Trang chủ
Thứ bảy, 11 Tháng 12 2021 14:30
5026 Lượt xem

Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

(LLCT) - Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được, thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam thời gian qua còn có nhiều vướng mắc, bất cập về thể chế, do đó cần tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Tư duy của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII thể hiện rất rõ nhiều điểm mới có ý nghĩa lý luận sâu sắc về nội dung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

Bên cạnh những thành tựu, thực tiễn phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thời gian qua còn nhiều vướng mắc, bất cập về thể chế, cần tiếp tục hoàn thiện, đồng bộ. Ảnh: dangcongsan.vn

1. Sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam

Đại hội XIII của Đảng nhận định, thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc trong quá trình từng bước xây dựng thể chế, song còn hạn chế: “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, bất cập”(1). Biểu hiện của những bất cập đó được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ trên các khía cạnh cụ thể:

Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp. Môi trường đầu tư kinh doanh chưa thật sự thông thoáng, minh bạch. Chưa tạo được đột phá trong huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Thể chế phát triển, điều phối kinh tế vùng chưa được quan tâm và chậm được cụ thể hóa bằng pháp luật, nên liên kết vùng còn lỏng lẻo.

Nhiều doanh nghiệp nhà nước chậm thực hiện cơ cấu lại và đổi mới cơ chế quản trị; thoái vốn, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước còn một số vướng mắc cả về thể chế và tổ chức thực hiện; hiệu quả sản xuất kinh doanh còn thấp; tình trạng nợ, thua lỗ, lãng phí còn lớn; việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp còn hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ thấp, năng lực tài chính và quản trị yếu. Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu sử dụng công nghệ trung bình và tham gia vào quá trình gia công lắp ráp, còn thiếu sự gắn kết, chuyển giao công nghệ, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước phát triển. Hoạt động đổi mới, phát triển kinh tế hợp tác còn chậm, nhiều hợp tác xã chưa làm tốt vai trò liên kết, hỗ trợ kinh tế hộ gia đình.

Việc thực hiện cơ chế giá thị trường đối với một số hàng hóa, dịch vụ công còn lúng túng. Một số loại thị trường, phương thức giao dịch thị trường hiện đại chậm hình thành và phát triển, quá trình vận hành còn nhiều vướng mắc, chưa hiệu quả, đặc biệt là thị trường các yếu tố sản xuất. Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển chưa đồng bộ.

Hội nhập kinh tế quốc tế có một số mặt đạt hiệu quả chưa cao. Vốn vay nước ngoài giải ngân chậm, sử dụng dàn trải, lãng phí. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài thiếu chọn lọc; sự kết nối và chuyển giao công nghệ giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế. Xuất khẩu tăng nhanh, nhưng giá trị gia tăng còn thấp; việc bảo vệ thị trường trong nước, phòng ngừa, xử lý tranh chấp thương mại quốc tế còn nhiều bất cập.

Những hạn chế, bất cập trên cho thấy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là tất yếu trong bối cảnh hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, trong định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị; phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới; ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế số trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới, sáng tạo; gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”(2).

2. Nội dung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ những nội dung cốt lõi của việc hoàn thiện đồng bộ, toàn diện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN như sau:

Một là, thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Về nội hàm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, Đại hội XIII khẳng định: Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Về sở hữu và các thành phần kinh tế: Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: Kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Các nguồn lực kinh tế của Nhà nước được sử dụng phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đất nước và cơ bản được phân bổ theo cơ chế thị trường. Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào những lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

Vai trò của kinh tế tập thể: Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có phạm vi hoạt động rộng lớn, với vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên, liên kết, phối hợp sản xuất kinh doanh, bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện để các thành viên nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển bền vững. Tăng cường liên kết giữa các hợp tác xã, hình thành các hiệp hội, liên hiệp các hợp tác xã.

Vai trò của kinh tế tư nhân: Kinh tế tư nhân được khuyến khích ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, được hỗ trợ phát triển thành các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có sức cạnh tranh cao. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân hợp tác, liên kết với doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, kinh tế hộ; phát triển các công ty cổ phần có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể xã hội, nhất là người lao động.

Vai trò của kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Về mối quan hệ Nhà nước - thị trường -xã hội:

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ:

Nhà nước thực hiện các chức năng: Xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống của nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với yêu cầu và quy luật của nền kinh tế thị trường.

Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém.

Các tổ chức xã hội tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác, cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

Về xây dựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia

Thứ nhất, xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Thứ hai, hỗ trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, mô hình kinh doanh mới. Thứ ba, tập trung sửa đổi những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở phát triển kinh tế. Thứ tư, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, ủy quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân và nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành.

Về hoàn thiện thể chế, phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường

Về hoàn thiện thể chế, phát triển đầy đủ các yếu tố thị trường: Đại hội XIII của Đảng khẳng định: thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường đối với hàng hóa, dịch vụ, kể cả dịch vụ công cơ bản.

Về phát triển các loại thị trường: Phát triển thị trường các yếu tố sản xuất để thị trường đóng vai trò quyết định trong huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực. Phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ theo phương thức tổ chức, giao dịch văn minh, hiện đại, thương mại điện tử. Phát triển đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bảo hiểm... trên nền tảng công nghệ số với kết cấu hạ tầng, công nghệ và phương thức giao dịch hiện đại. Phát triển mạnh thị trường khoa học và công nghệ. Phát triển và quản lý chặt chẽ thị trường bất động sản; thị trường quyền sử dụng đất. Phát triển thị trường lao động linh hoạt gắn với cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội. Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp tham gia hình thành và điều tiết các quan hệ kinh tế thị trường. Xử lý tốt những bất cập của cơ chế thị trường, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái.

Về tiếp tục hoàn thiện thể chế, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Đẩy nhanh việc xử lý nợ, thoái vốn, cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước. Thúc đẩy đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, áp dụng chế độ quản trị doanh nghiệp hiện đại để nâng cao hiệu quả, đồng thời kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của doanh nghiệp, không để thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ, trang trại trong nông nghiệp. Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng thị trường, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc của người lao động và tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả các dự án đối tác công - tư trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng. Ưu tiên những dự án đầu tư nước ngoài có trình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng lao động có kỹ năng. Đầu tư vào những ngành, lĩnh vực cần ưu tiên phát triển; có liên kết, chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển, tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Ba là, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế

Điểm đặc sắc trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là đưa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là một nội dung của hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Tư duy về độc lập, tự chủ: Giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh trở thành nòng cốt của kinh tế đất nước. Giữ vững các cân đối lớn, chú trọng bảo đảm an ninh kinh tế. Không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia.

Về nâng cao hiệu quả hội nhập: Thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác nhất định. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài. Chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ cho nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế.

3. Giải pháp tổ chức thực hiện tốt chủ trương của Đại hội XIII về hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy thể chế và tư duy phát triển

Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay đặt ra yêu cầu phải kịp thời đổi mới tư duy và hành động, chuyển từ tư duy xin cho mang dấu ấn cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang tư duy thực hành phân bổ nguồn lực cũng như vận hành thể chế theo các tín hiệu thị trường; thực hiện tốt công tác dự báo, bảo đảm đánh giá đúng, đầy đủ, kịp thời, chủ động thích ứng với những biến động khó lường của thế giới. Phát huy tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, trong đó nội lực là nhân tố quyết định. Thể chế pháp luật phải được xây dựng cơ bản đầy đủ, đồng bộ với tư duy mới, phù hợp với thực tiễn, việc tổ chức thực hiện pháp luật diễn ra nghiêm túc, hiệu quả; cải cách bộ máy chính quyền các cấp, xây dựng nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động là nền tảng. Coi trọng đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu quả, nhất là quản lý phát triển và quản lý xã hội.

Con người làm trung tâm của sự phát triển và được thụ hưởng những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân. Thực tế công tác phòng, chống đại dịch Covid-19 và khắc phục hậu quả thiên tai cho thấy, muốn thành công phải phát huy được tinh thần đoàn kết, nhân ái của nhân dân cả nước, cộng đồng, doanh nghiệp, cùng chung tay hành động, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng và phát huy mạnh mẽ thế trận lòng dân, quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và các giá trị văn hóa dân tộc. Xác định giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo là nền tảng quan trọng và là động lực chủ yếu để phát triển đất nước bắt kịp khu vực và thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu.

Hai là, thực hiện đồng bộ các giải pháp để hoàn thiện các yếu tố cấu thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN phù hợp với cấp độ quản trị đất nước

Thực hiện theo thẩm quyền trên tinh thần đổi mới sáng tạo nhằm tạo ra sự đồng bộ về cơ chế, chính sách, thi hành nghiêm pháp luật, bảo đảm tiến độ, chất lượng, đầy đủ, khả thi, chi phí phù hợp trong quá trình áp dụng pháp luật tại các cấp địa phương. Các cấp, các ngành cần chủ động tham gia vào quá trình xác lập thể chế sở hữu, các thành phần kinh tế, đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho sự ra đời, phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Các cấp chính quyền địa phương cần đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị theo hướng chuyển giao dần những công việc mà chính quyền không nhất thiết phải làm cho các tổ chức xã hội, chuyển đổi cung cấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng. Đổi mới phân cấp, phân quyền và nâng cao hiệu quả phối hợp trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Chính quyền địa phương giữ vai trò định hướng phát triển, tập trung thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, giải quyết các vấn đề xã hội, thực thi pháp luật, cải thiện môi trường kinh doanh và bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn. Cần tích cực vào cuộc trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi số, đẩy nhanh việc xây dựng các khung cơ chế, áp dụng chính quyền điện tử, hoàn thiện cơ chế về các giao dịch mới, xây dựng cơ sở dữ liệu quan trọng và đưa vào kết nối nền tảng dữ liệu quốc gia. Thực hiện sáng tạo trong việc sử dụng nguồn lực đầu tư, ưu tiên thu hút nguồn lực xã hội để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương phù hợp với quy định của pháp luật và cơ chế bảo vệ đổi mới, sáng tạo. Thực hiện chế độ quản trị các đô thị, các vùng kinh tế thông suốt, hạn chế phiền hà, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước tại địa phương.

Thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát, thống kê, kiểm soát phù hợp với chuẩn mực quốc gia, quốc tế, nâng cao chất lượng công tác phân tích, dự báo, nắm bắt tình hình phát triển kinh tế thị trường địa phương, thống kê chính xác sự phát triển kinh tế địa phương để có các quyết định quản trị địa phương sát hợp. Thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển địa phương một cách khoa học, có tầm nhìn nhất quán, thống nhất với lợi ích phát triển lâu dài của quốc gia, dân tộc. Việc lựa chọn đầu tư, giao, cho thuê mặt bằng đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh với môi trường thông thoáng, chú ý với các chủ thể nước ngoài trong lựa chọn, thu hút đầu tư nhằm tránh những hệ lụy lâu dài.

Ba là, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, áp dụng hiệu quả các nguyên tắc thị trường trong xác lập cơ chế quản lý khai thác nguồn lực, gắn thúc đẩy tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội

Về xác lập thể chế huy động và sử dụng nguồn lực:

Thu hút tối đa các nguồn lực đầu tư, đa dạng hóa các hình thức huy động và sử dụng nguồn lực đầu tư, nhất là các nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước. Các nguồn lực kinh tế phải được đánh giá, thống kê, hạch toán đầy đủ nhằm quản lý, bảo vệ, khai thác sử dụng tiết kiệm, hợp lý và bền vững. Áp dụng nguyên tắc thị trường trong quản lý, khai thác, sử dụng và phân bổ các nguồn lực, khuyến khích, thu hút đầu tư ngoài ngân sách phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông.

Các địa phương cần tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng cả về quy mô, chất lượng. Điều chỉnh các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp theo hướng thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, mang tầm nhìn nhất quán, phù hợp với chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam đã cam kết. Chú trọng chuyển đổi tư duy thu hút đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, sử dụng mô hình quản trị hiện đại, có chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo tác động lan tỏa và kết nối chặt chẽ với khu vực kinh tế trong nước gắn với từng địa phương.

Phát triển các cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm địa phương cũng như nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Xây dựng các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Xây dựng cơ chế bình đẳng trong thu hút doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Không xem xét mở rộng, gia hạn hoạt động đối với những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiềm môi trường, thâm dụng tài nguyên...

Về thực hiện xác lập sự gắn kết giữa tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội

Kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi sự gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội. Quá trình này yêu cầu sự tham gia của tất cả các cấp, các ngành, đặc biệt là các cấp chính quyền địa phương cũng như nhân dân. Muốn vậy, trước hết phải gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ hài hòa trong huy động các nguồn lực phát triển địa phương. Thuận lợi hóa các quy trình thực hiện thụ hưởng thành quả phát triển cho nhân dân.

Đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo sâu rộng, khơi dậy ý chí vươn lên của người nghèo, hộ nghèo; tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ Nhà nước, của cộng đồng để tích hợp kết quả trong giảm nghèo bền vững tại địa phương. Chú ý thỏa đáng quyền lợi hợp lý của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương, người có công, xử lý dứt điểm các tồn đọng về xác nhận, công nhận người có công, tạo sự đồng thuận trong nhân dân về tính ưu việt của kinh tế thị trường định hướng XHCN và chế độ xã hội XHCN Việt Nam.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2021                       

Ngày nhận bài: 28-7-2021; Ngày phản biện: 04-8-2021; Ngày duyệt đăng: 16-9-2021.

(1), (2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.80, 114-115.

PGS, TS NGÔ TUẤN NGHĨA

Viện Kinh tế chính trị học,

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền