Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức
Thứ tư, 15 Tháng 7 2015 16:06
1366 Lượt xem

Truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức

(LLCT) - Truyền thống là cơ sở, là tiền đề của hiện đại hóa. Đạo đức truyền thống là nền tảng xuất phát của đạo đức mới. Mặt khác, giữa truyền thống và hiện đại cũng có sự đối lập và xung đột lẫn nhau. Trong giáo dục đạo đức, cần kết hợp cả hai yếu tố để đảm bảo thành công.

 

1. Đạo đức truyền thống và hiện đại

Trong đời sống xã hội, nội dung của truyền thống là cái được kế thừa, còn mục tiêu của cả quá trình kế thừa và đổi mới là tiến tới sự phù hợp với điều kiện hiện đại. Đạo đức truyền thống là “gạch nối” giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Nếu truyền thống - hay đạo đức truyền thống là cái đã có từ trước và những phẩm chất đạo đức của ngày hôm nay là “cái mới”, cái hiện tại của xã hội hiện đại thì giữa chúng luôn có mối liên hệ biện chứng, ràng buộc chặt chẽ, hữu cơ. Mối quan hệ này có tính hai mặt: Một mặt, truyền thống và hiện đại thích ứng, hài hòa và thúc đẩy lẫn nhau; mặt khác, giữa truyền thống và hiện đại có sự xung đột và đối lập.

Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại - giữa đạo đức truyền thống và đạo đức mới được thể hiện ở những khía cạnh sau:

Truyền thống là cơ sở, là tiền đề của hiện đại hóa. Đạo đức truyền thống là nền tảng xuất phát của đạo đức mới. Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Đạo đức cách mạng ngày nay không phủ nhận đạo đức truyền thống. Trái lại, đạo đức cách mạng ngày nay được hình thành và phát triển trong những điều kiện chính sau đây: Thứ nhất, là sự thịnh vượng của đạo đức truyền thống được xem là tiền đề, là cơ sở trực tiếp”(1).

Những giá trị truyền thống dân tộc là động lực và là ngọn nguồn phát triển của dân tộc, tạo nên sức mạnh, tinh thần và bản lĩnh dân tộc, kích thích dân tộc vươn lên trong mọi hoàn cảnh, trong chiến tranh chống kẻ thù xâm lược cũng như trong xây dựng đất nước đầy khó khăn, phức tạp. Điều này không chỉ được chứng minh trong lịch sử hào hùng của dân tộc ta mà còn thể hiện rõ qua lịch sử của nhiều dân tộc khác trên thế giới.

Những hạt nhân hợp lý, những cái hay, cái tốt, cái tiến bộ của truyền thống vẫn giữ vai trò quan trọng cho việc hình thành cái mới, cái hiện tại và thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa; những giá trị đạo đức truyền thống tạo điều kiện cho nền đạo đức mới được khẳng định và phát triển.

Trong truyền thống lâu đời của mỗi dân tộc có những yếu tố phản ánh tính dân tộc, có những yếu tố mang tính nhân loại (và thời đại). Các yếu tố này vẫn có điều kiện thể hiện, phát huy sức sống trong môi trường hiện đại. Các nước phương Đông vốn có truyền thống lâu đời về tính cộng đồng, đoàn kết hợp tác, kỷ luật nghiêm minh, cần cù chịu khó… Các truyền thống này được phát huy góp phần làm cho nhiều nước ở khu vực vượt qua khó khăn, vươn lên thành các “con Rồng châu Á”. Ở nước ta cũng vậy, từ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, nhìn về truyền thống chúng ta thấy trong đó có nhiều giá trị cần được tiếp tục phát huy, đó là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí tự lực tự cường, cần cù, sáng tạo trong lao động; hiếu học, tôn sư trọng đạo, nhân ái khoan dung…

Mặt khác, giữa truyền thống và hiện đại cũng có sự đối lập và xung đột lẫn nhau. Có những yếu tố truyền thống không còn thích ứng với xã hội hôm nay; có những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức vốn được coi trọng trong quá khứ nay không còn phù hợp với điều kiện mới; thậm chí, có những yếu tố truyền thống là vật cản đối với quá trình đổi mới đất nước.

Truyền thống và hiện đại là đại biểu cho các thời đại khác nhau, bắt nguồn từ những điều kiện lịch sử - xã hội khác nhau. Truyền thống Việt Nam hình thành và phát triển dần dần trong một xã hội có nền kinh tế tiểu nông truyền thống, với thiết chế cộng đồng làng xóm và nền văn minh tiền công nghiệp. Chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm cũng để lại những dấu ấn nặng nề trong sự phát triển của tư tưởng, đạo đức. Ngày nay, một số tàn tích của nó vẫn ảnh hưởng trong xã hội, đó là tác phong tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, tôn trọng pháp luật, ít coi trọng tính độc lập, sáng tạo của cá nhân, tâm lý bình quân chủ nghĩa…

Xung đột giữa truyền thống và hiện đại còn biểu hiện ở sự “xung đột thế hệ”: giữa thế hệ đi trước với thế hệ sau, giữa thế hệ già và thế hệ trẻ. “Thế hệ già” thường gắn bó nhiều hơn với truyền thống, với những gì đã trở nên ổn định, thường không tin tưởng và không mong muốn vào những biến động nào đó của xã hội và hay có những phản ứng “đề phòng” đối với những điều mới mẻ của xã hội hiện đại. Còn “thế hệ trẻ”, trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, với những biến động nhanh chóng về xã hội, chính trị và dưới ảnh hưởng của các xu hướng giao lưu, hội nhập quốc tế, rất dễ bị tác động từ nhiều phía, dễ bị mất phương hướng trong thái độ đối với truyền thống và tìm cách thích nghi với hoàn cảnh. Từ đó, đang diễn ra sự khác biệt giữa các thế hệ - cả về định hướng giá trị, cả về phong cách sống, thị hiếu, thời trang… Những khác biệt, mâu thuẫn trên cũng là hiện tượng khách quan, và chỉ có thông qua quá trình giải quyết chúng thì đạo đức mới có được bước phát triển từ “chất” cũ sang “chất” mới. Chính các yếu tố khác biệt như vậy tạo xung lực cho sự phát triển của đời sống đạo đức con người.

2. Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức

Về nội dung giáo dục

Công tác giáo dục đạo đức phải khắc phục đồng thời cả hai khuynh hướng cực đoan: hoặc là theo chủ nghĩa truyền thống, chỉ ca ngợi, đề cao và phục hồi truyền thống theo kiểu một chiều trong một môi trường đóng cửa, khép kín; hoặc làđón nhận, tiếp thu những yếu tố mới, hiện đại không có chọn lọc, không cân nhắc, chạy theo “hiện đại hóa” bằng bất cứ giá nào. Chúng ta coi trọng và giáo dục truyền thống chứ không theo chủ nghĩa bảo thủ; tiếp nhận các giá trị hiện đại phù hợp chứ không theo “chủ nghĩa hiện đại” lai căng. Nhiệm vụ của những người làm công tác giáo dục là kế thừa và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc; đồng thời tiếp thu và kết hợp với những giá trị tiến bộ của thời đại (cả của trong nước và từ nước ngoài). Điều đó vừa giúp chúng ta bảo tồn và phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc, vừa làm chúng phong phú hơn nhờ sức mạnh ngoại sinh; đào tạo nên một lớp người mới có đủ khả năng và bản lĩnh thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Từ những năm đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong di sản văn hóa truyền thống có những giá trị cơ bản, đặc sắc, độc đáo. Nhưng nó là nền văn hóa xây dựng trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp nên cũng có nhiều điểm hạn chế, thiếu hụt. Do đó, phải “nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật”, phải xây dựng “đời sống mới”, “nền văn hóa mới” và “con người mới”. Người viết tác phẩm Đời sống mớiđể hướng dẫn, giáo dục lối sống mới cho mọi tầng lớp nhân dân.

Trong quan điểm về kế thừa và đổi mới, Người luôn tự khẳng định tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn có ý thức “gạn đục khơi trong”, “đãi cát tìm vàng”, tìm “hạt nhân hợp lý” để phát triển, đổi mới chúng cho phù hợp với thực tiễn dân tộc Việt Nam và xu thế thời đại. Người chỉ rõ: “Đời sống mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà hay thì ta phải làm”(2).

Ở đây, Người đã có sự phân biệt giữa “cái cũ mà xấu” với “cái cũ mà không xấu” và “cái mới mà hay”… Suy ra cũng có những “cái mới mà không hay”. Luận điểm này có ý nghĩa chỉ đường, hướng dẫn cho công tác giáo dục đạo đức trong việc đánh giá và tiếp thu “cái cũ”, “cái mới”. “Cái cũ” có thể coi là những phẩm chất, thói quen, tập quán… đã có từ lâu đời - là truyền thống, bao gồm tinh thần yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng, lòng nhân ái thương người, đức tính cần cù trong lao động, tinh thần lạc quan… Đó là những cái “cũ mà tốt”, cần được gìn giữ và phát triển. Còn với những cái “cũ mà xấu” thì sao? Người nói: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp nó, mà phải cải tạo nó một cách rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài”(3).

Trong điều kiện ngày nay, nhiều phẩm chất đạo đức mới đang dần dần hình thành và khẳng định, đòi hỏi công tác giáo dục đạo đức phải nắm bắt được và đưa vào nội dung giáo dục. Đó là những khái niệm, chuẩn mực mới như “đạo đức sinh thái”, “đạo đức kinh doanh”…

Người Việt Nam vốn gắn bó và yêu quý thiên nhiên, coi thiên thời, địa lợi, nhân hòa là điều kiện để mọi hoạt động của mình đạt kết quả tốt đẹp. Họ sống dựa nhiều vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của mình. Trong điều kiện hiện nay, khi bước vào nền kinh tế thị trường, CNH, HĐH thì vấn đề môi trường, sinh thái đang chịu một sức ép nặng nề từ tình trạng khai thác ồ ạt, vô tổ chức vì những lợi ích trước mắt. Đây là vấn đề mang tính toàn cầu, mang tính sống còn của nhân loại; bởi vậy, hơn lúc nào hết, công tác giáo dục đạo đức đặt ra nội dung về “đạo đức sinh thái” với mục đích làm cho đối tượng nhận thức được tầm quan trọng của môi trường xung quanh đối với cuộc sống con người, để từ đó có thái độ và hành động đúng đắn trong việc giữ gìn, bảo vệ, khai thác các tài nguyên thiên nhiên vì cả lợi ích trước mắt và mai sau.

Trong lịch sử nước ta, một nước có nền sản xuất tiểu nông là cơ sở kinh tế, hoạt động thương mại và người kinh doanh không được coi trọng, thậm chí còn chịu những thành kiến. Trong thời kỳ bao cấp, hoạt động thương mại không được chú trọng bằng các lĩnh vực hoạt động khác. Kinh tế thị trường đã làm thay đổi vị thế của người kinh doanh, doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa được xác lập vững chắc, còn có tình trạng nhà kinh doanh và doanh nghiệp làm ăn bất chính, vi phạm những nguyên tắc đạo đức đích thực của con người thì cùng với việc phát huy tính năng động, sáng tạo của cá nhân cần phải xây dựng những chuẩn mực đạo đức kinh doanh - có thể kết hợp những giá trị truyền thống với yêu cầu của xã hội hiện đại trên cơ sở “làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng, cái tốt, cái đẹp”. Điều đó đòi hỏi các doanh nhân, các doanh nghiệp phải gắn lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng, quyền lợi cá nhân với nghĩa vụ xã hội, mục đích lợi nhuận với các mục đích xã hội khác; là thái độ trung thực, tôn trọng con người, giữ chữ tín trong kinh doanh, cạnh tranh đúng luật và lành mạnh... Như vậy, đạo đức kinh doanh cũng là một nội dung mới cần được phổ biến trong xã hội.

Về phương pháp giáo dục

Quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức và xây dựng đạo đức mới còn được vận dụng vào phương pháp giáo dục sao cho có hiệu quả nhất. Một mặt, các phương pháp giáo dục truyền thống vẫn có tác dụng và kết quả cao trong điều kiện mới ngày nay. Đó là các phương pháp “dạy người” như tu thân, nêu gương, dạy từ thấp đến cao, dạy từ gia đình ra xã hội…

Mặt khác, các phương pháp giáo dục mới, hiện đại được các nhà khoa học dày công nghiên cứu và ứng dụng sẽ mang lại hiệu quả trong công tác giáo dục đạo đức của chúng ta. Hiện nay, phương pháp giáo dục trên thế giới đã phát triển ở trình độ rất cao. Đặc điểm của lý luận giáo dục hiện đại là lấy tâm lý học hiện đại làm cơ sở; chẳng hạn, các biện pháp giáo dục đạo đức cho thanh niên nhất thiết phải được dựa trên sự nghiên cứu thấu đáo những đặc điểm tâm lý, những đặc trưng về lứa tuổi. Các phương tiện kỹ thuật hiện đại - sản phẩm của thế giới hiện đại vốn được giới trẻ ưa thích cũng góp phần mang lại hiệu quả giáo dục cao.

_______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2014

 (1) Trần Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980, tr.94.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.94-95.

(3) Sđd, t.9. tr.287.

 

TS Lê Thị Hoài Thanh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS Đoàn Thế Hùng

Đại học Quy Nhơn

Các bài viết khác