Trang chủ    Bài nổi bật    Tư tưởng Hồ Chí Minh - Giá trị nhân văn và phát triển
Thứ tư, 20 Tháng 5 2015 14:48
1841 Lượt xem

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Giá trị nhân văn và phát triển

(LLCT) - Là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hóa thế giới, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành, phát triển, tỏa sáng cùng với quá trình đấu tranh giành thắng lợi của cách mạng Việt Nam, để lại những giá trị lâu bền đối với kho tàng lý luận cách mạng của Việt Nam và thế giới. Tư tưởng cũng như hoạt động thực tiễn của Người ngời sáng tinh thần nhân văn, hướng tới giải phóng con người, do con người và vì con người, chứa đựng nhiều giá trị mà nhân loại hiện nay đang hướng tới.

 

Hội thảo khoa học nhân Kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức là một lần nữa chúng ta bày tỏ lòng tôn kính đối với Người, đồng thời cũng là dịp để chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về một trong những giá trị to lớn và sâu sắc trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh đó là giá trị nhân văn và phát triển.

Theo tinh thần đó, đề nghị các nhà khoa học, các đại biểu tập trung thảo luận nhằm làm sáng tỏ hơn nữa những luận điểm, những tư tưởng cốt lõi nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng giá trị nhân văn, phát triển, đồng thời thấy được ý nghĩa to lớn của những tư tưởng đó đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới theo những nhóm vấn đề cơ bản sau:

1. Giá trị nhân văn và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh trong xác định mục tiêu và con đường cách mạng Việt Nam

Sau Hiệp ước Patơnốt (1884) được ký giữa đại diện Chính phủ Pháp và đại diện triều đình nhà Nguyễn, Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Nhân dân Việt Nam rơi vào ách áp bức “một cổ hai tròng”. Độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân trở thành ước mơ, khát vọng cháy bỏng của bất kỳ người dân yêu nước nào, trong đó có Nguyễn Ái Quốc  - Hồ Chí Minh. Sau này, khát vọng đó đã chi phối toàn bộ tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn của Người; trở thành ngọn cờ chiến đấu và là mục tiêu suốt đời hy sinh, cống hiến của Hồ Chí Minh, trở thành bản chất cao quý trong tư tưởng nhân văn của Người.

Tiếp cận vấn đề dân tộc dưới góc độ của một người dân mất nước, Hồ Chí Minh đưa ra luận điểm: độc lập dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của các dân tộc. Độc lập dân tộc là điều kiện, là tiền đề cho sự phát triển của dân tộc Việt Nam, vì vậy, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”(1) đã trở thành một giá trị vĩnh hằng, chân lý thời đại trong tư tưởng của Người. Năm 1945, trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”(2). Năm 1946, trước âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(3).

Là một chiến sĩ quốc tế vô sản chân chính, đối với Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh giải phóng không chỉ là của giai cấp vô sản, mà là của những người lao động trên khắp hành tinh, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo, màu da. Người không chỉ đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình, nhân dân mình mà góp phần đấu tranh giành độc lập, tự do cho các dân tộc thuộc địa, cho nhân loại cần lao. Quan điểm độc lập cho dân tộc mình đồng thời độc lập cho tất cả các dân tộc; đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc khác như là đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình của Hồ Chí Minh là những giá trị vượt thời đại mà không phải nhà tư tưởng hay nhà cách mạng nào cũng có đủ lý trí và tình cảm để có được. Trong Lời kêu gọi ủng hộ báo Le Paria - tờ báo do Người là đồng sáng lập và là chủ bút, Người viết: “Báo kêu gọi họ, tổ chức họ, nhằm mục đích giải phóng những người bị áp bức khỏi các lực lượng thống trị, thực hiện tình yêu thương và bác ái”(4) và “Le Paria đã sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu, mục đích của báo chắc chắn sẽ đạt được: đó là giải phóng loài người”(5).

Vượt qua những lối mòn trong con đường cứu nước của các bậc tiền bối, sau gần 10 năm tìm tòi, nghiên cứu, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cách mạngđúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản(6). Kết luận đó là kết quả của quá trình khảo cứu những cuộc đấu tranh không thành công của phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, từ kinh nghiệm các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới và từ nhận thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng vô sản, đồng thời từ việc nắm bắt được quy luật, xu thế vận động, phát triển của thời đại. 

Yêu thương con người, khát khao giải phóng con người đã trở thành động cơ mạnh mẽ, thành mục tiêu, lý tưởng cao đẹp, biến thành ý chí và hành động của Hồ Chí Minh. Gắn độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc của nhân dân là tiền đề cốt lõi dẫn đến sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam - con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường đúng đắn để biến khát vọng, mục tiêu thành hiện thực, đồng thời cũng chính là sự khác biệt giữa con đường cứu nước của Hồ Chí Minh với các bậc tiên liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Vì vậy, sau khi giành được độc lập, phải tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người đều được sung sướng, tự do.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là con đường giải phóng con người một cách triệt để nhất, mang tính nhân văn và nhân bản sâu sắc nhất. Con đường đó đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển với tư cách vừa là mục tiêu, vừa là động lực, gắn kết sự nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và cuối cùng là đi đến giải phóng con người; từ xóa bỏ áp bức dân tộc, trả lại độc lập, tự do dân tộc;  xóa bỏ bóc lột giai cấp tiến tới xây dựng một xã hội không có giai cấp vươn đến cái đích cuối cùng chính là giải phóng con người, xóa bỏ tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch con người, làm cho mọi người được hưởng tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát huy năng lực, phát triển toàn diện cá nhân. Độc lập dân tộc là mục tiêu trực tiếp, trước mắt, là tiền đề để tiến lên thực hiện mục tiêu chủ nghĩa xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội là cơ sở, điều kiện bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh, một biểu trưng mẫu mực về sự uyên bác của Hồ Chí Minh trong việc nghiên cứu những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của các nước thuộc địa như Việt Nam. Những luận điểm đó đặt cơ sở và là tiền đề quan trọng cho hành trình phát triển đi tới tương lai tươi sáng của dân tộc. Con đường đó đã dẫn dắt nhân dân ta tiến hành cách mạng thành công, giành độc lập dân tộc, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ lên vị trí của người làm chủ, xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng phát triển và phồn vinh.

2. Giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về động lực của cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(8) . Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, với tình thương yêu, kính trọng, tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh và năng lực sáng tạo vô tận của con người, Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng. Ngay từ năm 1921, Người đã nhìn ra sức mạnh vĩ đại của nhân dân các dân tộc thuộc địa: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”(9). Người đi đến khẳng định, dù trong cách mạng giải phóng dân tộc hay trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có lực lượng của nhân dân thì việc khó mấy, to mấy cũng làm được:

“Dễ mười lần không dân cũng chịu,

Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(10).

hay:

“Gốc có vững cây mới bền,

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(11).

Theo Hồ Chí Minh, tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế là rất quan trọng nhưng không được ỷ lại, dựa dẫm; không để ảnh hưởng đến độc lập, tự chủ của đất nước. Theo Người, “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(12). Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ của nhân dân trong cách mạng: “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(13), tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính là một nhân tố đưa cách mạng Việt Nam tới thành công.

Đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, là yêu cầu khách quan của cách mạng, là bài học lớn, là chân lý của thời đại, chân lý của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định:

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,

T­hành công, thành công, đại thành công”(14).

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt trong một Mặt trận Dân tộc Thống nhất là điều kiện quyết định thắng lợi của cách mạng. Vượt qua các bậc tiền bối và những người cùng thời trong việc tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh yêu cầu mọi con dân nước Việt hay tất cả con rồng cháu tiên, con Lạc cháu Hồng, dù sống ở trong nước hay định cư ở nước ngoài cùng đoàn kết, đồng tâm hiệp lực trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất, có khối liên minh công nông làm nền tảng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Khối đoàn kết đó phải luôn đặt lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập tự do, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi cơ bản của toàn dân lên trên hết, trước hết, đồng thời quan tâm giải quyết từng bước quyền lợi chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân và của mỗi cá nhân.

Với niềm tin mãnh liệt vào phẩm giá, tính hướng thiện của con người, trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần khoan dung, chủ động xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau cùng hướng tới tương lai. Ngay cả đối với những người lầm đường, lạc lối, Người cũng yêu cầu phải có tấm lòng nhân ái, khoan dung; phải thực hành chữ bác ái, sẵn sàng tha thứ, không truy cứu những lỗi lầm đã qua; nặng về giáo dục, nhẹ về xử phạt; dìu dắt, khuyến khích, nâng đỡ họ, giúp họ bỏ đường tà theo đường chính, hoan nghênh họ cùng phấn đấu cho sự nghiệp chung của dân tộc vì họ đều là máu đỏ da vàng, cũng đều là con dân nước Việt, đều có ít hay nhiều lòng ái quốc.

Để phát huy được sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, cần phát huy vai trò của Đảng Cộng sản trong tổ chức, tập hợp lực lượng và lãnh đạo cách mạng. Sớm phát hiện ra những khác biệt căn bản giữa Việt Nam với các nước phương Tây, nhạy bén với những dấu hiệu của thời đại, Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin khi chỉ ra quy luật ra đời của Đảng Cộng sản chính là sản phẩm kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Người khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”(15). Người nhiều lần khẳng định, Đảng ta là một Đảng cách mạng, một Đảng vì dân, vì nước, do đó tất cả mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đều hướng tới mục tiêu cao nhất là phục vụ con người, phục vụ nhân dân. Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Người đã chỉ rõ: “Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân”(16).

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân nhưng Đảng không phải từ trên trời sa xuống mà Đảng ra đời và phát triển từ trong lòng xã hội, từ trong nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng, che trở và bảo vệ, giành được thắng lợi là do phát huy được vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân. Vì vậy, Đảng phải luôn gắn bó máu thịt với nhân dân,“cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”(17). Hồ Chí Minh xác định, gắn bó với nhân dân không phải là vấn đề sách lược trong một thời điểm lịch sử nhất định, càng không phải nhằm lợi dụng lòng tin và sức mạnh của nhân dân để thực hiện mục đích của giai cấp mình mà là một thuộc tính bản chất của Đảng Cộng sản, là cơ sở xã hội cho sự tồn tại và phát triển của Đảng. Cán bộ, đảng viên phải luôn luôn ghi nhớ mình vừa là người lãnh đạo cũng đồng thời là “công bộc”, là “đày tớ” của nhân dân, phải luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(18). Xem xét, đánh giá về Đảng trong sự vận động và phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh trăn trở với sứ mệnh của đội tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc, lực lượng tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của toàn dân tộc. Người cũng tiên liệu về những nguy cơ của một Đảng cầm quyền đó là quá trình ngày càng gia tăng của sự thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… của đội ngũ cán bộ, đảng viên với những biểu hiện như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo, đó là những trở lực của sự phát triển. Vì vậy, Người yêu cầu Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới; Đảng phải là đạo đức, là văn minh; phải đẩy lùi mọi biểu hiện thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên trong điều kiện Đảng cầm quyền.

3. Giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển xã hội

Giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh không giới hạn trong khuôn khổ giải quyết vấn đề giải phóng con người khỏi ách nô lệ, kìm kẹp của chế độ thực dân phong kiến mà còn là giải quyết vấn đề xây dựng vị thế con người, trả lại những giá trị đích thực thuộc về con người với tư cách là chủ và làm chủ trong xã hội.

Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của học thuyết Mác - Lênin, không chỉ luận giải sự ra đời và bản chất của chủ nghĩa xã hội từ phương diện kinh tế, đồng thời còn từ khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam; từ phương diện văn hóa và đạo đức, hướng tới các giá trị nhân đạo, nhân văn mácxít. Hồ Chí Minh khẳng định, chủ nghĩa xã hội là đem lại những gì tốt đẹp nhất cho con người, mọi giá trị cá nhân đều được tôn trọng, mọi cá nhân được phát triển một cách toàn diện trong mối quan hệ hài hòa với con người xã hội.

Trên hành trình xây dựng một nước Việt Nam ngày càng phát triển, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: giành được độc lập rồi phải ra sức kiến quốc. Khát vọng của Người là xây dựng một nước Việt Nam phát triển hùng cường: “Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu”(19).

Vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng là vấn đề nhà nước. Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một nhà nước phản ánh những giá trị tiến bộ và nhân văn của thời đại và Người đã hiện thực hóa tư tưởng đó trong xây dựng mô hình nhà nước Việt Nam của dân, do dân, vì dân. Nhân dân Việt Nam từ thân phận của người nô lệ trở thành người làm chủ, có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước, của dân tộc; là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua thực hiện chế độ Tổng tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín để bầu các đại biểu xứng đáng vào các cơ quan quyền lực nhà nước; Nhà nước lấy mục tiêu cao nhất là phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Trong Nhà nước đó, Hiến pháp và pháp luật được xây dựng dựa trên ý chí và nguyện vọng của nhân dân, là phương tiện hữu hiệu trong quản lý xã hội, làm cho đất nước ngày càng ổn định và phát triển.

Khi nói đến chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh trước hết đến yếu tố kinh tế. Người ý thức rất rõ, xây dựng và phát triểnkinh tế vững mạnh là để không ngừng nâng cao đời sống vật chất của nhân dân. Từ luận điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh tế quyết định chính trị và chính trị tập trung ở kinh tế, Hồ Chí Minh luận giải một cách dễ hiểu “có thực mới vực được đạo”(20), “dân dĩ thực vi thiên”(21).  Người nhận thức được vai trò của lực lượng sản xuất là điều kiện vật chất cho sự tồn tại và phát triển; nhìn thấy được tiềm năng của các thành phần kinh tế; quan tâm tới đội ngũ doanh nhân Việt Nam; chú trọng xây dựng 5 loại hình kinh tế: kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác xã, kinh tế cá nhân, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước. Ngay từ năm 1953, trong tác phẩm Thường thức chính trị, khi bàn về chính sách kinh tế của Đảng và Chính phủ, Hồ Chí Minh nêu ra bốn điểm mấu chốt để phát triển kinh tế của nước ta: công tư đều lợi, chủ thợ đều lợi, công nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài.

Hồ Chí Minh quan niệm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội tồn tại ngang nhau, có vị trí và vai trò vừa độc lập, vừa bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Người đã sớm có tầm nhìn về sự đồng thuận giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển với bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên. Đó là điều kiện tạo sự ổn định và phát triển lâu dài.

Quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của con người, Hồ Chí Minh chủ trương chú trọng phát triểnvăn hóa. Ngay từ năm 1943, quan niệm về văn hóa của Người đã hàm chứa nhiều giá trị mang tính thời đại, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong xác định vị trí, vai trò của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ trong sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(22).  Người hướng tới xây dựng một nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng trong đó kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế trong sáng. Trong nền văn hóa đó, con người được xác định vừa là động lực, vừa là mục tiêu, đồng thời là thước đo của sự phát triển về văn hóa. Xác định văn hóa cũng là một mặt trận; văn hóa soi đường cho quốc dân đi, Hồ Chí Minh đã đưa những giá trị văn hoá đi sâu vào trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, coi văn hóa là nguồn sức mạnh, là động lực, mục tiêu, một hệ điều tiết xã hội trong quá trình phát triển. Sinh thời, Người đặc biệt chú ý canh tân và phát triển đất nước bằng cách xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, phát triển giáo dục đào tạo, tạo điều kiện cho mỗi người phát huy được hết mọi năng lực sẵn có củamình. Luận điểm của Người: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”(23) mang tính thời đại, phản ánh điều kiện để phát triển của bất kỳ một quốc gia nào.

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền tảng của người cách mạng, “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(24), “Làm cách mạng  để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(25). Khi cách mạng đang lúc gian khổ cũng như khi đã thành công, xây dựng và rèn luyện đạo đức luôn là một đòi hỏi cấp thiết. Đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh xây dựng là kết tinh những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, của nhân loại trong lịch sử, đạo đức cộng sản được vận dụng phù hợp với cách mạng Việt Nam, hướng tới những giá trị tốt đẹp của con người, giá trị chân, thiện, mỹ trong giải quyết các mối quan hệ với tự nhiên và xã hội. Những khái niệm, phạm trù, mệnh đề trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh như trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mang bản chất giai cấp công nhân, tính cách mạng và nhân văn sâu sắc. Theo Hồ Chí Minh, tu dưỡng đạo đức cách mạng giống như người trồng lúa phải có công chăm bón, diệt cỏ, trừ sâu lúa mới tốt, mỗi người phải phấn đấu bền bỉ suốt đời để cho phần tốt, phần thiện nảy nở như hoa mùa xuân còn phần xấu mất dần đi, những vết tích xấu xa của xã hội cũ, những tiêu chuẩn đạo đức đã lỗi thời và lạc hậu, những cái ác, cái xấu, cái vô đạo đức trong mỗi người và trong xã hội cần phải đẩy lùi.

Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh cũng vượt qua giới hạn chật hẹp trong phạm vi một quốc gia dân tộc, mở rộng trên phạm vi thế giới, đó là tinh thần quốc tế trong sáng và tình yêu thương con người, yêu thương đồng loại, đặc biệt là những người lao động, những người bị áp bức trên toàn thế giới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến xây dựng con người - nguồn lực quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội. Người chỉ rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa(26), “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(27). Theo Hồ Chí Minh, con người xã hội chủ nghĩa hay còn gọi là con người mới là con người toàn diện, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có ý thức làm chủ, có tinh thần tập thể, có tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình; có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa: trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, có tinh thần quốc tế trong sáng, lối sống lành mạnh; có tác phong xã hội chủ nghĩa: làm việc có kế hoạch, biện pháp, có quyết tâm, tổ chức, kỷ luật, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; không sợ khó, sợ khổ, làm việc vì lợi ích của xã hội, tập thể và của bản thân; không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ để xứng đáng là người chủ và người làm chủ.

Đối với Hồ Chí Minh, việc xây dựng con người phải đặt ra từ đầu và cần được quan tâm suốt quá trình phát triển của đất nước, vì vậy, không cần phải chờ cho kinh tế, văn hoá phát triển cao rồi mới xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, cũng không phải xây dựng xong con người xã hội chủ nghĩa rồi mới xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh có sức lay động hàng triệu con tim, khối óc không chỉ của những người Việt Nam mà còn với nhân dân yêu chuộng hòa bình và tiến bộ trên thế giới. Tư tưởng của Người không chỉ là sự cảm thông, chia sẻ với nỗi đau, mất mát, sự nhọc nhằn của con người mà quan trọng hơn cả là đã thức tỉnh, tổ chức họ đứng lên đấu tranh chống áp bức dân tộc, chống bất công xã hội, chống nghèo đói, lạc hậu, dốt nát, hướng tới độc lập, tự do, hạnh phúc bằng con đường thực sự cách mạng và khoa học, phản ảnh ước mơ nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với điều kiện thực tế của xã hội Việt Nam đồng thời phản ánh quy luật, xu hướng vận động của thời đại.

*

*     *

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từ biệt chúng ta về  với thế giới người hiền nhưng giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng của Người vẫn đang tỏa sáng cùng với dân tộc và thời đại. Tư tưởng của Người đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam; là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc. Giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng của Người là cơ sở để Đảng ta xây dựng chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại… nhằm xây dựng một nước Việt Nam phát triển, hướng tới con người, do con người và vì con người trong thời kỳ hội nhập và mở cửa. Nhiều luận điểm và mệnh đề trong tư tưởng nhân văn và phát triển của Người đang phản ảnh hơi thở của thời đại, là những giá trị mà nhân loại đang nỗ lực để hướng tới. Những giá trị nhân văn và phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ soi sáng cho con đường đi tới tương lai của dân tộc Việt Nam.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2015

(1), (10), (18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.130, 280, 672.

(2), (3), (7), (19), (23) Sđd, t.4, tr.3, 534, 64, 34-35, 7.

(4), (5), (9) Sđd, t.1, tr.491, 491, 48.

(6), (16) Sđd, t.12, tr.30, 402.

(8) Sđd, t.10, tr.453.

(11), (15), (17), (24) Sđd, t.5, tr.502, 289, 326, 292.

(13), Sđd, t.7, tr.445.

(20) Sđd, t.6, tr.212.

(21) Sđd, t.9, tr.518.

(22) Sđd, t.3, tr.458.

(25), (27) Sđd, t.11, tr.601, 528.

(26) Sđd, t.13, tr.66.

 

GS, TS TẠ NGỌC TẤN

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền