đột xã hội do sự biến đổi cấu trúc ngành nghề, lao động mang lại. Trong xây dựng và thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội phải quan tâm đến đời sống người lao động, nhất là những lao động có thu nhập thấp, tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển, nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển.

Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cơ cấu ngành nghề hợp lý, từ đó bảo đảm sự phân công lao động xã hội hợp lý, tạo động lực cho phát triển sản xuất, phát triển nguồn nhân lực, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững.

Biến đổi cấu trúc xã hội dân số (nhân khẩu)

Dân số ở nước ta hiện nay đang có những biến động mạnh theo nhiều chiều hướng khác nhau, diễn ra ở các chiều cạnh: số lượng, quy mô, cấu trúc. Tốc độ gia tăng dân số ở nước ta tuy có được kiềm chế, song việc giảm tỷ lệ sinh chưa thật bền vững. Sự mất cân bằng giới tính khi sinh là tiền đề xuất hiện những vấn đề xã hội nan giải. Dân số già hóa nhanh đặt ra nhiều nội dung mới cho an sinh xã hội, chăm sóc người cao tuổi. Sự phân bổ dân cư giữa các vùng, miền chưa thật hợp lý.

Những bất cập về cấu trúc dân cư đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống, chất lượng lao động, nguồn lực con người trong phát triển. Thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải bảo đảm cơ cấu về giới tính, về độ tuổi hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng sống, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh con người. Do đó trong thời gian tới, nước ta phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình; thực hiện tốt chiến lược dân số và gia đình,... đầu tư nâng cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thay thế, giảm dần mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh, v.v..

Một nội dung trong biến động về dân số là vấn đề di dịch cư. Ở nước ta, những thập kỷ gần đây, vấn đề di dịch cư diễn ra mạnh về số lượng, phạm vi, quy mô và tính chất. Có di cư trong kế hoạch khi chúng ta xây dựng các công trình thủy điện, các khu công nghiệp, mở rộng hạ tầng giao thông,... và có di cư “không kế hoạch”, di cư tự do.

Di cư tự do diễn ra ở tất các vùng, các địa phương, trong các dân tộc (tộc người) với tất cả các hình thái và phạm vi. Có di cư quốc tế, trong nước, nội vùng, với dòng chảy chính Bắc - Nam, nông thôn - đô thị, Đông - Tây. Di cư quốc tế có chiều hướng gia tăng với đủ các sắc thái: du học, xuất khẩu lao động, di cư mùa vụ sang nước ngoài để làm ăn, v.v.. Di cư tự do đang được xem là một vấn đề xã hội nổi cộm trong biến động về dân số ở nước ta hiện nay.

Thực trạng di cư ở nước ta hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội phải giải quyết như: vấn đề lao động và việc làm ở cả nơi đi và nơi đến; vấn đề an sinh xã hội, an ninh con người; vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, tính cộng đồng; vấn đề giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; vấn đề an ninh quốc gia và bảo vệ chủ quyền quốc gia; v.v.. Quản lý phát triển xã hội không thể bỏ rơi việc quản lý biến động dân số do di dịch cư mang lại.

Biến đổi cấu trúc xã hội dân tộc/ tộc người

Sau hơn 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội vùng đồng bào tộc người thiểu số đã có nhiều phát triển tiến bộ cùng với sự phát triển của đất nước. Cơ sở hạ tầng và kinh tế đã có sự phát triển, đời sống nhân nhân các dân tộc được nâng cao hơn trước. Dù đã có nhiều cố gắng song thực tế cho thấy: kinh tế - xã hội vùng đồng bào tộc thiểu số còn nhiều khó khăn thiếu thốn, chậm phát triển, tỷ lệ hộ đói nghèo ở mức cao; việc khôi phục, bảo tồn, phát triển văn hóa tộc người trong điều kiện mới gặp nhiều khó khăn; văn hóa vật thể, phi vật thể của một vài tộc người đã bị mai một, khó có khả năng phục hồi; v.v..

Nội dung nổi bật trong biến đổi cấu trúc dân tộc ở nước ta hiện nay chính là sự chuyển dịch địa vực sống của nhiều dân tộc. Một số lượng không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc, Đông Bắc đã di cư tự do vào các tỉnh phía Nam, tập trung ở Tây Nguyên, tạo nên sự đa dạng về dân tộc ở các tỉnh này. Dễ dàng nhận thấy rằng, kết quả của di cư tự do trong đồng bào dân tộc thiểu số đã tạo nên sự đan xen, pha trộn về dân tộc trên một số địa bàn dân cư, làm thay đổi “bản đồ dân cư các dân tộc thiểu số” trên đất nước. Điều đó tiềm ẩn nhiều vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội cần giải quyết để giữ vững ổn định chính trị, xã hội.

Đoàn kết các dân tộc giữ vị trí chiến lược trong sự nghiệp của cách mạng nước ta, là động lực và nguồn lực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng đoàn kết các dân tộc đòi hỏi phải quản lý biến đổi cấu trúc xã hội dân tộc, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa các quan hệ, tạo sự phát triển, chuyển biến rõ rệt về các mặt vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Biến đổi cấu trúc xã hội tôn giáo

Những thập kỷ vừa qua, tôn giáo đã và đang có sự vận động, biến đổi mạnh mẽ cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội của đất nước trên các nội dung: số lượng người có đạo; cơ sở thờ tự; sự phái sinh các hình thái tôn giáo mới; hoạt động tôn giáo; v.v..

Có thể thấy rõ sự biến đổi đó theo các chiều hướng: (i) Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, làm nảy sinh thêm nhiều nội dung mới trong nghi lễ hành đạo, (ii) Dân tộc hóa, các tôn giáo gắn bó với dân tộc, thể hiện ở quyền và trách nhiệm công dân và mục tiêu hành đạo của tôn giáo trong mỗi người có đạo; (iii) Gia tăng cơ sở thờ tự (cả tự giác và tự phát, được phép và không được phép); (iv) Đa dạng, đan xen tôn giáo, dung hợp giữa giáo lý và hoạt động tôn giáo với tín ngưỡng, hoạt động tín ngưỡng dân gian và truyền thống dân tộc; sinh hoạt tôn giáo có nhiều biến thái mới làm nảy sinh nhiều hủ tục; (v) Thương mại hóa, phô trương trong hoạt động tôn giáo; hiện tượng vi phạm các quy định pháp luật trong hoạt động tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân, chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc gia tăng; (vi) Sự tha hóa tôn giáo trong người có đạo và sự tham gia sinh hoạt tôn giáo của người không có đạo, sự phân biệt giữa người có đạo và không có đạo không thật rõ ràng; (vii) Tín ngưỡng tôn giáo thâm nhập sâu rộng vào đời sống văn hóa, sinh hoạt cộng đồng; v.v..

Những thập kỷ qua, các thế lực thù địch đã nhiều lần sử dụng tôn giáo thực hiện “chiến lược diễn biến hòa bình” để chống phá đất nước ta. Thực tế đó đòi hỏi phải gia tăng quản lý đối với tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo cho việc tạo dựng sức mạnh dân tộc cho xây dựng và bảo vệ đất nước; phòng chống, đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái với quy định của pháp luật.

Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh, để phát triển xã hội bền vững phải thực hành quản lý phát triển xã hội, chỉ ra những nội dung chủ yếu của quản lý phát triển xã hội: Một là, thực hiện các chính sách phù hợp với các giai tầng xã hội; bảo đảm sự hài hòa về lợi ích, về quan hệ xã hội; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề hợp lý. Hai là, kịp thời kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn, xung đột xã hội; giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc. Ba là, gắn chặt chính sách kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế với nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tốt an sinh xã hội, an ninh con người(9).

______________________

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.20, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr.221.

(2), (3) Lê Ngọc Hùng: Các cấp độ và xu hướng biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ xã hội học, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 4, 2010, tr.7, 7.

(4), (5), (7) Hoàng Chí Bảo: Biến đổi xã hội ở Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới, 2008, VNH3.TB6.798.

(6) Đặng Nguyên Anh và cộng sự: Biến đổi xã hội ở Việt Nam: truyền thống và hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016.

(8) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc  lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.85, 86.

(9) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.135.

PGS, TS Phạm Minh Anh

Vụ Quản lý đào tạo,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác