Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Phòng ngừa, khắc phục những căn bệnh trong tư duy lãnh đạo, quản lý
Thứ năm, 24 Tháng 3 2016 08:37
10422 Lượt xem

Phòng ngừa, khắc phục những căn bệnh trong tư duy lãnh đạo, quản lý

(LLCT) - Phép biện chứng duy vật là khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, trong đó 5 nguyên tắcphương pháp luận duy vật biện chứng (khách quan, toàn diện - hệ thống, lịch sử - cụ thể, phát triển và thực tiễn) là chỉ dẫn cụ thể cho nhận thức và thực hành. Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, nếu quán triệt đúng đắn và đầy đủ 5 nguyên tắc nêu trên sẽ tối ưu hóa hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, trong thực tế, 5 nguyên tắc này thường bị vi phạm ở mức độ này hay mức độ khác, thậm chí làm trái. Do đó, vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận duy vật biện chứng để nhận diện các căn bệnh trong nhận thức và hoạt động thực tiễn và tìm biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, sửa chữa có ý nghĩa cấp bách trong điều kiện hiện nay. 

1. Những căn bệnh thường gặp trong tư duy lãnh đạo, quản lý

- Chủ quan duy ý chí, thoát ly điều kiện hiện thực, bất chấp quy luật khách quan

Căn bệnh này là sai lầm kép, biểu hiện cả chủ nghĩa chủ quan và chủ nghĩa duy ý chí. Biểu hiện của chủ nghĩa chủ quan là tuyệt đối hóa chủ thể nhận thức, phủ nhận vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội. Biểu hiện của chủ nghĩa duy ý chí là tuyệt đối hóa vai trò của ý chí con người trong cải tạo hiện thực mà không tính đến và tính đủ điều kiện hiện thực, coi thường hoặc thoát ly quy luật khách quan.

Phổ biến của chủ quan duy ý chí là tình trạng nóng vội, đốt cháy giai đoạn, bắt thực tiễn khuôn theo ý chí của con người, bất chấp quy luật khách quan. Hậu quả của căn bệnh chủ quan duy ý chí là đề ra các quyết định lãnh đạo, quản lý sai lầm, dẫn tới hệ lụy tiêu cực đối với đời sống kinh tế - xã hội; nếu không được phát hiện, sửa chữa có thể dẫn tới khủng hoảng và thất bại; nếu được phát hiện và sửa chữa cũng sẽ kéo lùi, làm chậm tốc độ phát triển và trả giá cho các tổn thất.

- Trông chờ, ỷ lại, trì trệ, thụ động trước hoàn cảnh, không phát huy tính năng động của ý chí trong lãnh đạo, quản lý

Ngược lại với bệnh chủ quan duy ý chí là bệnh trông chờ, ỷ lại, trì trệ, thụ động trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, không phát huy được tính năng động của ý chí con người. Các trường phái quyết định luận về hoàn cảnh thường rơi vào biểu hiện này. Nó triệt tiêu tính năng động của ý chí con người, không chủ động ứng phó hoặc thích nghi trước hoàn cảnh thay đổi, thụ động trước biến đổi của tự nhiên và xã hội. Nó biến con người trở thành tự ti, bất lực trước hoàn cảnh, không có ý thức nắm bắt quy luật khách quan và tổ chức lãnh đạo, quản lý phù hợp với quy luật khách quan, thiếu bản lĩnh hóa giải các nguy cơ, thách thức và tranh thủ các cơ hội phát triển.

- Phiến diện khi nhìn nhận và giải quyết các vấn đề trong lãnh đạo, quản lý

Phiến diện là nhìn nhận và giải quyết các vấn đề một cách đơn tuyến, không bao quát tất cả các mặt của một vấn đề hoặc mối quan hệ giữa các vấn đề tương tác với nhau, từ đó tìm ra mối quan hệ cơ bản, chủ yếu, chi phối đến bản chất của sự vật, hiện tượng. Đối lập với phiến diện chính là quan điểm toàn diện và hệ thống, nhìn nhận và giải quyết từng vấn đề trong các mối quan hệ phổ biến, bao gồm cả mặt “trục ngang” (toàn diện) và “trục dọc” (hệ thống). Sai lầm từ căn bệnh phiến diện là không xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng hoặc các yếu tố cấu thành một sự vật, hiện tượng để phản ánh được mặt bản chất, cốt lõi, chi phối đến toàn bộ quá trình vận động và phát triển.

Chiết trung khi nhìn nhận và giải quyết các vấn đề trong lãnh đạo và quản lý

Chiết trung là nhân danh toàn diện, tỏ ra chú ý trên tất cả các mặt, nhưng gán gép các mặt một cách máy móc, chắp vá, thậm chí hòa trộn cả những mặt đối lập không thể gán ghép. Sai lầm của bệnh chiết trung là không xác định được trọng tâm, trọng điểm, vì thế không tìm ra được điểm bản chất hoặc mắt xích căn bản nhất cần nhận thức đúng hoặc tác động có trọng tâm, trọng điểm. Nguy hiểm hơn, chiết trung còn dẫn tới thoái lui đấu tranh khi gán gép, hòa trộn kể cả các mặt đối lập một cách hình thức. Trong trường hợp đó, nhìn hình thức bề ngoài có thể tạm thời che khuất một số mâu thuẫn nào đó, nhưng không giải quyết được triệt để các mâu thuẫn để thúc đẩy sự vật phát triển hợp quy luật, đến lúc mâu thuẫn bùng phát thành xung đột thường nghiêm trọng, dẫn tới các bất ổn, rối loạn.

- Quan liêu, đại khái, không xuất phát từ điều kiện lịch sử - cụ thể trong nhận thức hoặc trong vận dụng lý luận vào thực tế

Biểu hiện của căn bệnh này là khi xem xét một sự vật, hiện tượng cụ thể trong đời sống không đặt trong không gian, thời gian và điều kiện cụ thể để phân tích, đánh giá, vì thế các kết luận không chỉ ra được đúng bản chất của sự vật, hiện tượng, thường chỉ diễn tả một cách hời hợt bề ngoài hoặc rơi vào tư biện. Trong nhận thức lý luận, bệnh quan liêu, đại khái thường xuất hiện khi phân tích, đánh giá từng luận điểm không gắn với nguồn gốc, xuất xứ, bối cảnh ra đời, các giá trị và giới hạn, điểm mạnh và điểm yếu của nó. Trong vận dụng lý luận vào thực tiễn, căn bệnh này thường dẫn tới áp dụng lý luận không tính đến những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa, dân cư và các điều kiện chủ quan và khách quan khác. Vì thế, vận dụng lý luận mang tính máy móc, giáo điều và chắc chắn vấp phải sai lầm, thất bại.

- Nhìn nhận và giải quyết các vấn đề một cách biệt lập, không đặt chúng trong các mối quan hệ phổ biến

Biểu hiện của sai lầm này rất phổ biến, nếu ở phương diện đối ngoại, chỉ nhìn những vấn đề của dân tộc mình một cách biệt lập mà không xem xét với mối quan hệ liên quốc gia, toàn thế giới, không thấy mối quan hệ tương tác giữa dân tộc này với dân tộc khác. Hẹp hơn là chỉ xem xét và giải quyết lĩnh vực thuộc bộ, ngành, địa phương mình mà không đặt trong mối quan hệ với các bộ, ngành, địa phương khác.

- Xem xét và giải quyết các vấn đề trong trạng thái “tĩnh”, không đặt trong sự vận động và biến đổi

Biểu hiện của sai lầm này là không nhìn thấy sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng, hoặc nếu có xem xét sự biến đổi cũng chỉ xem xét mặt lượng mà không thấy sự chuyển hóa về chất khi thay đổi đủ số lượng cần thiết. Điều này rất quan trọng trong lãnh đạo, quản lý, khi nhìn nhận các đối tượng lãnh đạo, quản lý, nhất là ở các thời điểm khó khăn, nếu không thấy các xu hướng vận động, biến đổi sẽ nảy sinh tư tưởng bi quan, chán nản, tiêu cực. Hoặc khi giành được thắng lợi bước đầu dễ rơi vào tự mãn, chủ quan, không thấy rằng mâu thuẫn này được giải quyết thì sẽ xuất hiện mâu thuẫn mới, vì thế không trù liệu phương án phòng ngừa, ứng phó, dễ rơi vào thụ động.

- Giáo điều, thoát ly thực tiễn (bệnh lý luận suông)

Biểu hiện của bệnh giáo điều không lấy thực tiễn để kiểm chứng các tri thức, mà tuyệt đối hóa vai trò của lý luận, tách lý luận khỏi thực tiễn. Những người mắc bệnh giáo điều sách vở không thấy được lý luận là tổng kết từ thực tiễn, nhưng khi đã trở thành lý luận thì có tính trễ tương đối so với tính năng động của thực tiễn. Giáo điều trong thực tiễn là sao chép nguyên xi, máy móc mô hình thực tiễn mà không tính đến các yêu cầu, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau cần phải vận dụng phù hợp. Những người giáo điều lý luận thường gắn liền với bệnh chữ nghĩa, hay dùng ngôn từ bóng bảy để lòe thiên hạ, không đặt mục đích áp dụng lý luận vào thực tiễn và lấy thực tiễn để kiểm chứng lý luận.

- Kinh nghiệm chủ nghĩa, coi khinh lý luận

Biểu hiện của căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là cường điệu hóa tri thức kinh nghiệm, coi khinh lý luận, không thấy được những giới hạn của tri thức kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý. Bệnh này rất phổ biến đối với cán bộ yếu kém về lý luận, ngại học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy lý luận. Những người này không thấy rằng kinh nghiệm là rất tốt nhưng mới chỉ là từng bộ phận, một mặt nào đó, chỉ xử lý một công việc nào đó trong điều kiện cụ thể mà nếu vận dụng vào những điều kiện, hoàn cảnh khác có khi thất bại, nhất là khi thiếu lý luận dẫn dắt.

- Phủ nhận sạch trơn di sản quá khứ và tư duy nhiệm kỳ

Căn bệnh này rất phổ biến với những người mới đảm nhiệm cương vị lãnh đạo, quản lý nhưng điều hành theo kiểu “tư duy nhiệm kỳ”. Do muốn có cái mới để khẳng định mình, cho nên, đề ra các chương trình, kế hoạch một cách nóng vội mà thiếu nghiên cứu kỹ lưỡng tính hợp lý của các chương trình, kế hoạch trước đó. Vì vậy, những cái mới tạo ra nhiều khi duy ý chí. Trên thực tế, đó là tạo ra “cái khác”, “cái lạ”  chứ không phải “cái mới”. Bởi vì, cái mới phải là cái kế thừa hạt nhân hợp lý của “cái cũ” theo tinh thần phủ định biện chứng, nó phải có tính tiến bộ,ưu việtvà hợp quy luật. Cái “khác”, cái “lạ” được tạo ra không những không có giá trị thay đổi bản chất vấn đề, mà chỉ tạo ra hình thức để lòe thiên hạ, trong khi vẫn hao tốn nhiều nguồn lực. Đây còn là biểu hiện của căn bệnh hình thức, sáo rỗng gắn liền với tư duy nhiệm kỳ.

Nguyên nhân của những căn bệnh này là:

Về mặt nhận thức - lý luận

Do thế giới quan duy tâm chi phối (duy tâm khách quan hoặc duy tâm chủ quan). Duy tâm chủ quan thường biểu hiện ở các bệnh duy ý chí. Duy tâm khách quan thường biểu hiện ở việc thụ động trước hoàn cảnh, không tự tin ở khả năng của con người trong nắm bắt quy luật khách quan để can thiệp vào thực tiễn phù hợp.

Do non kém về trình độ lý luận nên không có được tư duy biện chứng ở mức độ đủ làm cơ sở phương pháp luận cho ban hành các quyết định cũng như tổ chức thực hiện. Do đó, các quyết định nhiều khi chỉ đề cập được một mặt nào đó mà không có tính toàn diện hoặc không tìm được trọng tâm, trọng điểm để can thiệp tạo nên các cú hích có ý nghĩa kéo các bộ phận khác cùng chuyển động. 

Do sai lầm trong nhận thức vai trò của lý luận, nhất là coi thường lý luận, nên không thường xuyên chủ động nâng cao năng lực tư duy lý luận, tư duy khoa học, bao gồm cả xem xét lý luận trong thực tiễn.

Do hạn chế trong sáng tạo các phương pháp, cách thức, công cụ để vận dụng lý luận vào thực tiễn, vì vậy, các nguyên tắc phương pháp luận chỉ hiểu chung chung, trừu tượng, không thể vận dụng vào từng trường hợp cụ thể, hoàn cảnh cụ thể.

Về mặt tâm lý - xã hội

“Kiêu ngạo cộng sản”, tự cao, tự đại là một hiện tượng tâm lý tiêu cực mà V.I Lênin đã từng cảnh báo, nhất là sau mỗi thắng lợi. Nó là nguồn gốc của nhiều sai lầm chủ quan, duy ý chí. Đến khi cách mạng bị tổn thất, thường mới phản tỉnhvề những sai lầm này.

Ngoài ra, còn có các nguồn gốc tâm lý - xã hội khác như tính duy cảm là nguồn gốc của căn bệnh đại khái, qua loa, không xem xét sự vật, hiện tượng một cách toàn diện, gồm cả nghiên cứu lý luận và xem xét các kinh nghiệm thực tiễn.

Về mặt lợi ích

Trong điều kiện kinh tế thị trường, với nhiều trường hợp, chủ quan duy ý chí không hẳn do nhận thức chi phối mà do lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm tạo nên. Ở đây, nhiều người nhận thức lý luận rất tốt, nhưng hành vi thực tiễn lại luôn bị lợi ích cá nhân, cục bộ, nhóm chi phối, làm biến dạng các chủ trương, chính sách đúng đắn. Đặc biệt, nếu thiếu cơ chế kiểm soát, thì các biểu hiện chủ quan, tùy tiện trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, không tuân quy luật khách quan, càng dễ nảy nở và phát triển. Bệnh chủ quan duy ý chí trên phương diện này thường đồng nghĩa với “nói một đằng, làm một nẻo”.

2. Một số giải pháp phòng ngừa, khắc phục

Một là, nâng cao nhận thức lý luận thông qua đổi mới phương thức đào tạo, huấn luyện cán bộ theo phương châm lý luận gắn với thực tiễn, lấy thực tiễn kiểm chứng lý luận

Cách thức đào tạo cán bộ bấy lâu nay chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều, ít chú ý đối thoại giữa người dạy với người học, thiếu các chương trình ngoại khóahoặc thực tếđúng nghĩa gắn kết lý luận với thực tiễn. Vì thế, việc học lý luận mang tính khuôn sáo, rất hạn chế khi áp dụng lý luận vào thực tiễn. Để nâng cao nhận thức lý luận của cán bộ, đảng viên, vấn đề cốt yếu vẫn là tăng cường đào tạo lý luận chính trị. Tuy nhiên, mô hình đào tạo phải được đổi mới theo hướng sau đây:

- Xây dựng khung chương trình lý luận hướng nhiều đến thực tiễn, nhất là giải quyết các vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra. Xác định đúng“chuẩn đầu ra” của người học đối với mỗi chức danh, trong đó, đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý phải lấy mục tiêu tăng cường năng lực tư duy lý luận, rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, quản lý và tu dưỡng tính đảng làm yêu cầu hàng đầu.

- Phương pháp đào tạophải được đổi mới theo hướng thật sự lấy người học làm trung tâm. Đối với học tập lý luận chính trị, vấn đề là làm sao để người học sau khi được nâng cao nhận thức lý luận có thể tự phát hiện các vấn đềvàtự giải quyết các vấn đề trong lãnh đạo, quản lý do công tác của mình đòi hỏi. Muốn vậy, trong học tập, phải dành nhiều thời gian cho trao đổi, thảo luận các vấn đề một cách đến nơi, đến chốn.

- Cải tiến các chương trình ngoại khóa và thực tế để đảm bảo tính thiết thực. Mỗi chuyến thực tế là một lần đối chiếu lý luận với thực tiễn, lấy lý luận để soi vào mỗi việc làm cụ thể, lấy thực tiễn để kiểm chứng lại lý luận.

Hai là, cải tạo môi trường, điều kiện làm phát sinh, tồn tại các căn bệnh này

Các căn bệnh nêu trên có nhiều nguồn gốc phát sinh, bên cạnh nguồn gốc nhận thức - lý luận, còn có nguồn gốc từ chính môi trường, điều kiện ngoại cảnh. Một nền kinh tế tiểu nông, kinh tế thị trường sơ khai sẽ sản sinh tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa. Phải chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ mới khắc phục được phần nào các căn bệnh đó. Môi trường tự do ngôn luận, thừa nhận phản biện xã hội thì mới giúp cán bộ nhìn nhận các vấn đề toàn diện, biện chứng, khắc phục các sai lầm chủ quan duy ý chí. Còn ngược lại, trong môi trường thiếu tự do, dân chủ, độc thoại, dễ dẫn tới độc quyền chân lý và áp đặt ý chí chủ quan sai lầm của cá nhân cho tổ chức, của cấp trên đối với cấp dưới. Do đó, muốn khắc phục các căn bệnh này thì phải đồng thời cải tạo môi trường xã hội bằng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy môi trường công nghiệp hóa, hiện đại hóa để rèn luyện cho cán bộ, đảng viên phải thích ứng, thoát ly tác phong tiểu nông; bằng dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội, trước hết tự do về mặt ngôn luận, đảm bảo cho mỗi quyết sách chính trị luôn được phản biện để tránh những sai lầm. Môi trường dân chủ, công khai, minh bạch sẽ là cách làm tốt nhất để loại bỏ tệ nạn quan liêu, xa dân, không quan tâm đến nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân, thoát ly thực tiễn.

Ba là, xây dựng cơ chế và chính sách phòng chống chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm trong hoạt động thực tiễn

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các căn bệnh nêu trên còn có nguyên nhân từ chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm. Chính chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, cùng với cơ chế, luật pháp chưa thật sự hoàn thiện, đã bị một bộ phận cán bộ lợi dụng “công quyền” để đạt “lợi tư”. Những người này miệng nói vì dân, nhưng hành vi thì lại theo dẫn dắt của lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Nó làm biến dạng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Phòng ngừa và đấu tranh với các căn bệnh này không chỉ bằng nâng cao nhận thức, mà quan trọng hơn là xây dựng cơ chế, luật pháp đủ mạnh và chặt chẽ để cán bộ, công chức không thể lợi dụng chức quyền để mưu lợi. Đó là hệ thống cơ chế và luật pháp buộc phải minh bạch mọi thông tin về chủ trương, chính sách gồm cả khi ở dạng dự thảovà khi tổ chức thực hiện,đặc biệt đối với các vấn đề tổ chức cán bộ và phân bổ nguồn lực tài chính, đất đai. Đó là cơ chế buộc cán bộ chấp nhận cạnh tranh, bỏ phiếu tín nhiệm và bất tín nhiệm, mỗi quyết sách phải lấy ý kiến rộng rãi của chuyên gia và nhân dân. Đó là cơ chế thừa nhận vai trò của các nhóm áp lựcđể mỗi cán bộ lãnh đạo khi quyết định bất cứ vấn đề gì phải tính toán đầy đủ quyền và lợi ích chính đáng của các nhóm dân cư trong xã hội mà chính sách ấy sẽ tác động sau khi ban hành. Đó là cơ chế tự do ngôn luận để đặt mọi hành vi của cán bộ trong sự giám sát của báo chí, của nhân dân, sử dụng báo chí trở thành một kênh giám sát và phản biện xã hội.

Bốn là, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình

Đối với đảng cộng sản cầm quyền, tự phê bình và phê bình là một cách thức để hạn chế các căn bệnh này. Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh, phê bình là để giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, phải tiến hành như rửa mặt hàng ngày. Các căn bệnh nêu trên rất dễ vấp phải trong công việc hàng ngày, nếu tăng cường phê bình và tự phê bình trên tinh thần đồng chí, giúp nhau tiến bộ, sẽ có ý nghĩa nhất định cho phòng ngừa và sửa chữa. Trong mối quan hệ giữa tự phê bình và phê bình, nếu đạt được tự phê bình thật sự thì đó là người đạt được trình độ giác ngộ cao, luôn soi xét các sai lầm và tự điều chỉnh, sửa chữa, nhất là đứng từ giác độ đạo đức cách mạng. Còn phê bình của đồng chí giúp nhìn nhận các sai lầm mà tự bản thân mỗi người không thể nhận thức được. Tất nhiên, trong phê bình phải chú ý là phê bình việc chứ không phải phê bình người, phê bình với tinh thần xây dựng chứ không “bới lông tìm vết” hay lợi dụng phê bình để hạ bệ lẫn nhau. 

Năm là, xây dựng hệ thống phản biện chính sách và kiểm soát quyền lực có hiệu quả

Trong điều kiện dân chủ hóa ngày càng mở rộng và nhà nước pháp quyền XHCN dần định hình thì xây dựng hệ thống phản biện xã hội và kiểm soát quyền lực có ý nghĩa rất lớn trong phòng ngừa và khắc phục các căn bệnh này. Không có mô hình quản lý nào là hoàn hảo, nhưng mô hình được xem là tối ưu hơn khi các sai lầm còn mới ở dạng khả năng đã có thể bị phát biện và nhờ đó khắc phục. Phản biện xã hội là cách thức góp phần giúp cho các sai lầm khi mới “thai nghén” có thể được phát hiện và phòng ngừa. Hệ thống phản biện xã hội đảm bảo cho mỗi quyết định trước khi ban hành phải chấp nhận sự cọ xát với các ý kiến trái chiều, từ đó phát hiện ra các sai lầm, khuyết điểm khi ở dạng dự thảo, hạn chế được sai lầm ở khâu tổ chức thực hiện và vì thế tránh được tổn thất. Trong điều kiện lợi ích nhóm phức tạp thì phản biện xã hội là một cách thức để hóa giải các áp lực của nhóm lợi ích. Hệ thống kiểm soát quyền lực có hiệu quả nhằm làm cho quyền lực không bị tha hóa, đảm bảo mỗi văn bản pháp luật được ban hành đều thể hiện được ý chí của nhân dân, mỗi quyết định chính trị không rơi vào chủ quan duy ý chí. Kiểm soát quyền lực được thực hiện bao gồm cả kiểm soát bên trong hệ thống chính trị và kiểm soát từ ngoài xã hội đối với nhà nước. Mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo cho giám sát xã hội và kiểm soát xã hội, nhờ đó hạn chế các nhận thức và hành vi sai lầm của cán bộ, công chức.

Có thể thống kê rất nhiều căn bệnh thường gặp trong tư duy lãnh đạo, quản lý do thoát ly hoặc vi phạm các nguyên tắc phương pháp luận duy vật biện chứng. Trên đây chỉ nêu lên một số căn bệnh cơ bản cần cảnh giác, phòng ngừa và tìm biện pháp can thiệp phù hợp. Các căn bệnh này chính là “bạn đồng minh tự nhiên” của các thế lực thù địch, nếu không bị kiểm soát và ngăn chặn, có thể chuyển hóa thành những căn bệnh trầm trọng bên trong phá vỡ thể chế. Vì vậy, để nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện, cần có công trình tầm cỡ với đầu tư lớn, thời gian dài, tiếp cận trên giác độ nghiên cứu cơ bản, được xây dựng thành tài liệu công cụ để trang bị cho mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý.

 

PGS, TS Đoàn Minh Huấn

Học viện Chính trị Khu vực I

Các bài viết khác