Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị
Thứ sáu, 22 Tháng 7 2016 17:12
3117 Lượt xem

Thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận chính trị

 
(LLCT) - Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn,coi đây là nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; là một biện pháp cơ bản để ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.

 

Người nhấn mạnh là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”(1). Quán triệt chủ nghĩa duy vật biện chứng, Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luậnlà sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”(2). Người dẫn lời của Xtalin khi khẳng định lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản”(3). Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người nêu cụ thể:“Lý luận là đem thực tếtrong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế”(4)

Theo Hồ Chí Minh, “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người. Muốn thế phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán của Đảng”(5). Người đã dẫn lời của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một đảng có lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò chiến sĩ tiên phong”(6). Do vậy, sau khi “Xem kinh nghiệm của các đảng anh em, thì chúng ta càng thấy sự bức thiết, sự quan trọng của việc tổ chức học tập lý luận cho Đảng, trước hết là cho các cán bộ cốt cán của Đảng”(7).

Về vai trò của lý luận đối với thực tiễn, Hồ Chí Minh cho rằng: “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”(8); “Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp vừa hay vấp váp”(9); “không có lý luận thì cũng như một mắt sáng, một mắt mờ”(10). Người cảnh báo, do “kém về lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” cho nên nhiều cán bộ, đảng viên của ta mắc phải bệnh chủ quan. Cũng do kém lý luận mà cán bộ “gặp mọi việc không biết xem xét cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo. Không biết nhận rõ điều kiện hoàn cảnh khách quan, ý mình nghĩ thế nào làm thế ấy. Kết quả thường thất bại”(11).

Trong thực tiễn cách mạng, có những cán bộ đảng viên “làm được việc”, “có kinh nghiệm” và theo Hồ Chí Minh “những anh em đó rất quý cho Đảng”. “Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận.Họ quên rằng: nếu họ đã có kinh nghiệm mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều. Họ quên rằng: kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi”(12).Đối với những cán bộ đó, “cần phải nghiên cứu thêm lý luận, mới thành người cán bộ hoàn toàn”.

Nhấn mạnh vai trò của lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm công tác giáo dục, học tập lý luận. Người chỉ dẫn, “nếu cách học tập lý luận không đúng thì sẽ không có kết quả”. Do đó, “trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý luận phải liên hệ với thực tế”(13); “Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”(14).

Hồ Chí Minh nhắc nhở “nhiều lần đồng chí Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho hành động cách mạng; và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động. Những người cộng sản các nước phải cụ thể hóa chủ nghĩa Mác - Lênin cho thích hợp với điều kiện hoàn cảnh từng lúc và từng nơi”(15). Người cũng chỉ rõ mục đích của học tập lý luận: “Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách”(16). Bởi vậy, “chỉ học thuộc lòng, để đem lòe thiên hạ thì lý luận ấy cũng vô ích” và những người “xem nhiều sách để mà lòe, để làm ra ta đây” đó không phải là những người “biết lý luận”, mà “cần phải ra sức thực hành mới thành người biết lý luận”(17). Người yêu cầu “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên phải học lý luận,phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế.Phải chữa cái bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông”(18).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, “Khi học tập lý luận thì nhằm mục đích học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng. Tất cả những động cơ học tập không đúng đắn đều phải tẩy trừ cho sạch”(19).

Theo Hồ Chí Minh, để thực hiện nguyên tắc lý luận thống nhất với thực tiễn và học tập lý luận thực sự mang lại hiệu quả là “cải tạo tư tưởng, tăng cường đảng tính”, thì “cần phải có thái độ học tập cho đúng”. Trong quá trình học tập lý luận, phải thực sự khiêm tốn, “cái gì biết thì nói biết, không biết thì nói không biết. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập”. Hồ Chí Minh nhắc nhở phải “nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập. Trong khi học lý luận,  phải “nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng”; “phải đào sâu hiểu kỹ, không tin một cách mù quáng từng câu một trong sách, có vấn đề chưa thông suốt thì mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ. Đối với bất cứ vấn đề gì đều phải đặt câu hỏi “vì sao?”, đều phải suy nghĩ kỹ càng xem nó có hợp với thực tế không, có thật là đúng lý không, tuyệt đối không nên nhắm mắt tuân theo sách vở một cách xuôi chiều”(20).

Trong những năm qua, hệ thống các trường Đảng đã có nhiều cố gắng vươn lênhoàn thành nhiệm vụđào tạo, bồi d­ưỡng đội ngũ cán bộcác cấp. Nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng từng bước đ­ược đổi mới; đội ngũ giảng viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; cơ sở vật chất từng bước được đầu tư­ nâng cấp; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng được nâng lên rõ rệt.

Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụđược giao,công tác đào tạo, bồi d­ưỡng cán bộ của nhà trườngcòn một số mặt hạn chế, bất cập.Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn nặng về lý luận,phương pháp giảng dạy chậm được đổi mới; một bộ phận cán bộ, giảng viên còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, chư­a thực sự say mê nghiên cứu đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy; chất lượng hiệu quả công tácnghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn phục vụ giảng dạy và học tập còn nhiều hạn chế.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giảng dạy lý luận trong tình hình mới, đội ngũ cán bộ,giảng viên hệ thống trường Đảng cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ chủ yếu như sau:

Thứ nhất, phải ra sức học tập, nâng cao trình độ lý luận, “tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được”, khắc phục “bệnh kém lý luận, khinh lý luận”

Hiện nay, một bộ phận giảng viên còn bộc lộ những yếu kém về lý luận; nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa sâu sắc, có mặt còn hạn chế; việc học tập, nghiên cứu đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước còn bộc lộ nhiều bất cập, thiếu kịp thời, thường xuyên. Những hạn chế nêu trên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả công tác giảng dạy. Đây thực sự đang là yêu cầu cấp thiết và là “mệnh lệnh” đối với những người làm công tác giảng dạy lý luận; đòi hỏi giảng viên giảng dạy lý luận phải tích cực, tự giác, không ngừng làm giàu vốn tri thức lý luận của mình nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những người làm công tác huấn luyện là phải “thạo nghề nghiệp”, và “Người huấn luyện phải học thêm mãi thì mới làm được công việc huấn luyện của mình”. 

Thứ hai, hướng lý luận vào việc lý giải, làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn

Trong giảng dạy, kiến thức lý luận mà giảng viên truyền thụ phải hướng mạnh vào việc lý giải và làm sáng tỏ những vấn đềcủa thực tiễn, nhất là những vấn đềmới, những bức xúc mà thực tiễn cuộc sống và người học đang đặt ra, cung cấp cho người học những thông tin mới, những kiến thức thuộc lĩnh vực mà họ đang thiếu, đang cần. Trong giáo dục lý luận chính trị, không được né tránh, hoặc phân tích, lý giải một cách qua loa, thiếu tính thuyết phục những vấn đề bức xúc đang đặt ra trong thực tế. Do vậy, người làm công tác giảng dạy lý luận phải nghiên cứu tìm tòi, không ngừng làm giàu vốn tri thức của mình để có năng lựctư duy, trình độ lý luận sắc bén, có thông tin kịp thời, chính xác từ thực tiễn, để phân tích, lý giải một cách khoa học, qua đó, giáo dục, tạo niềm tin khoa học cho người học, tạo sự thống nhất cao về tư tưởng, đồng thời, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội trước những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra.

Thứ ba, thường xuyên tìm hiểu, nghiên cứu cập nhật, “làm mới” kiến thức lý luận

 Những sản phẩm lý luận ngay từ khi ra đời đã bộc lộ những bất cập và đã “tụt hậu” ở những mức độ khác nhau so với sự vận độngcủathực tiễn. Đối tượng học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị hiện nay chủ yếu là cán bộ, đảng viên - những người đã được học và đã có vốn kiến thức, trình độ lý luận ở những mức độ khác nhau. Thực tế đó đang đặt ra cho những người làm công tác giảng dạy lý luận chính trị phải không ngừng nỗ lực học tập, nghiên cứu để không chỉ có vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu mà còn phải đáp ứng yêu cầu “mới” so với thực tiễn và nhu cầu, nguyện vọng của học viên. Theo đó, các giảng viên phải thường xuyên nắm bắt thông tin, khai thác những nguồn tư liệu mới phục vụ công tác giảng dạy, nhất là việc tiếp cận những công trình khoa học mới được công bố, tham gia các diễn đàn, hội thảo khoa học. Các giảng viên còn phải sâu sát, nắm chắc tình hình thực tiễn; lựa chọn, hệ thống hóa các vấn đề đã và đang diễn ra ở địa phương, đơn vị để minh chứng cho nội dung lý luận đang giảng dạy, nghiên cứu.

Thứ tư, thường xuyên quan tâm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, kịp thời tiếp thu thông tin từ thực tiễn

Hiện nay, phần lớn các giảng viên được học tập, nghiên cứu lý luận khá công phu, bài bản tại các trường và các cơ sở đào tạo nhưng chưa (hoặc ít) có điều kiện đi cơ sở, tham gia các hoạt động thực tiễn, trực tiếp tham gia công tác lãnh đạo, quản lý tại các địa phương, đơn vị. Do đó, kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn của các giảng viên, nhất là giảng viên trẻ vừa thiếu vừa tụt hậu so với tình hình. Trong khi đó, thực tiễn cuộc sống luôn vận động và phát triển, phát sinh nhiều vấn đề mới, cần được kịp thời phát hiện, tiếp thu, nghiên cứu để tổng kết, bổ sung vào bài giảng. Do đó, giảng viên cần tranh thủ nghiên cứu thực tế, các mô hình, điển hình trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; các địa phương, đơn vị có những điển hình tốt, cách làm hay, những “điểm mới” cần được kịp thời nghiên cứu, tổng kết. Cần chủ động tìm hiểu, tích cực tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, tham gia viết bài và dự các chuyên đề, hội thảo, diễn đàn... để một mặt rèn luyện, nâng cao năng lực nghiên cứu lý luận, mặt khác có điều kiện tiếp thu kịp thời kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn trên các lĩnh vực.

Thứ năm, tăng cườngđổi mới phương pháp giảng dạy lý luận theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động của người học; học phải đi đôi với hành

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở để công tác huấn luyện đạt hiệu quả, trước hết trong huấn luyện phải “thiết thực, chu đáo”. Yêu cầu này đòi hỏi những người làm công tác huấn luyện phải nghiên cứu, lựa chọn nội dung sát hợp với nhu cầu của người học, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn công tác, đồng thời phải tiến hành huấn luyện công phu, bảo đảm chất lượng; tránh tình trạng “việc huấn luyện còn hữu danh vô thực,làm chỉ cốt nhiều mà không thiết thực, chu đáo”(21).

Một quy trình đào tạobồi dưỡng lý luận chocán bộ chỉ được coi là hiệu quả, thiết thực khi:sau khi học, người cán bộ không chỉ hiểu, nắm chắc những vấn đề cốt lõivề lý luận, biết nên làm gì, mà còn phải biết làm như thế nào. Điều đó đặt ra yêu cầu trong giảng dạy, truyền thụ kiến thức phải hết sức quan tâm việc phát huy vai trò “chủ thể” của học viên, tránh lối truyền thụ kiến thức một chiều, áp đặt. Phải thường xuyên tìm tòi, đổi mới, kết hợp nhuần nhuyễn các phương pháp trong giảng dạy; kết hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp, phương tiện truyền thống vàhiện đại, phù hợp với nội dung bài giảng, chuyên đề và đối tượng học viên.

Đặc biệt, cần tăng cường các hình thức trao đổi, thảo luận trong quá trình giảng dạy. Để tổ chức tốt các buổi thảo luận, các giảng viên cần căn cứ vào nội dung từng chuyên đề, bài giảng để thiết kế hệ thống các câu hỏi, các nội dung thảo luận một cách khoa học, phù hợp với các đối tượng khác nhau; hướng các ý kiến trao đổi, thảo luận vào việc lý giải, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận đang đặt ra,đồng thời thông qua đócung cấp thông tin để tiếp tục nghiên cứu, tổng kết bổ sung vào lý luận.

Thứ sáu, phải thường xuyên bám sát thực tiễn để tiếp cận thực tiễn dưới các hình thức và mức độ khác nhau

Hiện nay, nhờ sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các lĩnh vực của đời sống xã hội; phương tiện, thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu giảng dạy ngày càng được tăng cường, do đó giảng viên có nhiều “kênh”, nhiều hình thức để khai thác, tiếp nhận thông tin, cập nhật kiến thức. Tùy thuộc vào chương trình, nội dung các môn học, giảng viên có thể lựa chọn nhiều hình thức khác nhau để tiếp cận cập nhật tri thứcthực tiễn. Ngoài việc tăng cường đi thực tế cơ sở; gặp gỡ, trao đổi với các điển hình tiên tiến, các nhân chứng lịch sử; xâm nhập đời sống của quần chúng nhân dân; các các mô hình trên các lĩnh vực...,giảng viên cần thường xuyên cập nhật, nghiên cứu các tài liệu, tư liệu chính thống, có độ tin cậy cao, nhất là các văn kiện mới...

Các giảng viên cần tăng cường tiếp xúc, trao đổi, thảo luận với học viên thuộc các nhóm đối tượng khác nhau để tìm hiểu và nắm bắt thông tin để bổ sung vào nội dung các chuyên đề đang giảng dạy.

Thứ bảy, phải nghiên cứu, lựa chọn thông tin thực tiễn vào bài giảng một cách khoa học, phù hợp với nội dung từng chuyên đề và các đối tượng học viên khác nhau

Trong giảng dạy, một vấn đề lý luận có thể có nhiều hiện tượng, hoạt động thực tiễn để liên hệ, và cùng một bài giảng lại phải nhiều lần liên hệ với thực tiễn. Do đó, để phần liên hệ thực tiễn bảo đảm khoa học, đòi hỏi giảng viên không chỉ nắm vững kiến thức lý luận của toàn bộ nội dung bài giảng mà còn phải lựa chọn, sắp xếp để đưa thông tin, tư liệu thực tiễn vào bài giảng một cách công phu, khoa học, phù hợp với nội dung từng chuyên đề, phù hợp với các đối tượng học viên đang sinh hoạt, công tác ở các ngành, địa phương, đơn vị khác nhau. Đặc biệt, tư liệu thực tiễn đưa vào bài giảng phải bảo đảm tính điển hình, mang tính thời sự, có độ chính xác cao, phù hợp với nội dung giảng dạy, tránh tình trạng lạm dụng, liên hệ tràn lan, dài dòng, thậm chí “tô hồng” hoặc “bôi đen”, “hư cấu” thực tiễn.

Việc quán triệt và thực hiện có hiệu quả những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy lý luận luônlà yêu cầu cấp thiết, là giải pháp hữu hiệu nhằmnâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 10-2015

(1), (2), (3), (5), (6), (7), (13), (14), (15), (19), (20) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.496, 497, 497, 494-495, 495, 495, 496, 496, 496, 497, 500.

(4), (8), (11), (12), (16), (17), (18) Sđd, t.5, tr.233, 233-234, 234, 234, 234, 234, 234-235.

(9), (21), Sđd, t.6, tr.47, 46.

 

TS Nguyễn Trọng Tứ

Trường Chính trị Trần Phú, Hà Tĩnh

Các bài viết khác