Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập
Thứ tư, 01 Tháng 3 2017 13:08
4736 Lượt xem

Xã hội hóa giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập

(LLCT) - Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới. Đại hội VIII nêu rõ: “Các vấn đề chính sách xã hội đều giải quyết theo tinh thần xã hội hóa. Nhà nước giữ vai trò nòng cốt đồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giải quyết những vấn đề xã hội”(1). Cùng với quá trình đổi mới tư duy về các lĩnh vực, Đảng ta đã có đổi mới tư duy về các lĩnh vực xã hội, giáo dục, văn hóa.

Cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng, ngày 21-8-1997, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và văn hóa quy định cụ thể về xã hội hóa các hoạt động xã hội trong đó có giáo dục, tạo cơ sở pháp lý trong triển khai quan điểm của Đảng về vấn đề này, tạo sự thống nhất từ trong nhận thức đến hành động của toàn xã hội. Theo đó, xã hội hóa được hiểu là:

Vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội.

Xây dựng cộng đồng trách nhiệm tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và của người dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá. 

Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội.

Theo Nghị định 90, nội dung xã hội hóa giáo dục bao gồm: (1) Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong toàn xã hội theo nhiều hình thức; vận động toàn dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập; (2) Vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngoài xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng, các doanh nghiệp... đối với sự nghiệp giáo dục; (3) Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của toàn dân đối với giáo dục nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống giáo dục để phục vụ tốt việc học tập của nhân dân(2).

Tiếp tục chủ trương Đại hội VIII đề ra, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Các chính sách xã hội được tiến hành theo tinh thần xã hội hóa, đề cao trách nhiệm của chính quyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội”(4).

Các Đại hội X, XI của Đảng khẳng định tiếp tục đẩy mạnh chủ trương xã hội hóa, huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệpgiáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời(6), chú trọng vấn đề xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời. Quan điểm này đã được đề cập đến trong Nghị quyết 90/CP nhưng sau gần 10 năm thực hiện chưa đạt được nhiều kết quả.

Cụ thể hóa quan điểm của Đảng tại Đại hội XI, Nghị quyết 29 về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạođề ra phương hướng: “Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học... Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng”(7). Như vậy, xã hội hóa giáo dục đã xác định được trọng tâm là bậc giáo dục đại học và dạy nghề, hai cấp học quan trọng quyết định trình độ, chất lượng nguồn nhân lực nước ta.

Đại hội XII của Đảng nhận định: giáo dục - đào tạo trong thời gian qua đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong đó “Xã hội hóa giáo dục, đào tạo được đẩy mạnh...(8). Tuy nhiên, việc đổi mới giáo dục - đào tạo chưa đạt kết quả như mong muốn: “Cơ chế, chính sách có mặt chưa phù hợp; xã hội hóa còn chậm và gặp nhiều khó khăn, chưa thu hút được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển giáo dục, đào tạo”(9). Do đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục phát triển mạnh mẽ, Đại hội đề ra nhiệm vụ: “Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập”(10). Bên cạnh đó, cần nghiêm túc: “thực hiên cơ chế thị trường và đẩy mạnh xã hội hóa đối với cung cấp các dịch vụ công”(11). Đặc biệt, cần thực hiện mục tiêu: “khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đào tạo, nhất là các trường đại học, dạy nghề”(12).

Triển khai thực hiện chủ trương của Đảng về xã hội hóa giáo dục thời gian qua đã đạt nhiều kết quả:

Tạo hành lang pháp lý thuận lợi, ưu đãi, khuyến khích đầu tư phát triển giáo dục.Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Theo đó, nhà đầu tư được hưởng nhiều chính sách ưu đãi trong giao đất, cho thuê đất; hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng; hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; tham gia cung cấp các dịch vụ công do Nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động; bình đẳng trong đánh giá, sử dụng các sản phẩm và dịch vụ. Điều 12, Luật Giáo dục Đại học (2012), quy định: “Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học; ưu tiên về đất đai, thuế, tín dụng, đào tạo cán bộ để khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận; ưu tiên cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục có vốn đầu tư lớn, bảo đảm các điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật”(13) đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ sở giáo dục ngoài công lập hoạt động.

Thu hút đầu tư nước ngoài được chú trọng. Hoạt động đầu tư phát triển giáo dục đào tạo được thực hiện theo nhiều hình thức, như: công nhận văn bằng, thành lập cơ sở giáo dục, đào tạo theo hình thức liên doanh; hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc theo hình thức 100% vốn nước ngoài để thực hiện các hoạt động giáo dục cho người nước ngoài hiện đang công tác có thời hạn tại Việt Nam; giáo dục bậc phổ thông trung học cho người nước ngoài và người Việt Nam; đào tạo trung học chuyên nghiệp, ngoại ngữ, dạy nghề, đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học cho người nước ngoài và người Việt Nam; thành lập văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam. Nhờ đó, nhiều lĩnh vực và nhiều đối tượng thụ hưởng giáo dục ở nước ta có cơ hội tiếp cận với dịch vụ giáo dục chất lượng cao.

Hệ thống giáo dục quốc dân được đa dạng hóa, từng bước  xây dựng được xã hội học tập. Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả, phát triển loại hình trường, lớp chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Tính đến hết năm học 2014 - 2015, tổng số các cơ sở giáo dục là 43.874 trường, trong đó có: 41.248 trường công lập (94%), 2.626 trường ngoài công lập (6%); cả nước có gần 21 triệu học sinh, sinh viên, trong đó các trường ngoài công lập chiếm 6,4%. Mô hình trường chất lượng cao, trường quốc tế thời gian qua cũng đã phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường học tập tốt cho con em người nước ngoài, người Việt Nam. Bên cạnh nguồn vốn ngân sách Trung ương đầu tư thực hiện Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên, ngân sách địa phương đã huy động 6.720 tỷ đồng; các nhà tài trợ, cộng đồng dân cư trong cả nước đã đóng góp 721 tỷ đồng, đạt 70,67% kế hoạch giai đoạn 2008  - 2012(14).Chính phủ đã phê duyệt đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010 và tiếp tục phê duyệt đề án xây dựng xã hội học tập đến 2020. Theo đó, mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời, tận dụng mọi cơ hội học tập để làm công dân tốt, có nghề, lao động với hiệu quả ngày càng cao; học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc; học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại.Trên cơ sở đó, các địa phương đã triển khai các lớp chuyển giao khoa học, kỹ thuật, tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo, phổ cập kiến thức tin học, ngoại ngữ cho người dân. Nhiều phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng được triển khai rộng khắp. Một số trung tâm học tập cộng đồng được triển khai thực hiện.

Thu hút nhiều doanh nghiệp tham gia đầu tư vào giáo dục. Trong những năm gần đây, nhờ chính sách xã hội hóa giáo dục, nhiều tập đoàn, doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo, xây dựng trường, cơ sở đào tạo để chuẩn bị nguồn nhân lực cho ngành mình: Trường Đại học Bưu chính Viễn thông (Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông); Trường Đại học Điện lực (Tập đoàn Điện lực Việt Nam); Trường Đại học Dầu khí (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam); Trường Cao đẳng Vietronics Hải Phòng (Tổng Công ty Điện tử và Tin học Việt Nam); Trường Đại học FPT (Tập đoàn FPT);... Các trường đã trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành mình và góp phần đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện xã hội hóa giáo dục vẫn còn một số hạn chế:

Nhiều chính sách triển khai chậm, hiệu quả chưa cao.Một số ưu đãi về giao đất hoặc cho thuê đất; cơ sở vật chất với giá ưu đãi; ưu đãi tín dụng thực tế triển khai rất hạn chế do nhiều nguyên nhân, như vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương, thiếu quy hoạch sử dụng đất đai cho mục đích xã hội hóa. Nhiều trường mầm non, phổ thông ngoài công lập chưa được ưu tiên giao đất, cho thuê đất, thuê nhà theo Thông tư số 135/2008/TT- BTC, ngày 31-12-2008 của Bộ Tài chính hoặc đã được giao đất, thuê đất, thuê nhà nhưng không bảo đảm diện tích đất tối thiểu theo quy định; để đáp ứng nhu cầu về cơ sở vật chất, các trường ngoài công lập tự thu xếp nguồn vốn trong việc chuyển nhượng hoặc thuê đất của tư nhân để đầu tư xây dựng nên chi phí đầu tư cao; quy mô học sinh trung bình trường thấp, nhất là cấp học mầm non.

Đối với các trường ngoài công lập thì loại hình trường đa cấp là khá phổ biến, nhưng Quyết định số 1466/QĐ-TTg chưa có quy định về loại hình trường này nên khó khăn cho các đơn vị khi thực hiện. Nghị định số 49/2010/NĐ-CP và Nghị định số 74/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập và cơ chế thu sử dụng học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân từ năm học 2010 - 2011 đến năm học 2014 - 2015, để có thêm nguồn thu, các cơ sở giáo dục đại học công lập buộc phải tăng số lượng và quy mô học sinh đào tạo, mở rộng các loại hình đào tạo không chính quy, liên kết đào tạo. Nhưng việc mở rộng quy mô đào tạo không tương xứng với năng lực đào tạo của các trường (về giáo viên, cơ sở vật chất, thư viện, phòng thí nghiệm,...).

Xã hội hóa chưa thực sự gắn với công bằng xã hội trong giáo dục. Việc xã hội hóa để xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời và giải quyết tốt mối quan hệ với công bằng xã hội trong giáo dục được Đảng, Nhà nước quan tâm. Tuy nhiên, vấn đề này chưa thực sự được giải quyết trong thực tiễn. Nhiều trẻ trong các độ tuổi khác nhau chưa được đến trường... Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường trong độ tuổi mầm non là 12,19%; độ tuổi tiểu học: 3,97%; độ tuổi trung học cơ sở: 11,17%(13). Việc phổ cập giáo dục mầm non và trung học cơ sở chưa hoàn thành mục tiêu đề ra. Tỷ lệ trẻ trong độ tuổi theo học hai cấp này thấp hơn hẳn phản ánh sự thiếu quan tâm đúng mức của các chính sách xã hội trong việc khuyến khích trẻ em đến trường. Theo nghiên cứu của UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), tỷ lệ trẻ em chưa bao giờ đi học khá cao, đặc biệt cao đối với một số nhóm dân tộc thiểu số. Cả nước có 2,57% trẻ em từ 5-17 tuổi chưa bao giờ đi học, trong đó dân tộc Mông có tỷ lệ cao nhất trong các nhóm dân tộc thiểu số (23,02%). Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị, miền núi cao hơn đồng bằng(15).

Hiện nay, cơ sở vật chất, mạng lưới trường lớp được đầu tư theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa. Tuy nhiên, cơ sở vật chất ở các vùng miền còn khác nhau. Một số nơi cơ sở vật chất trường lớp thiếu thốn, tỷ lệ trường tạm, điểm trường còn cao. Năm học 2014 - 2015 các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc còn thiếu 7.200 phòng học, hơn 5.500 phòng học tạm và 5.852 phòng học nhờ(15); riêng huyện Sơn Tây (Quảng Ngãi) hơn 60 điểm trường chưa có điện(16)... 

Chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục ngoài công lập chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển nền kinh tế; tình trạng lãng phí, thương mại hóa trong giáo dục chưa được khắc phục. Chất lượng giáo dục giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi, những nơi có điều kiện kinh tế phát triển với những nơi còn khó khăn có sự chênh lệch lớn. Chất lượng giáo dục đại học ngoài công lập (NCL) những năm qua đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là mối quan hệ giữa quy mô và đảm bảo chất lượng đào tạo. Từ năm 2005, việc cho phép thành lập mới các trường đại học, cao đẳng trong đó có các trường NCL khiến quy mô trường học tăng nhanh chóng. Trong 195 trường đại học được thành lập mới có 56 trường NCL (chiếm 28,7%)(17). Hiện nay, nhiều trường không thể tuyển sinh, đứng trước nguy cơ phá sản gây nhiều hệ lụy cho người học, người lao động. Nhiều sinh viên tốt nghiệp các trường NCL không thể xin được việc làm gây lãng phí lớn. Nguyên nhân của những bất cập nói trên là do công tác quản lý nhà nước chưa theo kịp yêu cầu phát triển của giáo dục đại học NCL. Nhiều chính sách còn chồng chéo; việc quản lý còn phân tán, có khi buông lỏng. Chưa có đơn vị chuyên trách quản lý giáo dục NCL trong Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc mở rộng quy mô hệ thống, quy mô đào tạo giáo dục NCL chưa gắn với điều kiện bảo đảm chất lượng và nhu cầu nhân lực.

Để tăng cườngxã hội hóa trong giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, quán triệt quan điểm xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước từ Trung ương đến địa phương

Quán triệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục - đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở pháp lý đảm bảo thực hiện xã hội hóa, trong đó, đảm bảo vai trò của Nhà nước, gắn xã hội hóa với công bằng trong giáo dục - đào tạo. Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các văn bản, chính sách liên quan đến xã hội hóa giáo dục, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thuận lợi để khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo. Mặt khác, cần tăng cường hoàn thiện các công cụ quản lý và vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước. Để làm được điều đó cần tiến hành cải cách hành chính; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; đổi mới và hoàn thiện hệ thống thông tin trong quản lý nhà nước. Áp dụng các thành tựu khoa học - công nghệ vào hoạt động quản lý nhà nước. Chính quyền các cấp cần ưu tiên đầu tư ngân sách cho phát triển giáo dục  - đào tạo, có biện pháp điều tiết học phí của các cơ sở giáo dục NCL, tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật về xã hội hóa; tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực, nhất là thu hút doanh nghiệp đầu tư cho giáo dục. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát hoạt động giáo dục, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

Hai là, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở và xây dựng xã hội học tập

Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục quốc dân, các cấp học, đẩy mạnh xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp công lập có khả năng tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động theo hướng tiếp tục đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, nhân sự. Khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Bên cạnh việc củng cố các trường công lập giữ vai trò chủ đạo, lấy đó làm nòng cốt, cần mở ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các loại hình trường ngoài công lập, tạo cơ hội cho mọi người dân nâng cao trình độ, tiếp cận được tri thức mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật; sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để phát triển giáo dục từ xa... Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại trường, lớp bán công, dân lập, tư thục tại thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng có kinh tế thuận lợi.

Ba là, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia xã hội hóa giáo dục  - đào tạo

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng để vận động nhân dân tham gia có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục.

Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền về chủ trương, chính sách xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước trong nhân dân để tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia, đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục.

Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục. Cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước cần cải tiến chế độ học phí, huy động thêm sự đóng góp của cha mẹ học sinh và của các doanh nghiệp. Việc huy động nhân dân tham gia đóng góp cho giáo dục phải được xem xét một cách kỹ lưỡng, căn cứ vào mức sống và khả năng của nhân dân ở từng vùng, từng địa phương trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội; được thực hiện thông qua chính sách học phí và trợ cấp xã hội, cho vay vốn để đi học.

Bên cạnh đó, cần huy động nguồn lực từ chính các doanh nghiệp; quy định nghĩa vụ đóng góp của các doanh nghiệp cho hoạt động giáo dục - đào tạo, căn cứ vào doanh thu, số lượng và trình độ đào tạo của đội ngũ lao động. Những khoản đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp cho hoạt động giáo dục đào tạo không tính vào doanh thu, lợi nhuận chịu thuế. Ban hành các cơ chế tạo sự bình đẳng giữa hệ thống giáo dục và đào tạo công lập và ngoài công lập trong tham gia đào tạo nguồn nhân lực xã hội và hưởng các hỗ trợ của ngân sách nhà nước. Việc khuyến khích các doanh nghiệp, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước đóng góp, viện trợ và hỗ trợ giáo dục, đào tạo dưới các hình thức khác nhau, như: trao học bổng, nhận sinh viên đến thực tập, hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, hiến, tặng sách vở, tài liệu... cần được chú trọng.

Bốn là, phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục  - quản lý

“Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học, công nghệ thật sự là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế... Phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp”(18). Do đó, việc ứng dụng khoa học công nghệ nhất là quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia là yêu cầu cấp bách hiện nay. Để làm được điều đó cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục; triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục.

Nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn, phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành, trung tâm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm hiện đại trong một số cơ sở giáo dục đại học. Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học. Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở đào tạo. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng và giao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học. Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập. Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới.

Năm là, chủ động mở rộng hợp tác quốc tế trong giáo dục  - đào tạo

Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng XHCN, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo(19). Muốn vậy, cần khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các trường đại học hàng đầu quốc tế mở cơ sở đào tạo ở Việt Nam, đặc biệt là trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách. Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế. Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, hợp tác giáo dục với nước ngoài để tăng thêm nguồn lực phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cho phép một số trường đại học hoặc các tổ chức giáo dục nước ngoài, người Việt Nam sống ở nước ngoài được mở trường tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam. Cho phép các trường đại học trong nước mời giáo viên nước ngoài, giáo viên là người Việt Nam sống ở nước ngoài vào giảng dạy. Bên cạnh đó, cần tổ chức các diễn đàn, hội thảo nhằm giới thiệu các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, dạy nghề ưu tiên mà Chính phủ Việt Nam cần thu hút nguồn vốn Hỗ trợ phát triển chính thức ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, đồng thời là cơ hội để tiếp cận và tạo mối quan hệ thân thiết với các nhà tài trợ chiến lược.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 6-2016

(1) ĐCSVN: Báo cáo Chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, http://dangcongsan.vn

(2) Nghị quyết 90/NQ-CP, ngày 21-8-1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, http://chinhphu.vn

(3) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.108

(4) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, http://dangcongsan.vn

(5) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, http://dangcongsan.vn

(6) (19):ĐCSVN: Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 về đổi mới Căn bản và toàn diện giáo dục  - đào tạo, http://chinhphu.vn

(7), (8), (9), (10), (18) ĐCSVN: Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.228, 249, 27, 276, 296-297, 299-230, 20

(11) Luật Giáo dục Đại học(2012)

(12) Dẫn theo Nguyễn Vinh Hiển: Về công tác xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua và các giải pháp đồng bộ cần thực hiện thời gian tới, http://www.tapchicongsan.org.vn

(13) Tổng cục thống kê: Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009, http://chinhphu.vn

(14) UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu Sáng kiến toàn cầu về trẻ em ngoài nhà trường, Hà Nội, 2013, tr.7-8

(15) Thanh Thủy: Giáo dục miền núi còn nhiều khó khăn, baotintuc.vn

(16) Hơn 60 điểm trường Quảng Ngãi chưa có điện, vtv.vn

(17) Hiệp hội  Các trường đại học và cao đẳng ngoài công lâp Việt Nam: Báo cáo của Ban Chấp hành  Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập Việt Nam tại Hội nghị Đánh giá 20 năm  phát triển mô hình giáo dục đại học ngoài công lập  ở Việt Nam, ngày 26-9-2013.

 

ThS Nguyễn Hoa Mai

Tạp chí Lý luận chính trị,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác