Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Vai trò của giáo dục đạo đức trong xây dựng nhân cách sinh viên hiện nay
Thứ năm, 24 Tháng 3 2016 08:40
8139 Lượt xem

Vai trò của giáo dục đạo đức trong xây dựng nhân cách sinh viên hiện nay

(LLCT) - Thanh niên (trong đó có sinh viên) là lực lượng xã hội to lớn; một nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của thanh niên và xác định “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Vì thế, việc giáo dục, bồi dưỡng nhân cách cho sinh viên nhằm xây dựng đội ngũ trí thức tương lai vừa “hồng” vừa “chuyên”, kế tục các thế hệ cha anh trong sự nghiệp cách mạng mới là yêu cầu cơ bản lâu dài và cấp bách.

1. Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn như tâm lý học, đạo đức học, xã hội học,v.v., song giải đáp những vấn đề chung nhất về nhân cách, trước hết đó là nhiệm vụ của triết học.

Trong việc xem xét nhân cách, quan điểm duy vật lịch sử xuất phát từ con người hiện thực “Nó xuất phát từ những tiền đề hiện thực và không phút nào xa rời những tiền đề ấy. Những tiền đề ấy là, những con người, không phải những con người trong sự cô lập và sự cứng nhắc tưởng tượng của họ mà là những con người trong quá trình phát triển hiện thực của họ dưới những điều kiện nhất định, quá trình phát triển mà người ta có thể quan sát bằng kinh nghiệm”(1). Cũng từ đây triết học mác xít xem nhân cách như là một chỉnh thể cá nhân, có tính lịch sử cụ thể. Nó tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò chủ thể của nhận thức và của sự phát triển xã hội.

Khi bàn về vấn đề con người, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đặc biệt chú ý đến bản chất xã hội của con người, lý giải các quan hệ xã hội tham gia vào sự hình thành bản chất ấy cũng như vai trò của thực tiễn và hoạt động thực tiễn đối với sự bộc lộ những sức mạnh bản chất Người tới sự hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách. Từ đó, triết học Mác - Lênin xemnhân cách là những phẩm chất, những trạng thái, tính chất, xu hướng bên trong của từng cá nhân. Đó là thế giới của cái “tôi” do tác động tổng hợp của các yếu tố cơ thể và xã hội hết sức riêng biệt tạo nên để cá nhân đó có thể tồn tại và hoàn thành trách nhiệm của mình đối với bản thân và xã hội.

Như vậy, khi nói đến nhân cách là nói tới nhân cách của con người hiện thực, gắn liền với bản chất xã hội của nó, là sản phẩm của những hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Con người như một nhân cách, bao giờ cũng là một chỉnh thể thống nhất những yếu tố tự nhiên và xã hội.

Con người hình thành nên một nhân cách là một quá trình kép, xã hội hóa cá nhân và cá nhân hóa xã hội. Với đặc điểm riêng về di truyền, về sinh lý thần kinh, về hoàn cảnh sống... mỗi cá nhân tiếp thu và chuyển những giá trị văn hóa của xã hội vào bên trong mình, tự đánh giá, tự giáo dục. Cá nhân xã hội và cá nhân nhân cách là thống nhất. Sự phân biệt giữa hai khái niệm “cá nhân” và “nhân cách” cũng chỉ là tương đối. Khi nói tới “cá nhân” là muốn nhấn mạnh tới tính độc đáo riêng biệt ở từng cá thể người trong mối quan hệ với xã hội. Khi nói tới “nhân cách” là muốn nói tới những đặc điểm, thuộc tính, phẩm chất... độc đáo riêng biệt ấy trong mối quan hệ giữa những cá nhân, là cái để phân biệt giữa cá nhân này với cá nhân khác. Biểu hiện rõ nhất của nhân cách là thái độ, bản lĩnh, hành vi của cá nhân phù hợp với thang giá trị xã hội.

Khi xem xét nhân cách trong tính chỉnh thể, chúng ta vừa phải chú ý đến những đặc điểm mang tính địa phương, dân tộc, thời đại, vừa phải chú ý đến cá tính làm nên nét cá biệt của mỗi nhân cách. Nhân cách là sản phẩm của những hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhưng đồng thời sản phẩm ấy lại được cá thể hóa sâu sắc ở mỗi con người.

Ngày nay, chúng ta đang xây dựng chế độ mới, một chế độ xã hội thực sự nhân đạo nhằm giải phóng con người, làm cho mọi cá nhân đều tự do, làm chủ được cuộc sống của mình và tham gia làm chủ cuộc sống chung của xã hội. Từ đây, có thể hình dung một kiểu mẫu nhân cách của con người Việt Nam trong quá trình xây dựng CNXH.

Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “chủ trương xây dựng nhân cách con người Việt Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ”(2).

Nhân cách ở sinh viên là tổng thể những phẩm chất đạo đức, năng lực thể chất và tinh thần được hình thành một cách lịch sử - cụ thể, quy định giá trị và những hành vi xã hội của sinh viên, được thể hiện trong hoạt động học tập, giao tiếp, ứng xử, hoạt động xã hội của cá nhân mỗi sinh viên.

Việc xây dựng nhân cách cho sinh viên là tạo môi trường thuận lợi cho việc hình thành và phát triển những phẩm chất đạo đức, năng lực thể chất và tinh thần ở sinh viên, kích thích tính tự giác học tập, rèn luyện, sáng tạo. Ngày nay, xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam đang chịu tác động của các nhân tố cơ bản sau:

Thứ nhất, sự tác động hai mặt của kinh tế thị trường. Bên cạnh tác động tích cực, kinh tế thị trường có những tác động tiêu cực. Đó là sự kích thích lòng tham lợi, thực dụng, lối sống chạy theo đồng tiền... Như vậy, trong cơ chế thị trường không thể không có sự chuyển đổi giá trị đạo đức và các quan niệm về lý tưởng, lối sống, trách nhiệm xã hội. Những biến đổi trên tác động không nhỏ đến nhân cách sinh viên.

Thứ hai, đổi mới, mở cửa giao lưu, hội nhập quốc tế đã giải phóng tiềm năng con người, tạo điều kiện cho việc tiếp thu tri thức nhân loại. Tuy nhiên, bên cạnh những tinh hoa văn hóa cũng có không ít những yếu tố phản văn hóa, tác động làm tha hóa con người, trong đó có thanh niên, sinh viên, đòi hỏi chúng ta phải sàng lọc, loại bỏ.

Thứ ba, do xuất phát từ nền kinh tế lạc hậu, trải qua chiến tranh tàn phá, đến nay nước ta vẫn đang đứng trước những thách thức lớn. Trong lĩnh vực văn hóa, tinh thần tuy có nhiều mặt tiến bộ, nhưng cũng còn nhiều điều đáng lo ngại, ảnh hưởng xấu đến môi trường văn hóa đạo đức, làm nảy sinh trong sinh viên những tiêu cực về lối sống, suy giảm niềm tin và một bộ phận tha hóa về đạo đức, nhân cách.

Thứ tư, công tác giáo dục nhân cách sinh viên còn nhiều tồn tại, còn phiến diện, có lúc coi nhẹ hoặc tách rời từng mặt, thiếu tính hiện thực, tính mục đích, nội dung nghèo nàn, hình thức đơn điệu, nhiều nơi giáo dục lý luận Mác - Lênin chưa được chú trọng đúng mức.

Hội nghị Trung ương 9 khoá IX đã chỉ rõ: “Công tác giáo dục tư tưởng chính trị vẫn chậm đổi mới về nội dung, hình thức; tính thuyết phục, tính chiến đấu và hiệu quả chưa cao... Công tác giáo dục đạo đức, lối sống chưa thường xuyên, liên tục, có mặt bị buông lỏng, xem nhẹ; tự phê bình và phê bình vẫn là khâu yếu, ít chuyển biến”(3). Cùng với sự biến đổi mạnh mẽ của các điều kiện kinh tế - xã hội, tất yếu có sự vận động biến đổi của đạo đức, của nhân cách sinh viên.

Trong công cuộc đổi mới, ở sinh viên có sự biến đổi mạnh mẽ về động cơ, thang giá trị xã hội, liên quan đến nghề nghiệp; thế giới nội tâm của sinh viên có nhiều phức tạp và mâu thuẫn, mâu thuẫn giữa ước mơ và khả năng, điều kiện và kinh nghiệm;  giữa mong muốn học tập sâu những môn học yêu thích và yêu cầu thực hiện toàn bộ chương trình học tập; mâu thuẫn giữa số lượng thông tin quá nhiều và thời gian để kịp hiểu thông tin.

Như vậy, sự phát triển nhân cách của sinh viên là một quá trình biện chứng của sự nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn, là quá trình chuyển các yêu cầu bên ngoài thành yêu cầu của bản thân sinh viên và là quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ.

Do những đặc điểm tâm sinh lý, điều kiện sống mà việc xây dựng nhân cách cho sinh viên cần chú ý những đặc điểm riêng. Đây là vấn đề cần thiết, nó thường biểu hiện tập trung trong nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục và đào tạo. Đó là ta đi tìm một cái chung, cái giống nhau của nhiều nhân cách khác nhau, để rồi bất cứ một nhân cách nào cũng soi thấy mình trong đó, dù ở góc độ này hay góc độ khác. Mặt khác, mỗi một nhân cách là một cái riêng có cá tính của mình không lặp lại ở nhân cách khác thì việc đi tìm một mẫu hình chung về nhân cách cho tất cả sinh viên là điều không đơn giản. Có thể khái quát nội dung nhân cách mới định hướng trong công tác giáo dục sinh viên như sau:  Đó là, con người được tự do phát triển hài hòa và toàn diện. Đó là con người có lòng yêu nước nồng nàn gắn bó với lý tưởng XHCN, có tinh thần lao động hăng say, tự chủ, sáng tạo, năng động; có năng lực tư duy, có khả năng thích nghi cao với cuộc sống, biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Đó là con người có sự kết hợp hài hòa trong nó sự phong phú về tinh thần, sự trong sáng về đạo đức, có sức khỏe tốt.

2. Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích của chủ thể giáo dục đến đối tượng giáo dục để hình thành trong họ những yếu tố, tình cảm, niềm tin, lý tưởng và tất cả được thể hiện ở những hành vi đạo đức. Thông qua việc giáo dục đạo đức, các quy tắc, các chuẩn mực đạo đức được cá nhân nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ hơn, góp phần điều chỉnh hành vi của con người phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội.

Giáo dục đạo đức cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt, mang tầm chiến lược và ở một chừng mực nào đó có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc:

Giáo dục đạo đức góp phần hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng trong nhân cách sinh viên. Giáo dục đạo đức sẽ tạo động lực thôi thúc sinh viên hăng hái quyết tâm nghiên cứu học tập, tiếp thu tri thức khoa học để nâng cao trình độ nhận thức, cổ vũ, động viên sinh viên tự ý thức, tự rèn luyện, hình thành niềm tin, hình thành thế giới quan khoa học cho mình.

Giáo dục đạo đức có ý nghĩa quyết định trực tiếp giúp sinh viên hiểu rõ được mục đích, ý nghĩa cuộc sống và xây dựng nhân sinh quan cách mạng.

Năm học 2010 - 2011, cả nước có 414 trường đại học và cao đẳng với 2.162.100 sinh viên(4). Đây là một lực lượng xã hội to lớn.  Tuy nhiên, nhận thức của sinh viên về cuộc sống, quan điểm sống còn đang trong quá trình hình thành và từng bước đi vào ổn định nhưng lại chưa được trải nghiệm nhiều, do đó trong nhận thức và hành động còn thiếu vững chắc, nhiều khi dẫn đến những hành động tự phát, thiếu bản lĩnh. Công tác giáo dục đạo đức sẽ góp phần giúp cho sinh viên khắc phục những mặt hạn chế, yếu kém và phát huy hơn nữa những mặt mạnh trong học tập và trong rèn luyện đạo đức, giúp họ nhận rõ giá trị và ý nghĩa cuộc sống mang tính nhân văn, nhân bản. Trên cơ sở đó, sinh viên lựa chọn những giá trị đạo đức hình thành niềm tin và lý tưởng cách mạng, củng cố và phát triển những giá trị nhân cách tốt đẹp.

Giáo dục đạo đức góp phần tích cực trong quá trình xây dựng phẩm chất đạo đức cá nhân và xây dựng những phẩm chất ý chí, tính kỷ luật, cung cách ứng xử trong nhân cách sinh viên. Quá trình hình thành nhân cách và đạo đức bắt nguồn từ lao động và trên cơ sở hoạt động lao động và giao tiếp. Ở đây, đạo đức biểu hiện ra như là một phẩm chất xã hội của nhân cách, là một bộ phận cấu thành nhân cách.

Nói đến nhân cách là nói đến con người đã trưởng thành về mặt xã hội, là chủ thể của sự nhận thức và cải tạo thế giới, chịu hoàn toàn trách nhiệm về những hành vi của mình. Trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, đang có xu hướng phá vỡ sự thống nhất của nhân cách, tạo sự mất cân bằng giữa tri thức, năng lực thực tiễn với phẩm chất đạo đức cá nhân. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ hình thành một thế hệ con người Việt Nam phiến diện, làm nảy sinh sự tha hóa, lối sống tuyệt đối hóa đồng tiền. Từ đó, các quan hệ gia đình, thầy trò, tình bạn, tình yêu... băng hoại trong tính toán vụ lợi của chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Chính giáo dục đạo đức giúp sinh viên hình thành quan niệm sống tích cực, rèn luyện, xây dựng những phẩm chất đạo đức cá nhân, những phẩm chất ý chí, tính kỷ luật, cung cách ứng xử nhân đạo, tạo điều kiện cho họ vươn lên để chiến thắng tác động tiêu cực này.

Thông qua giáo dục đạo đức, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được sinh viên tiếp nhận, kế thừa gia nhập cấu trúc nhân cách mới của họ. Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc có vai trò quan trọng trong giáo dục nhân cách, khái quát lại ở những điểm cơ bản sau: là cơ sở nền tảng để phát triển nhân cách mới cho sinh viên Việt Nam; là động lực, là ngọn nguồn phát triển dân tộc, tạo nên sức mạnh tinh thần và bản lĩnh cho thế hệ sinh viên vươn lên trong giai đoạn mới; các giá trị đạo đức truyền thống được kế thừa, phát huy gia nhập cấu trúc nhân cách trở thành các phẩm chất mới của sinh viên, giúp họ đứng vững trước tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.

Tuy nhiên, bối cảnh mới của đất nước và quốc tế đang đặt ra những yêu cầu mới trong cấu trúc nhân cách của con người Việt Nam hiện nay mà những giá trị văn hóa truyền thống, trong thực tiễn mới sẽ thiếu hụt nhiều giá trị, việc tiếp thu những giá trị hiện đại như: ý thức tổ chức, kỷ luật, tác phong công nghiệp, thái độ tôn trọng và tuân thủ pháp luật,... để xây dựng, bồi dưỡng nhân cách mới cho con người Việt Nam trong đó có sinh viên là cần thiết để họ có thể thích ứng được với xã hội mới, thực sự trở thành động lực cho sự nghiệp đổi mới và hội nhập.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất lưu ý đến nguyên tắc này. Người chỉ rõ: “Đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới.

Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ...

Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý...

Cái gì tốt thì phải phát triển thêm..

Cái gì mớihay, thì ta phải làm”(5).

Việc bảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa truyền thống và hiện đại, kế thừa và đổi mới trong giáo dục đạo đức, xây dựng nhân cách sinh viên là yêu cầu cấp bách. Lòng yêu nước, lòng nhân ái, tính trung thực, ham học hỏi, tính dũng cảm, tính nguyên tắc, siêng năng, tận tụy, liêm khiết, chung thủy, cần cù, tính cộng đồng, lối sống cao đẹp đã chứng tỏ sự bền vững trong lịch sử, giờ đây phải được tăng cường, đổi mới và hoàn thiện cả về nội dung, phương hướng và trật tự trong phân loại. Chẳng hạn, tư tưởng yêu nước là giá trị truyền thống xuyên suốt lịch sử dân tộc Việt Nam. Trước yêu cầu mới, phải chuyển tinh thần yêu nước trong chiến tranh sang trong hòa bình, từ ý chí không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ chuyển sang ý chí không chịu nghèo đói, lạc hậu. Yêu nước ngày nay là yêu CNXH, yêu nước phải gắn liền với ý chí tự lực tự cường, sáng tạo trong lao động, học tập và nghiên cứu, khai thác mọi tiềm năng của đất nước, bảo vệ độc lập dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc, chiến thắng nghèo đói lạc hậu, để nhân dân được ấm no, hạnh phúc, vươn lên ngang tầm thời đại. Sự kết hợp “nội lực” và “ngoại lực” đó là yếu tố gắn bó không thể thiếu trong quá trình mở cửa hiện nay. Ở đây, đòi hỏi công tác giáo dục đạo đức giúp sinh viên mạnh dạn bứt phá những quan niệm cũ không phù hợp, biết tiếp thu cái mới phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của thời đại.

Giáo dục đạo đức tạo động lực khuyến khích sinh viên tự giác học tập, rèn luyện xây dựng nhân cách mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Việc học phải lấy tự học làm cốt”. Chính vì vậy, để các giá trị văn hóa trở thành những nhân tố, cấu trúc bên trong của nhân cách mỗi sinh viên thì việc tự giác học tập, rèn luyện, tiếp thu các giá trị đó trong xây dựng nhân cách mới là tất yếu. Có thể nói, nếu không có quá trình tự giác, tự rèn luyện của bản thân sinh viên thì mọi nỗ lực tác động từ bên ngoài, dù tốt đến đâu cũng trở nên vô ích.

Công tác giáo dục đạo đức, trước hết phải hình thành cho sinh viên nhu cầu, niềm tin, ý nghĩa mục đích cuộc sống, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình,... Tổng hợp các giải pháp đó sẽ tạo môi trường khuyến khích, động viên sinh viên tự ý thức, tự giác rèn luyện đạo đức, học tập, nghiên cứu để hình thành niềm tin, hình thành thế giới quan khoa học, xây dựng các phẩm chất đạo đức cá nhân tích cực.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2015

(1) C.Mác - Ph.Ăngghen: Hệ tư tưởng Đức, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1977, tr.30.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.126.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.117.

(4) Xem: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr.260.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.112-113.

 

PGS,TS Nguyễn Thế Kiệt

Viện Văn hóa và Phát triển, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác