Trang chủ    Cùng bạn đọc    Khắc phục bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay
Thứ năm, 03 Tháng 9 2020 15:03
274 Lượt xem

Khắc phục bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay

1. Lý luận và tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên

Trong “diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc” ngày 07-9-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy, V.I.Lênin, người thầy vĩ đại của chúng ta đã tóm tắt sự quan trọng của lý luận trong mấy câu như sau: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”(1)và “Chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiền phong... xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc tổ chức học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng”(2). Từ nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dạy tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị, song vấn đề đặt ra là: Lý luận là gì? Vì sao phải học tập lý luận?

- Lý luận là gì? Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luậnlà sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử. Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân từ trước đến nay của tất cả các nước”(3). Nó là: “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”(4).

- Vì sao phải học tập lý luận? Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”(5). Và, vì “Đảng ta còn có nhiều nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém... vì trình độ lý luận thấp kém cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo, Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm”(6).

Người cũng chỉ rõ: “Vì không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng”(7). Do “vì kém lý luận, cho nên gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”(8), thậm chí, do không nắm vững lý luận nhiều cán bộ mắc bệnh ba hoa, kết quả là “...một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác”(9).

Với tầm quan trọng trên, có thể khẳng định, việc nghiên cứu, học tập lý luận chính trị có vai trò hết sức quan trọng; là công việc khẩn thiết, cấp bách, đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài của cả hệ thống chính trị mà trước hết là từ mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng.

2. Nhận diện biểu hiện lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “...Trong Đảng ta hiện nay còn có nhiều người chỉ biết vùi đầu suốt ngày vào công tác sự vụ, không nhận thấy sự quan trọng của lý luận, cho nên còn có hiện tượng xem thường học tập hoặc là không kiên quyết tìm biện pháp để điều hòa công tác và học tập. Hoặc là, sau một thời kỳ học tập tại chức có cán bộ phàn nàn trước những khó khăn của việc đọc tài liệu, khó khăn đào sâu suy nghĩ, nhất là đối với những người trình độ văn hóa còn kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ. Hoặc vì chúng ta đã áp dụng một số kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo, không có kết quả, cho nên thiếu tin tưởng đối với sự cần thiết phải học tập lý luận, v.v..”(10). Từ thực trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên còn ngại học lý luận chính trị, ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã yêu cầu: “Đảng phải chống cái thói xem nhẹ học tập lý luận”(11), “Đảng ta phải tự nâng cao mình lên nữa, mà muốn tự nâng cao mình thì phải tổ chức học tập lý luận trong toàn Đảng, trước hết là trong cán bộ cốt cán của Đảng”(12).

Sau 30 năm đổi mới đất nước, nhận diện những biểu hiện lười học lý, ngại học lý luận, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có chỉ rõ biểu hiện thứ ba là: “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(13). Thực tế công tác đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt là tại Học viện Chính trị khu vực I trong nhiều năm qua cho thấy, tình trạng “ngại học, lười học lý luận chính trị” của cán bộ, đảng viên được biểu hiện như sau:

1) Nhiều học viên nhận thức chỉ cần chú ý đến học tập chuyên môn, nghiệp vụ gắn với công việc mình đảm trách, ít quan tâm hoặc không hề quan tâm đến học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị; chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của việc học tập lý luận chính trị, thậm chí cá biệt có học viên còn cho rằng đó là việc làm “vô ích” gây lãng phí thời gian công việc chuyên môn.

2)Học tập, nghiên cứu lý luận chính trị chưa thực sự nghiêm túc, còn thực hiện qua loa, đại khái, chiếu lệ, hình thức. Tư tưởng học để có bằng đủ điều kiện để đề bạt, bổ nhiệm trong công tác cán bộ, chính vì vậy, chưa thật sự toàn tâm, toàn ý cho việc nghiên cứu, học tập. 

3)Chưa chấp hành tốt kỷ luật, kỷ cương trong nghiên cứu, học tập. Nhiều học viên chưa chuyên tâm học tập, hiện tượng mất tập trung, làm việc riêng, vừa học vừa điều hành hoặc giải quyết công việc của cơ quan; trong quá trình học tập trên giảng đường nhiều học viên còn chưa tích cực tham gia trao đổi, thảo luận, không nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp; bài thi, thu hoạch thực tế không trên cơ sở tự tìm tòi, nghiên cứu, còn có tình trạng quay cóp, sao chép nên chất lượng học tập lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên chưa cao.

4)Học không đi đôi với hành; lý luận chưa gắn liền với thực tiễn. Nội dung, tri thức lý luận chính trị chưa được cán bộ, đảng viên vận dụng thiết thực vào thực tiễn công tác với tư cách là “cẩm nang” định hướng giải quyết các vấn đề phát sinh, đòi hỏi của thực tiễn địa phương, đơn vị mình.

Phân tích nguyên nhân của tình trạng “ngại học, lười học lý luận chính trị” theo chúng tôi, xuất phát từ những lý do cơ bản sau:

1) Về phía người học: xác định mục tiêu, động cơ học tập lý luận chính trị không rõ ràng (chỉ coi học tập lý luận chính trị để lấy bằng cấp, đáp ứng tiêu chuẩn đề bạt, cất nhắc, thăng tiến theo quy định của tổ chức), nên chưa có được động cơ học tập trong sáng, chưa hình thành ý thức tự giác trong học tập.

2)Về phía các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng: việc mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn liền với nâng cao chất lượng. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng chậm được đổi mới, bổ sung, cập nhật, còn trùng lặp, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn, rèn luyện tư tưởng chính trị, đạo đức, phong cách lãnh đạo, quản lý. Phương pháp giảng dạy, học tập chậm được đổi mới, nặng về truyền đạt kiến thức, chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học viên. Thiếu sự liên thông giữa các cấp học, các hệ đào tạo dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Quản lý đào tạo còn có mặt yếu kém, nhất là quản lý tự học của học viên. Chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đào tạo còn có mặt hạn chế. Điều kiện vật chất, kỹ thuật ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu thốn, chưa đáp ứng tốt yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học lý luận chính trị.

3) Về phía địa phương, đơn vị cử cán bộ tham gia đào tạo, bồi dưỡng: còn có tình trạng (mặc dù không nhiều) chưa chọn, cử đúng, trúng đối tượng tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (việc quy hoạch, lựa chọn cán bộ cử đi học chưa công khai, minh bạch, thiếu khách quan); chưa quan tâm, tạo điều kiện tối đa để cán bộ, đảng viên yên tâm, tích cực học tập; còn có sự chồng chéo việc sử dụng cán bộ thực hiện công việc tại cơ quan, đơn vị/địa phương với việc tạo điều kiện để học viên toàn tâm, toàn ý cho việc học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị khi được cử đi học tập, bồi dưỡng; chưa có chiến lược, kế hoạch để sử dụng và tạo điều kiện để học viên sau khi hoàn thành các khóa học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị vận dụng các tri thức lý luận vào phục vụ công việc thực tiễn của địa phương, đơn vị.

3. Một số đề xuất nhằm khắc phục tình trạng lười học, ngại học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên

Để khắc phục bệnh ngại học, lười học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên hiện nay, Đảng ta đã chỉ rõ: “Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương”(14). Từ thực tiễn đào tạo, bồi dưỡng tại hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói chung, Học viện Chính trị khu vực I nói riêng, theo chúng tôi, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất,cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Đây là giải pháp căn cơ, lâu dài để khắc phục “bệnh lười học, ngại học lý luận chính trị hiện nay”. Chú trọng hơn nữa công tác quản lý, giáo dục, tuyên truyền để cán bộ, đảng viên nhận thức và ý thức rõ việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận là quyền lợi và trách nhiệm của mình; coi đó là nhu cầu tự thân, việc làm thường xuyên, liên tục, bền bỉ suốt cuộc đời, không bao giờ là đủ. Kiên quyết đấu tranh, khắc phục triệt để cách nhìn nhận học lý luận chính trị vì lý do thăng tiến, lấy bằng cấp, để đáp ứng tiêu chuẩn được đề bạt, bổ nhiệm lên những vị trí cao hơn.

Thứ hai,đổi mới toàn diện công tác giáo dục lý luận chính trị trong toàn Đảng và hệ thống chính trị. Đây là giải pháp quan trọng, tác động trực tiếp đến các chủ thể của công tác giáo dục lý luận chính trị. Những năm gần đây, chương trình, nội dung cũng như các giáo trình, tài liệu giáo dục lý luận chính trị của Đảng đã có nhiều đổi mới, song, vẫn còn nặng về lý luận chung và những kiến thức tổng quát, mang tầm vĩ mô. Trong khi đó, những kiến thức về các chủ trương mới, cách làm hay, sáng tạo ở các địa phương, các cơ quan, ngành nghề cụ thể, nhất là các kỹ năng giải quyết công việc thực tế của cán bộ, kỹ năng xử lý tình huống chính trị,... thường chiếm dung lượng nhỏ, sơ sài, thậm chí cách giải quyết vấn đề còn chưa rõ, thiếu tính thực tiễn, v.v.. Để giải quyết vấn đề đó, thời gian tới, các cơ quan chức năng, các học viện, nhà trường, đội ngũ giáo viên, báo cáo viên cần chú trọng nghiên cứu đổi mới chương trình, nội dung theo hướng thiết thực, gắn với thực tiễn sinh động. Theo đó, lý luận chính trị phải góp phần giải quyết, lý giải những vấn đề mới, hóc búa từ thực tiễn đặt ra cả ở tầm vĩ mô và vi mô, kể cả việc vận dụng trong giải quyết những công việc cụ thể. Có như vậy, việc học lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên mới có ý nghĩa thực sự và tránh được tình trạng “dạy chính trị thì mênh mông mà không thiết thực, học rồi không dùng được”, hoặc “lý luận suông”.

Thứ ba,coi trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp về phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn. Đây là vấn đề quan trọng, góp phần trực tiếp nhất để khắc phục tình trạng ngại học, lười học tập lý luận chính trị trong cán bộ, đảng viên hiện nay. Đội ngũ cán bộ làm công tác này phải là những người có đủ phẩm chất đạo đức và tài năng, chuyên môn, mỗi cán bộ, giảng viên phải là tấm gương “tự học và sáng tạo”, dày dạn kinh nghiệm thực tiễn, am tường lý luận sâu sắc, có năng lực sư phạm tốt, phương pháp truyền đạt hấp dẫn để cuốn hút người học, góp phần khắc phục bệnh lười học của cán bộ, đảng viên.

Thứ tư,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cần đổi mới mạnh mẽ hơn nữa nhằm bảo đảm bản chất Trường Đảng:

- Cần nhận thức sâu sắc về sứ mệnh, mục tiêu: Học viện là Trường Đảng có sứ mệnh ưu tiên hàng đầu là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý cho Đảng và toàn hệ thống chính trị thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ngang tầm nhiệm vụ, tuyệt đối trung thành với lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

- Đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chú trọng
các mặt:

+ Xác định rõ đối tượng đào tạo. Đối tượng đào tạo ở Trường Đảng phải là những chiến sĩ tiên tiến nhất, những người đứng đầu tổ chức, phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. Tiếp cận về đối tượng đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong xác định tiêu chuẩn xét tuyển và xác định những tố chất cần bổ sung khi được tham gia đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện ở Trường Đảng.

+ Đổi mới nội dung đào tạo lý luận chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở, dạy học ở Trường Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc. Song, dạy - học ở Trường Đảng phải rút ra được lập trường, quan điểm, phương pháp để giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra; đồng thời, học tập ở Trường Đảng còn học tập quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; những kinh nghiệm, tổng kết cách mạng trong nước cũng như thế giới; tinh hoa văn hóa nhân loại, những lý thuyết mới, mô hình thành công các nước trên thế giới để áp dụng một cách sáng tạo, nhằm tránh mò mẫm trong thực hành, khắc phục bệnh giáo điều, xa rời thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo.

+ Đổi mới phương pháp đào tạo, huấn luyện cán bộ. Nguyên tắc đổi mới phương pháp dạy học ở Trường Đảng là lý luận phải gắn liền thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy, phương pháp giảng dạy và học tập ở Trường Đảng là: “Dùng lý luận đã học được để phân tích những thắng lợi và thất bại trong công tác, những mặt đúng mặt sai trong tư tưởng, phân tích một cách toàn diện và tìm nguồn gốc đúng sai về lập trường, quan điểm và phương pháp của mình. Làm như thế là tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn”(15). Như thế, phương pháp giảng dạy ở Trường Đảng cần phải tăng cường thảo luận, đối thoại, định hướng tư tưởng, tăng cường sử dụng nguyên tắc tự phê bình và phê bình để cải tạo phương pháp học tập của bản thân, tránh lối dạy truyền thụ, nhồi nhét; học giáo điều, sách vở, xa rời thực tiễn. Cần đổi mới phương pháp rèn luyện phong cách, bản lĩnh người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Điều căn bản của phương pháp rèn luyện cán bộ ở Trường Đảng phải là hướng tới mục tiêu rèn luyện bản lĩnh chính trị. Vì thế, trong quá trình học tập ở Trường Đảng cần có phương pháp, cách thức rèn luyện bản lĩnh cho người học để có phương pháp, cách thức giải quyết những tình huống khó, phức tạp trong lãnh đạo, quản lý; cần có những phương pháp tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng suốt đời.

+ Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Do là trường lý luận của Đảng, đào tạo những người đứng đầu của tổ chức, với những trải nghiệm, kinh nghiệm, tri thức phong phú, nên giảng viên của Trường Đảng phải là những người có trình độ lý luận cao, thực tiễn xuất sắc, phải là những người tinh hoa nhất trên phạm vi cả nước. Bằng những quyết sách của Đảng, có thể tập trung cán bộ giỏi nhất trên phạm vi cả nước về làm công tác giảng dạy ở Trường Đảng. Giảng viên Trường Đảng gồm giảng viên cơ hữu và giảng viên, báo cáo viên thỉnh giảng. Đối với giảng viên cơ hữu nên đặt ra tiêu chí tuyển chọn, đánh giá rõ ràng; phải là những người mẫu mực về bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng; có phẩm chất, tiêu chuẩn của nhà sư phạm, nhà khoa học, nhà hoạt động tổng kết thực tiễn. Căn cứ vào yêu cầu về đối tượng, nội dung và phương pháp đào tạo, cần xây dựng bộ tiêu chí cho giảng viên Trường Đảng; thậm chí, các yêu cầu về chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư phải gắn bản chất trường đào tạo lý luận của Đảng, tránh đồng nhất tiêu chí giảng viên Trường Đảng với tiêu chí của các cơ sở thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đối với giảng viên, báo cáo viên thỉnh giảng, nên quy định là các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, là các nhà hoạt động chính trị nổi bật, các nhà khoa học đầu ngành ở các lĩnh vực, các doanh nhân thành đạt, có uy tín, có trách nhiệm xã hội. Nên chăng có quy định số giờ tham gia giảng dạy, báo cáo của giảng viên, báo cáo viên thỉnh giảng để đảm bảo chất lượng công tác huấn luyện cán bộ.

+ Xây dựng môi trường văn hóa Trường Đảng, ứng xử văn minh, thân thiện, nhân văn để nhà trường trở thành địa chỉ đỏ về rèn luyện lý tưởng về đạo đức, phẩm chất cách mạng, trình độ lý luận chính trị, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho mỗi học viên đến học tập tại đây.

Thứ năm, đối với người học: cần phải xác định đúng động cơ, mục đích của việc học tập lý luận chính trị; tích cực đóng góp ý kiến trong xây dựng bài học, tiếp thu bài giảng của giảng viên, ý kiến của bạn bè để có thêm những bài học kinh nghiệm cho bản thân; gắn những tri thức thu được vào thực tiễn công tác; không ngừng phấn đấu, tu dưỡng đạo đức cách mạng, trình độ lý luận chính trị, kỹ năng, phương pháp luận thông qua con đường tự học tập, tự nghiên cứu gắn với sự định hướng, dẫn dắt của đội ngũ thầy giáo, cô giáo.

Thứ sáu, đối với các cấp ủy địa phương, cơ quan, đơn vị quản lý, sử dụng cán bộ đi học: cần quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tạo sự thống nhất trong hệ thống chính trị và hệ thống các cơ sở đào tạo; tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp và cán bộ, đảng viên về mục tiêu, yêu cầu và tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; thường xuyên chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, gắn việc xây dựng quy hoạch cán bộ với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh của từng giai đoạn. Chọn, cử cán bộ đi đào tạo đúng đối tượng, thiết thực, tránh tràn lan, gây tốn kém, lãng phí. Xác định rõ trách nhiệm của các địa phương, cơ quan, đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Thực hiện nghiêm việc phân cấp đối tượng đào tạo, gắn với thẩm định tiêu chuẩn cán bộ cử đi đào tạo, bồi dưỡng (việc cử đối tượng đi học phải công khai, minh bạch, đúng tiêu chuẩn, tránh sự cả nể, cử không đúng người, gây lãng phí thời gian, nhân lực). Phối hợp chặt chẽ với đơn vị đào tạo tiến hành nghiêm túc kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả học tập của cán bộ, đảng viên được cử đi học. Coi trọng và có kế hoạch bố trí, tạo điều kiện để cán bộ vận dụng kết quả học tập vào thực tiễn công tác. Lấy kết quả học tập, ý thức rèn luyện trong quá trình học tập là một tiêu chí để đánh giá cán bộ.

Thứ bảy,tiếp tục rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, tạo điều kiện tốt nhất cho việc nghiên cứu, học tập lý luận chính trị đáp ứng yêu cầu. Theo đó, cần tập trung vào các nhiệm vụ như: rà soát, bổ sung các quy chế, quy định về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, về phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương, cơ sở đào tạo trong nghiên cứu, tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, quản lý và tổ chức đào tạo. Thống nhất quy định tiêu chuẩn về trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở và tương đương phải tốt nghiệp Trung cấp lý luận chính trị. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và tương đương trở lên phải tốt nghiệp Cao cấp lý luận chính trị. Bổ sung cơ chế, chính sách tài chính về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị bảo đảm sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước. Từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng...

__________________

Tham luận tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh lần thứ III, nhiệm kỳ 2020-2025

(1), (2), (3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.11, tr.93; 93; 96.

(4), (5), (6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.11, tr.96; 90; 90-91.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.8, tr.280.

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.5, tr.274.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.3, tr.110.

(10), (12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.11, tr.94; 91.

(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.8, tr.280.

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lầ̀n thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2016, tr.28.

(14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hộ̣i nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2016, tr.36-37.

(15) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.11, tr.96.

PGS, TS Nguyễn Vĩnh Thanh
Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ;
Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực I

 

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền