Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Thứ hai, 19 Tháng 9 2016 15:50
2222 Lượt xem

Phát triển đội ngũ giảng viên Học viện đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

(LLCT) - Nâng cao chất lượng ĐNGV và khắc phục những yếu kém trong công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng là yêu cầu cấp bách.

Dự thảo Văn kiện trình Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “...hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục được đẩy mạnh”, “tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia”. Xu thế đó cũng tạo cơ hội cho đội ngũ giảng viên (ĐNGV) Học viện tiếp cận thông tin và tri thức nhân loại; học tập, nghiên cứu, trao đổi học thuật với nhiều quốc gia; thay đổi tư duy trong việc tạo nguồn, quy hoạch ĐNGV của nhà quản lý... Mặt khác, hội nhập quốc tế cũng có tác động đa chiều:những quan điểm sai trái, phản động và các tư tưởng trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng và những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; hiện tượng chảy máu chất xám... Trước thực tế đó, từng cán bộ, giảng viên phải nâng cao bản lĩnh, chủ động hội nhập để vừa tiếp thu được tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa giữ gìn, phát triển được những giá trị văn hóa dân tộc và giữ vững là cán bộ, giảng viên trường Đảng.

Trong Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới, Đảng ta nêu rõ: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn còn bất cập, chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn diễn biến nhanh chóng, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra, tiến hành thí điểm nhiều, nhưng chậm tổng kết thành lý luận, chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén, sức thuyết phục chưa cao, tính chiến đấu còn hạn chế; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa đạt hiệu quả như mong muốn”. “Công tác dự báo, hoạch định và lãnh đạo tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý phát triển xã hội còn nhiều bất cập”. Điều này đặt ra cho ĐNGV của Học viện nhiều nhiệm vụ lớn lao, đồng thời đặt ra nhiều yêu cầu đối với việc xây dựng và phát triển ĐNGV của Học viện.

Để nâng cao chất lượng ĐNGV và khắc phục những yếu kém trong công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, cần tập trung vào một số công việc sau:

Một là, triển khai xây dựng khung năng lực giảng viên đáp ứng yêu cầu mới.

Đây là cơ sở cho việc xây dựng, hoàn thiện chuẩn nghề nghiệp giảng viên, là biện pháp quản lý chất lượng giáo dục hiện đại; là cơ sở để giảng viên tự đánh giá phẩm chất, năng lực của bản thân; là thông số cho việc kiểm tra, đánh giá chất lượng; tạo căn cứ, cơ sở để xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đãi ngộ đối với giảng viên.

Khung năng lực của giảng viên Học viện trong bối cảnh hội nhập quốc tế gồm 7 tiêu chuẩn: phẩm chất chính trị (chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trong đó có đường lối hội nhập; giữ vững bản lĩnh chính trị...); đạo đức nghề nghiệp, lối sống (yêu nghề, giữ gìn uy tín, phẩm chất, danh dự của nhà giáo; tôn trọng kỷ luật...); kiến thức, năng lực chuyên môn (kiến thức chuyên ngành sâu rộng, hiểu biết đa văn hóa, ngoại ngữ và tin học không ngừng nâng cao...); năng lực sư phạm (xây dựng kế hoạch giảng dạy, chương trình môn học; phương pháp hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin...); nghiên cứu khoa học (NCKH) (tham gia nghiên cứu khoa học trong các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các hội thảo, viết sách...); hoạt động thực tiễn, hoạt động chính trị - xã hội (tham gia nghiên cứu thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm, thực tế cơ sở và biệt phái có thời hạn...); phát triển nghề nghiệp, phát triển bản thân (có mục tiêu phát triển nghề nghiệp, tự đánh giá bản thân, tự học tập...). 

Trên cơ sở hệ tiêu chuẩn phù hợp đó, nhà quản lý có kế hoạch phổ biến, giới thiệu bộ khung năng lực tới ĐNGV trong toàn hệ thống Học viện. Đồng thời, sử dụng bộ khung năng lực làm căn cứ tiêu chuẩn trong các công tác quy hoạch, lập kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển các điều kiện phục vụ, tạo lập cơ chế, chính sách đãi ngộ, kiểm tra, đánh giá giảng viên trong công tác quản lý, phát triển ĐNGV Học viện.

Hai là, nâng cao chất lượng quy hoạch, tuyển dụng cán bộ

Công tác quy hoạch chủ yếu được thực hiện ở cấp Học viện, vụ, viện và tập trung vào quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý mà chưa có quy hoạch ĐNGV gắn với đề án phát triển tổng thể của Học viện. Các khoa, phòng chưa có quy hoạch phát triển đội ngũ của đơn vị về số lượng và cơ cấu; chưa có kế hoạch tổng thể, lâu dài.

Công tác tuyển dụng, tuyển chọn giảng viên đã chú trọng thu hút giảng viên giỏi từ các cơ sở đào tạo khác, tạo nguồn tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp xuất sắc từ các trường đại học trong và ngoài nước; đề ra tiêu chí tuyển dụng giảng viên có khả năng hội nhập quốc tế (có khả năng ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin), tuyển chọn công khai minh bạch theo quy trình tuyển dụng hợp lý, khoa học, có tính cạnh tranh lành mạnh... Khi tuyển chọn giảng viên, tiêu chí khả năng hội nhập quốc tế là một trong những ưu tiên hàng đầu của Học viện, với chính sách thu hút giảng viên giỏi, ưu tiên những người đã từng được đào tạo ở nước ngoài. Song cho đến nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Do đó, công tác này cần tiến hành bài bản hơn, nhằm bảo đảm phát triển cả về số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng được củng cố và nâng cao. Về số lượng, phải bảo đảm cân đối, đầy đủ số lượng giảng viên ở các chuyên ngành, bộ môn theo quy định tỷ lệ học viên và giảng viên, theo đặc thù của chuyên ngành đào tạo, theo quy mô, loại hình đào tạo của Học viện. Về chất lượng: tiến tới tất cả giảng viên đều đạt và vượt chuẩn, đạt yêu cầu theo khung năng lực giảng viên; tăng số lượng giảng viên chính, giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy chuyên môn cũng như trong NCKH. Về cơ cấu, bảo đảm cân đối về độ tuổi, giới tính, trình độ, chuyên ngành giảng dạy, chuyên ngành đào tạo.

Việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ĐNGV còn giúp lãnh đạo Học viện thực hiện tốt chức năng quản lý nguồn nhân lực trong Học viện và tuyển dụng được cán bộ chất lượng cao. Đồng thời, tạo sự phát triển đồng bộ, có tính kế thừa giữa các thế hệ giảng viên, khắc phục tình trạng thừa hoặc thiếu cục bộ, bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ của ĐNGV trong bối cảnh mới.

Công tác quy hoạch ĐNGV cần được tiến hành bắt đầu từ việc dự báo, xác định quy mô, ngành đào tạo, cơ cấu nguồn nhân lực, phân tích hiện trạng đội ngũ. Từ đó, xác định nhu cầu cần bổ sung, chuyển đổi và tiến hành các biện pháp nâng cao chất lượng. Căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ của Học viện để lập quy hoạch ĐNGV. Bên cạnh đó, cần cụ thể hóa một số chính sách nhằm thu hút nhân tài và có chính sách ưu đãi vật chất nhằm khuyến khích, động viên ĐNGV học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Quá trình lập quy hoạch cũng như trong tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển ĐNGV phải luôn có sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của Đảng ủy, Ban Giám đốc đồng thời bảo đảm dân chủ trong công tác cán bộ, thường xuyên tiến hành đánh giá, lựa chọn, bố trí đi đôi với đào tạo, bồi dưỡng.

Ba là, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên gắn với nâng cao năng lực hội nhập quốc tế

Việc đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với quy hoạch và sử dụng giảng viên. Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch, có địa chỉ, theo chức năng, nghiệp vụ; gắn đào tạo, bồi dưỡng với luân chuyển giảng viên. Tăng cường quản lý ĐNGV dự nguồn, đang trong thời kỳ được đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng sau đào tạo, bồi dưỡng. Cần có quy định cụ thể về chế độ tự học, tự bồi dưỡng, quy định chế độ thời gian đi học tập, bồi dưỡng trong quá trình công tác. Cơ quan quản lý cán bộ và cấp uỷ, hàng năm cần có sơ kết, tổng kết, đánh giá ĐNGV để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tiếp theo. Thực hiện tiêu chuẩn hóa giảng viên theo chuẩn khung năng lực. Lấy tiêu chuẩn hiệu quả làm căn cứ chủ yếu.

Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò chủ động tích cực của giảng viên. Quá trình đào tạo, bồi dưỡng dành cho giảng viên sẽ mang tính hình thức và không hiệu quả nếu không xuất phát từ chính nhu cầu học tập của bản thân người giảng viên. Giảng viên cần nhận thức đúng đắn vai trò của học và tự học. Có được sự kết hợp và cân bằng giữa hai cách học trên, giảng viên mới hình thành được thái độ chủ động, tích cực trong thiết kế các phương pháp học tập cụ thể.

Nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên, gắn NCKH với đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy; xây dựng nhóm nghiên cứu nhằm tăng cường trao đổi học thuật, sáng kiến, kinh nghiệm trong NCKH; tổ chức và khuyến khích ĐNGVtham gia hội nghị, hội thảo khoa học trong và ngoài nước nhằm trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và NCKH đểxây dựng môi trường NCKH đa dạng, rộng khắp.

Muốn vậy, cần sử dụng nhiều biện pháp để khuyến khích và khơi dậy niềm đam mê NCKH của ĐNGV, tạo lập môi trường nghiên cứu cho giảng viên đóng góp những kinh nghiệm, kỹ năng và tri thức vào việc thực hiện nhiệm vụ NCKH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến chiến lược khoa học, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về khoa học - công nghệ, quán triệt các quy định về hoạt động NCKH cũng như các quy định, quy chế khác liên quan để ĐNGV có định hướng, ý thức trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ NCKH bên cạnh nhiệm vụ giảng dạy. Thông tin đầy đủ về các chủ trương, chính sách NCKH. Xác định hoạt động NCKH có vị trí quan trọng, có liên quan trực tiếp đến chất lượng giảng dạy, đào tạo của Học viện. Hình thành các giải thưởng khoa học với quy mô khác nhau để thu hút cũng như tạo nên một môi trường khoa học năng động. Có cơ chế khuyến khích giảng viên tham gia NCKH thông qua khen thưởng về vật chất và tinh thần để tôn vinh những cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động NCKH, có kết quả nghiên cứu nổi bật hay công bố bài báo khoa học trên tạp chí quốc tế... Cơ chế khen thưởng cần rõ ràng, theo định mức để tạo ra tính hấp dẫn, góp phần tạo hứng thú, say mê NCKH của giảng viên. Đồng thời, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy hoạt động NCKH trong Học viện. Dành kinh phí hợp lý cho các đơn vị tổ chức hội nghị, hội thảo. Khuyến khích tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm, sinh hoạt chuyên môn tại các viện, khoa, bộ môn, để tạo ra môi trường hoạt động học thuật sôi nổi.

 Mặt khác, cần ban hành quy định về chỉ tiêu định mức số bài khoa học được xã hội hóa, số đề tài nghiên cứu khoa học hàng năm đối với cán bộ giảng dạy theo học hàm, học vị. Tất cả các cán bộ khoa học, giảng viên có nhiệm vụ bắt buộc tham gia hoạt động khoa học dưới nhiều hình thức, ít nhất là 30% định mức thời gian làm việc. Tạo điều kiện để các chủ nhiệm đề tài công bố kết quả nghiên cứu, khơi dậy đam mê khoa học của giảng viên. Thông báo rộng rãi thông tin về đề xuất, tuyển chọn đề tài, dự án từ nhiều nguồn để cán bộ tham gia gửi hồ sơ.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế

Trong xu thế toàn cầu hoá trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong đó có lĩnh vực khoa học, giáo dục, mở rộng hợp tác quốc tế là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Thông qua hoạt động hợp tác quốc tế, ĐNGV cập nhật kiến thức, kỹ năng mới trong nghiên cứu, giảng dạy; đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật thông qua các dự án hợp tác, tiết kiệm được kinh phí đào tạo, nghiên cứu. Việc mở rộng quan hệ hợp tác với những nước có trình độ đào tạo tiên tiến trên thế giới sẽ giúp Học viện nâng cao chất lượng và uy tín trên bình diện khu vực và quốc tế.

Tiếp tục củng cố, thắt chặt mối quan hệ hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu ở các quốc gia và tổ chức quốc tế; điều phối tốt các dự án hỗ trợ Học viện và xây dựng mới các dự án quốc tế hỗ trợ; phối hợp với nước ngoài để đào tạo, bồi dưỡng các chuyên đề về hành chính và các chuyên đề về quản lý cho cán bộ lãnh đạo, quản lý và giảng viên của Học viện. Tăng cường các đoàn đi nghiên cứu thực tế, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu học thuật với các cơ sở đào tạo, đại học ở các nước có nhiều thành tựu và kinh nghiệm trong phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ và xây dựng nền chính trị ổn định, xây dựng đất nước thịnh vượng, phồn vinh. Tăng cường trao đổi các đoàn đi nghiên cứu thực tế, trao đổi kinh nghiệm, giao lưu học thuật ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng khoa học chính trị ở các nước có hoàn cảnh, bối cảnh tương đồng Việt Nam trong chuyển đổi mô hình kinh tế nhưng đạt được tốc độ tăng trưởng mạnh và nhiều thành tựu CNH, HĐH đất nước. Mời chuyên gia khoa học, học giả quốc tế trong một số lĩnh vực khoa học liên quan đến chuyên môn của giảng viên Học viện đến tập huấn, giảng chuyên đề hoặc bồi dưỡng về đổi mới chương trình, tài liệu dạy - học, phương pháp dạy - học tích cực, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giảng viên. Thiết lập các dự án hợp tác nghiên cứu giữa giảng viên Học viện với các nước trong một số lĩnh vực khoa học phù hợp. Khuyến khích, tạo cơ chế, động lực cho giảng viên nghiên cứu khoa học và công bố các công trình NCKH trên các tạp chí quốc tế.

Năm là, nâng cao ý thức phát triển nghề nghiệp, phát triển bản thân của chính đội ngũ giảng viên

Đây là biện pháp quan trọng hơn cả bởi thuộc về chủ quan ĐNGV. Chỉ khi bản thân ĐNGV có ý thức phát triển nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách và xác định được mục tiêu trong công việc thì lúc đó các biện pháp khác mới phát huy được hiệu quả, quá trình nâng cao chất lượng của chính họ mới đạt mục tiêu như mong muốn.

Ý thức phát triển nghề nghiệp không chỉ dừng lại ở việc trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực nghề nghiệp mà cần mở rộng cả ở việc lập kế hoạch tự học tập, học tập suốt đời, chủ động trong công tác nghiên cứu khoa học. Bên cạnh đó, ĐNGV cần chủ động tham gia học tập, trau dồi, bồi dưỡng các kỹ năng mềm: công nghệ thông tin, ngoại ngữ, làm việc nhóm... Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như ngày nay, ngoại ngữ và tin học có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập, nghiên cứu. Giảng viên cần nâng cao trình độ ngoại ngữ để có thể tiếp cận với các nguồn tài liệu phong phú trên thế giới, tự học tập và nghiên cứu. Bên cạnh đó, ngoại ngữ và tin học cũng giúp họ có cơ hội và khả năng tham gia nhiều loại hình đào tạo, trong đó có e-training, e-learning (đào tạo - học tập trực tuyến, tích hợp phương tiện truyền thông, năng động, sáng tạo).

Thời đại công nghệ thông tin, tri thức không biên giới như ngày nay mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức. Người giảng viên tại một khu vực địa lý này có thể phổ biến bài giảng, tri thức của mình đến nhiều người học trên nhiều vùng lãnh thổ và cung cấp cùng một lúc nhiều thông tin thực tiễn cũng như khoa học khác nhau đến người học. Điều đó yêu cầu giảng viên tiếp cận và nâng cao năng lực sử dụng giáo án điện tử cũng như ứng dụng hình thức e-training, e-learning trong giảng dạy, bởi hình thức này không chỉ dễ phổ biến mà còn dễ dàng tích hợp các phương tiện truyền thông để khai thác thông tin, làm phong phú, sâu sắc thêm bài giảng.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2015

 

TS Nguyễn Văn Lượng

Viện Đào tạo bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác