Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Thứ ba, 25 Tháng 10 2016 16:57
2637 Lượt xem

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

(LLCT) - Có nhiều giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Từ thực trạng các chương trình, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ cán bộ giảng viên, với góc độ trực tiếp tác nghiệp trong lĩnh vực quản lý đào tạo, chúng tôi xin nhấn mạnh một số giải pháp sau đây:

1. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Đối với chương trình đào tạo cao cấp lý luận chính trị

Giảng viên cần thường xuyên bổ sung, cập nhật vào bài giảng của mình các kết quả nghiên cứu mới của các nhà khoa học trong nước và nước ngoài; các thông tin thời sự tiêu biểu về tình hình trong nước và quốc tế để bảo đảm tính hiện đại, tính thực tiễn của nội dung giảng dạy. Cứ 5 năm một lần tiến hành chỉnh sửa, bổ sung nội dung chương trình đào tạo.

Trong chương trình nên có học phần về kỹ năng thuyết trình. Thực tế trên thế giới cho thấy, các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung và dài hạn luôn có nội dung này. Riêng ở Việt Nam, khả năng thuyết trình của cán bộ lãnh đạo, quản lý còn nhiều hạn chế nên việc đưa nội dung trên vào chương trình giảng dạy lại càng đặt ra cấp thiết.

Đổi mới hình thức nghiên cứu thực tế. Việc nghiên cứu thực tế nên thực hiện theo một trong hai hướng sau: (1) Học viện tổ chức nghiên cứu thực tế cho học viên. Nội dung chương trình nghiên cứu thực tế do cơ quan quản lý đào tạo và các đơn vị liên quan xây dựng, trình duyệt. Địa bàn nghiên cứu thực tế là những nơi có vấn đề, học viên thâm nhập và đề xuất phương án giải quyết. Sau khi nghiên cứu thực tế, học viên viết báo cáo kết quả và được chấm điểm một cách nghiêm túc. (2) Học viên tự tiến hành nghiên cứu thực tế để phục vụ cho đề án tốt nghiệp. Thời gian nghiên cứu thực tế được tính vào thời gian thực hiện đề án tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, trên cơ sở các chương trình hợp tác quốc tế, cần tổ chức cho học viên đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài (trước mắt là của hệ tập trung). Những học viên có kết quả học tập và rèn luyện xuất sắc (không quá 5% tổng số học viên toàn khóa) có thể được xem xét cử đi nghiên cứu thực tế ở nước ngoài (thay cho nghiên cứu thực tế trong nước).

Đối với chương trình bồi dưỡng chức danh

Các chương trình bồi dưỡng chức danh gồm 4 nội dung chính là: các chuyên đề lý luận chung; các chuyên đề báo cáo kinh nghiệm thực tế; các chuyên đề kỹ năng; thảo luận; hoạt động nghiên cứu thực tế và ngoại khóa.

Nên phân bố các chuyên đề như sau: Các chuyên đề lý luận chung: không quá 20%; Các chuyên đề báo cáo kinh nghiệm thực tế: không quá 20%; Các chuyên đề kỹ năng: ít nhất là 60%.

Thời gian dành cho thảo luận: chiếm ít nhất 1/3 thời gian dành cho các chuyên đề.

Thời gian nghiên cứu thực tế và sinh hoạt ngoại khóa: 10-15% tổng thời lượng của chương trình học.

Đối với lớp bồi dưỡng trung hạn (từ 3 tháng trở lên), nên tổ chức cho học viên nghiên cứu thực tế cả ở nước ngoài, với số lượng linh hoạt, tùy điều kiện cụ thể (chẳng hạn, có thể cả lớp hoặc một nhóm học viên tiêu biểu).

Đối với chương trình bồi dưỡng nhằm cập nhật, nâng cao kiến thức

Nội dung chương trình chỉ nên gồm 5-7 chuyên đề. Thời gian thực hiện chỉ nên kéo dài một tuần làm việc (5 ngày), và được tổ chức thường xuyên.

Các chuyên đề nên được biên soạn mới trước khi tổ chức khóa học trên cơ sở nhu cầu của người học. Cơ sở đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị liên quan để xây dựng khung chương trình cũng như biên soạn các chuyên đề.

Đối với chương trình đại học và sau đại học

Các chương trình đại học (đại học chính trị văn bằng 2) và sau đại học của Học viện, một mặt cần đáp ứng các yêu cầu theo quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, mặt khác phải mang những nét đặc thù: thể hiện rõ tính đảng và dành vị trí xứng đáng cho những nội dung về lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa học lãnh đạo, quản lý.

Theo xu hướng chung, trong các năm học tới, việc đào tạo đại học và sau đại học của Học viện phải từng bước chuyển sang hình thức đào tạo theo tín chỉ.

2. Thay đổi căn bản phương pháp đào tạo theo hướng phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo của người học

Phương pháp đào tạo áp dụng cho các lớp bồi dưỡng dự nguồn cán bộ cao cấp có thể xem là mẫu mực, nên được nhân rộng trong toàn bộ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý. Tuy nhiên, điều này chỉ khả thi khi có đầu tư tương xứng về nhiều mặt, nhất là nhân lực và cơ sở vật chất.

Trong điều kiện hiện có, chúng tôi đề xuất:

- Giảm thời gian thuyết trình của giảng viên. Nên có quy định cụ thể về tỷ lệ thời gian thuyết trình/ tổng thời gian một buổi giảng (chẳng hạn, trong một buổi giảng bài, giảng viên chỉ thuyết trình tối đa 75% tổng thời gian; thời gian còn lại dành cho trao đổi, thảo luận).

- Chủ trì các buổi thảo luận (nhất là với các chương trình bồi dưỡng chức danh) nên là các chuyên gia thực tiễn, các nhà lãnh đạo các cấp trong các lĩnh vực liên quan.

- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy: soạn bài trên phần mềm trình chiếu (Power Point), trao đổi với học viện qua E-mail, qua phần mềm quản lý đào tạo.

- Có cơ chế giám sát việc nghiên cứu tài liệu ngoài giờ lên lớp của học viên. Chẳng hạn, đầu giờ học, kiểm tra các bản tóm tắt nội dung những tài liệu đã đọc của học viên. Đây là biện pháp hiệu quả giúp tăng cường tính tự giác của học viên trong nghiên cứu tài liệu.

- Thay đổi căn bản cách kiểm tra, đánh giá truyền thống đang bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Sử dụng rộng rãi hình thức thi trắc nghiệm trên máy tính. Vừa qua, Học viện đã tổ chức thi trắc nghiệm trên máy tính đối với 3 môn học của các lớp cao cấp lý luận chính trị hệ tập trung và thu được những kết quả rất tích cực. Đẩy mạnh việc kiểm tra bằng hình thức làm bài tập nhóm, viết tiểu luận, thu hoạch. Đối với những môn không sử dụng hình thức thi trắc nghiệm, chủ yếu dùng hình thức thi vấn đáp để rèn luyện kỹ năng giao tiếp và kỹ năng thuyết trình cho học viên.

3. Đổi mới, nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả trong hoạt động quản lý đào tạo

Hoạt động quản lý đào tạo cần được thực hiện theo hướng: phát huy vai trò tự quản của học viên; nâng cao tinh thần trách nhiệm của giảng viên; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường tính chuyên nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đào tạo; hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng.

Xây dựng Ban Chi ủy (nếu lớp đủ điều kiện). Ban Chi ủy, Ban Cán sự lớp phải thực sự là cầu nối quan trọng, đáng tin cậy giữa cơ sở đào tạo và lớp học, là nhân tố hiệu quả bảo đảm kỷ luật, kỷ cương của lớp học; đồng thời góp phần tích cực phát huy tính tự giác, niềm say mê và sáng tạo trong học tập của từng học viên.

Ban hành các quy định cụ thể về trách nhiệm của giảng viên trong quản lý lớp học; có cơ chế giám sát chặt chẽ đối với việc thực hiện các quy định này.

Sử dụng rộng rãi các trang thiết bị công nghệ hiện đại; xây dựng và khai thác các phần mềm quản lý đào tạo.

Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đào tạo bảo đảm cả về số lượng và chất lượng. Người làm công tác quản lý đào tạo phải nắm chắc chuyên môn, nghiệp vụ, sử dụng thành thạo công nghệ thông tin, giao tiếp tốt, có khả năng tham mưu và tác nghiệp hiệu quả.

Chỉnh sửa, bổ sung, xây dựng mới và ban hành các quy chế, quy định liên quan đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý một cách khoa học, kịp thời. Đây là hoạt động quan trọng, cần đặc biệt chú ý vì quy chế, quy định là công cụ, phương tiện quản lý, là căn cứ pháp lý cho toàn bộ các hoạt động liên quan.

Học viện cần sớm ban hành Quy chế khảo thí, Quy chế đánh giá chất lượng đào tạo; sửa đổi, bổ sung Quy chế đào tạo trình độ thạc sỹ và Quy chế đào tạo trình độ tiến sỹ trên cơ sở các Quy chế tương ứng của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới được ban hành.

Bên cạnh đó, cần gấp rút xây dựng và triển khai đề án về kiểm định chất lượng đào tạo; xây dựng và đưa vào sử dụng Bộ Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng đào tạo.

4. Phát triển toàn diện đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thành công của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

Đối với bậc đại học ở Việt Nam hiện nay, tiêu chuẩn chung của giảng viên là có học vị từ thạc sỹ trở lên và có kinh nghiệm giảng dạy và nghiên cứu khoa học đáp ứng yêu cầu của cơ sở đào tạo. Ở mức cao hơn, một số trường yêu cầu giảng viên phải có trình độ tin học và ngoại ngữ, hướng tới đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục và hội nhập quốc tế.

Giảng viên của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý còn phải thể hiện được những đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, có bản lĩnh chính trị vững vàng để bảo đảm nội dung bài giảng không đi chệch hướng và người giảng có đủ tâm thế tạo dựng lòng tin. Trong môi trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam, những phát ngôn thiếu cẩn trọng, thể hiện sự thiếu vững chắc về quan điểm, nhận thức chính trị, có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng.

Thứ hai, các giảng viên phải đồng thời là nhà khoa học, thường xuyên có sản phẩm khoa học được công bố. Điều đó giúp cho họ một mặt có điều kiện làm sâu sắc hơn nội dung bài giảng của mình; mặt khác, có đủ bản lĩnh khoa học để trao đổi, thảo luận với học viên.

Thứ ba, họ phải thường xuyên được tích lũy các trải nghiệm thực tiễn để bài giảng mang hơi thở của cuộc sống. Nghĩa là họ định kỳ tới các địa bàn thực tế phù hợp hoặc phải là cộng tác viên thường xuyên của các cơ quan, đơn vị trong lĩnh vực trực tiếp liên quan tới chuyên môn giảng dạy. Những bài giảng quá nhiều về lý thuyết, thiếu cái “tôi” trải nghiệm của người trong cuộc sẽ không có sức thuyết phục đối với học viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Ngoài đội ngũ giảng viên cơ hữu, các cơ sở đào tạo cần tích cực mời các nhà hoạt động thực tiễn (các nhà lãnh đạo, quản lý các cấp), có đủ điều kiện về sư phạm tham gia giảng dạy. Thậm chí, nên quy định cụ thể tỷ lệ nội dung chương trình mà các nhà hoạt động thực tiễn sẽ đảm nhiệm (chẳng hạn, đối với chương trình cao cấp lý luận chính trị là không dưới 25%). Điều này giúp cho học viên có điều kiện được chia sẻ nhiều kinh nghiệm và kỹ năng bổ ích, thiết thực.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, cần mời cả các chuyên gia nước ngoài, nhất là từ các nước phát triển mà có điều kiện tương đồng về nhiều mặt với Việt Nam tham gia chương trình đào tạo. Đây là cơ hội tốt để giảng viên và học viên giao lưu, học hỏi, nâng tầm kiến thức của mình theo hướng đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

5. Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ, hiện đại, đáp ứng mục tiêu của chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Chất lượng, hiệu quả của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phụ thuộc nhiều vào các điều kiện về cơ sở vật chất. Yêu cầu chung về cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo như sau: (1) Hệ thống giảng đường, phòng máy tính, phòng thực hành, phòng thí nghiệm đầy đủ, với các trang thiết bị hiện đại, bảo đảm an ninh, an toàn, đáp ứng tốt các tiêu chuẩn của môi trường sư phạm; (2) Thư viện (gồm thư viện truyền thống và thư viện điện tử) có đủ sách, tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu của giảng viên và học viên, là môi trường thích hợp để học viên tự học hiệu quả; (3) Giảng viên và học viên được cung cấp đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy - học tập trên lớp; (4) Ký túc xá đáp ứng yêu cầu.

Căn cứ vào những yêu cầu trên, có thể nhận thấy các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của Học viện còn hạn chế, bất cập. Do vậy, cần đầu tư hệ thống giảng đường tiện nghi, hiện đại tương ứng với quy mô đào tạo, bồi dưỡng; sớm đưa vào sử dụng thư viện điện tử; tăng thêm số lượng chỗ ở cho học viên theo hướng đáp ứng đúng, đủ nhu cầu của các đối tượng liên quan xét theo mục tiêu đào tạo.

Riêng về tài liệu học tập, cần lưu ý: Trình bày nội dung các tài liệu bằng ngôn ngữ đa phương tiện. Tránh tình trạng trình bày chỉ bằng những khối chữ dày đặc gây khó khăn cho việc tiếp nhận thông tin như hiện nay. Khai thác tối đa các sản phẩm là kết quả học tập, nghiên cứu của học viên: luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ; các báo cáo nghiên cứu thực tế; đề án tốt nghiệp, v.v.. phục vụ cho việc dạy và học.

6. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý

Nghiên cứu khoa học trước hết là một nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Song mặt khác, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học còn xuất phát từ nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Thực tế cho thấy, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý không tách rời các thành tựu về nghiên cứu khoa học.

Trong 5 năm vừa qua, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Học viện có những đột phá mạnh mẽ. Trong thành công ấy, có đóng góp quan trọng của việc triển khai thực hiện Đề án 1677 - một đề án nghiên cứu khoa học quy mô lớn do Chính phủ giao nhiệm vụ, theo đó, Học viện đã xây dựng 63 chương trình đào tạo, bồi dưỡng, biên soạn hàng trăm giáo trình.

7. Tăng cường sự phối hợp giữa các đơn vị trong Học viện; giữa Học viện và các ban, bộ, ngành và các địa phương

Để công tác tổ chức các lớp học vận hành một cách hiệu quả, cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa cơ quan quản lý đào tạo và các đơn vị giảng dạy, các đơn vị chức năng trong Học viện.

Các ban, bộ, ngành và các địa phương, các cơ quan chủ quản học viên cần cử cán bộ tham gia xét tuyển, thi tuyển; tham gia các lớp học theo đúng tiêu chuẩn, đối tượng quy định; theo đúng kế hoạch của cơ sở đào tạo. Mặt khác, các cơ quan này cũng cần có cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ đi học; tránh tình trạng cử cán bộ đi công tác trong thời gian diễn ra khóa học.

Các ban, bộ, ngành Trung ương có liên quan trực tiếp tới việc tổ chức các lớp học như Ban Tổ chức, Văn phòng Trung ương, Ban Tuyên giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính… cần tăng cường hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho Học viện về cơ chế, chính sách (nhất là với những loại hình đào tạo, bồi dưỡng mới). Ban Tổ chức Trung ương và Học viện cần thống nhất cao hơn nữa trong chỉ đạo cũng như trong tổ chức thực hiện quy trình tuyển sinh.

Khi các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay đều đề cao phần kiến thực thực tiễn, rất cần có sự hỗ trợ tích cực của các cơ quan, đơn vị tham gia xây dựng nội dung chương trình, cung ứng nguồn giảng viên và trong việc tiếp nhận học viên đến nghiên cứu, khảo sát thực tế.

Để có sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là xây dựng và duy trì cơ chế thông tin hai chiều và đa chiều thường xuyên, linh hoạt, kịp thời.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2016

PGS, TS Hoàng Anh

Vụ Quản lý đào tạo,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác