Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Quán triệt quan điểm của Đại hội XII vào nghiên cứu, giảng dạy bài "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam"
Thứ tư, 26 Tháng 4 2017 15:07
492 Lượt xem

Quán triệt quan điểm của Đại hội XII vào nghiên cứu, giảng dạy bài "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam"

(LLCT) - “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) gắn với phát triển kinh tế tri thức” là bài số 6 trong Giáo trình Kinh tế chính trị học Mác - Lênin, chương trình Cao cấp lý luận chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh(1). Trong đó, giới thiệu những kiến thức cơ bản của kinh tế chính trị Mác - Lênin và phân tích, xác định đường lối của Đảng trong các giai đoạn phát triển cho đến Đại hội XI của Đảng. Tại Đại hội XII (1-2016), Đảng ta đã kế thừa những tư tưởng, quan điểm về CNH, HĐH trong các kỳ đại hội trước, và những phát triển về nội dung này cần được quán triệt vào giảng dạy, bảo đảm tính cập nhật.

1. Những kế thừa và phát triển lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

Thứ nhất, khẳng định nhất quán quan điểm đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Tại Đại hội X, lần đầu tiên Đảng ta nêu ra luận điểm quan trọng về phát triển kinh tế tri thức với tư cách là một yếu tố mới cấu thành đường lối CNH, HĐH. Đến đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức”(2). Điều đó thể hiện sự nhất quán của Đảng ta về vấn đề này.

Đại hội XII xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đạihóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức, lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm động lực chủ yếu”(3). Như vậy, Đại hội XII đã cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đã đề ra tại Đại hội XI.

Ở đây, việc nhận thức quá trình phát triển đất nước không chỉ đơn thuần là tiến hành CNH, mà phải là CNH đi đôi với HĐH, phải đẩy mạnh việc gắn kết chặt chẽ CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức. Phạm vi tiến hành không chỉ là các ngành kinh tế quốc dân như quan niệm trước đổi mới, mà nó bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, tức là CNH, HĐH đất nước trong điều kiện thế giới đang chuyển mạnh sang phát triển kinh tế tri thức. Sự gắn kết này được xác định là cấp thiết đối với nước ta không chỉ để vượt qua “nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới” nhằm sớm trở thành nền kinh tế hiện đại, mà còn tạo điều kiện vật chất, kỹ thuật và năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, hội nhập quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn. Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là phương thức xây dựng một nước công nghiệp trong điều kiện mới của cách mạng khoa học, công nghệ và xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ. Như vậy, chủ trương của Đại hội XII cũng chính là sự cụ thể hóa việc thực hiện định hướng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 đã đề ra tại Đại hội XI.

Thứ hai, những điểm mới được bổ sung trong lý luận đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam

Xác định tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu “đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” đã được Đảng ta khẳng định từ Đại hội VIII. Trải qua 20 năm với những điều chỉnh về nội hàm và thời điểm đạt được mục tiêu, song việc nhận thức các tiêu chí đánh giá thế nào là nước công nghiệp theo hướng hiện đại vẫn chưa có sự thống nhất cả về lý luận và thực tiễn. Vì thế, chúng ta thiếu cơ sở để xác định nước ta đang ở trong giai đoạn nào trong quá trình CNH, HĐH, thiếu căn cứ để định hướng và hoạch định các mục tiêu phát triển cũng như hệ thống giải pháp tổng thể thực hiện mục tiêu đó trong giai đoạn tiếp theo. Việc đánh giá các chính sách và mục tiêu CNH, HĐH đã được đề ra cũng không có tiêu chuẩn cụ thể. Để đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong thời gian tới, Đại hội XII yêu cầu:“Xác định hệ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại(4). Đây là đòi hỏi cần thiết, có ý nghĩa quan trọng và là điểm mới trong nhận thức lý luận về CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Trong điểm mới này, cần phải xác định hệ thống các chỉ tiêu cụ thể để đất nước đạt trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở giai đoạn hoàn thành CNH, HĐH. Hệ chỉ tiêu đó phải phản ánh được trình độ phát triển toàn diện của đất nước cả về kinh tế, xã hội và chất lượng môi trường.

Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Đây là một đặc điểm của CNH, HĐH ở Việt Nam đã được xác định tại Đại hội IX, cùng với việc chính thức khẳng định kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta(5). Tuy đã nhận thức CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức là phương tiện để đạt tới mục đích của kinh tế thị trường định hướng XHCN, song việc nhận thức vẫn chưa đầy đủ. Mặc dù tiến hành CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và có vai trò quan trọng, nhưng kinh tế tư nhân vẫn  chưa được coi là động lực để phát triển, sự can thiệp của Nhà nước vào phát triển một ngành, một sản phẩm vẫn tồn tại, nhiều khi không đáp ứng nhu cầu của thị trường, gây thất thoát, lãng phí nghiêm trọng, tác động tiêu cực tới mục tiêu thực hiện mô hình CNH rút ngắn.

Cùng với dòng chảy “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, từ khi chính thức là thành viên WTO năm 2007, nước ta đã liên tục tham gia đàm phán nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với các đối tác song phương, đa phương và khu vực. Theo đó, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng có nhiều cơ hội song cũng có không ít thách thức đan xen. Việc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong giai đoạn tới phải đặc biệt chú ý đặc điểm mới này. Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể lựa chọn chính xác sản phẩm để sản xuất, phân bổ nguồn lực, lựa chọn công nghệ, bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, kết hợp và phát huy tốt nguồn lực bên ngoài với nguồn lực trong nước, tham gia sâu rộng vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu có hiệu quả. Bởi vậy, trên cơ sở thống nhất những nhận thức mới về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đại hội XII xác định: “đẩy mạnh thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế (6). Tức là, việc tiến hành CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức phải tuân theo các nguyên tắc, quy luật của thị trường, đồng thời coi trọng vai trò quản lý, định hướng của Nhà nước.

Xác định bước đi của tiến trình CNH, HĐH đất nước. Kể từ Đại hội VIII 1986, Đảng ta đã chủ trương “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước”. Nhưng qua 30 năm, chúng ta chỉ mới dừng ở nhận thức quá trình này phải trải qua hai bước: (1) Chuẩn bị các tiền đề cần thiết cho CNH, HĐH (bước này đã xác định hoàn thành cơ bản vào năm 1996); và (2) Đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước - đây là bước tiến hành tiếp theo. Tuy nhiên, đến nay chúng ta vẫn chưa xác định được sau khi hoàn thành bước đi thứ hai thì bước tiếp theo là gì và hiện nay nước ta đã trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hay chưa? Vì thiếu lộ trình CNH, HĐH nên mặc dù mong muốn “tăng tốc” để tiến hành CNH rút ngắn, song do không xác định rõ nội dung then chốt để thực hiện nên chúng ta chưa xây dựng được bước đi phù hợp để tập trung nguồn lực, ưu tiên đầu tư đúng mức. Để khắc phục những hạn chế trên, Đại hội XII xác định: “công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến hành qua ba bước: tạo tiền đề, điều kiện để công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; và nâng cao chất lượng công nghiệp hóa, hiện đại hóa”(7). Trên cơ sở đó, Đảng xác định trong 5 năm tới, CNH, HĐH ở nước ta vẫn đang ở bước thứ hai, cần tiếp tục được đẩy mạnh. Đây là nhận thức mới, có ý nghĩa chỉ đạo quá trình CNH, HĐH đất nước, tránh dàn trải.

Điều chỉnh một số nội dung và giải pháp nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong giai đoạn tới. Gắn kết CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức trong từng bước phát triển là con đường nhằm tranh thủ lợi thế của nước đi sau. Trước Đại hội XII, Đảng ta chưa luận giải rõ nội dung và yếu tố gắn kết cụ thể như thế nào trong điều kiện hiện nay của Việt Nam và bối cảnh mới của thế giới, do đó sức ảnh hưởng của nó đến việc hoạch định chính sách còn hạn chế.Do xuất phát điểm của đất nước thấp, nguồn lực còn hạn hẹp nên việc gắn kết các nội dung CNH, HĐH và kinh tế tri thức phải được chú trọng để tránh tình trạng dàn trải, kém hiệu quả. Phải luận chứng một cách thuyết phục và bảo đảm tính hiện thực trong phương thức gắn kết các nội dung ngay trong từng bước đi để phát triển bền vững trong CNH rút ngắn. Đồng thời, phải nhận thức đầy đủ hơn việc giải quyết mối quan hệ giữa đẩy mạnh CNH, HĐH với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng coi trọng chiều sâu, nâng cao chất lượng.

Theo hướng đó, Đại hội XII xác định những nội dung của CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức trong giai đoạn tới tập trung vào các ngành, lĩnh vực chủ yếu gồm công nghiệp, nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các ngành dịch vụ, kinh tế biển, kinh tế vùng và liên vùng, phát triển đô thị. Định hướng chung để phát triển các ngành, lĩnh vực này là phải có tầm nhìn trung, dài hạn, có lộ trình cho từng giai đoạn phát triển. Chú ý phát triển theo hướng hiện đại, tăng hàm lượng tri thức và khoa học, công nghệ, tạo lợi thế cạnh tranh để tham gia sâu rộng, có hiệu quả vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu. Chẳng hạn, trong công nghiệp, tư tưởng cơ bản vẫn là phát triển công nghệ nhiều tầng, nhiều quy mô, trình độ, nhưng Đại hội XII yêu cầu phải cấu trúc lại hệ thống sản xuất của nền kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng khoa học, công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm. Phát triển có chọn lọc một số ngành chế biến, chế tạo,công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp và kinh tế nông thôn phải phát triển gắn với xây dựng nông thôn mới. Sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững. Các ngành dịch vụ phải được đẩy mạnh phát triển theo hướng hiện đại, có tốc độ gia tăng cao hơn các khu vực khác, định hướng phát triển dịch vụ vào các ngành có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao. Đồng thời, cần phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đồng thời ưu tiên phát triển các vùng kinh tế động lực; có chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn. Xây dựng một số đặc khu kinh tế(8).

Đại hội XII cũng xác định cụ thể điều kiện, tiền đề bảo đảm cho đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức. Trong đó, một số nội dung quan trọng được nhấn mạnh để tập trung giải quyết như: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo môi trường thuận lợi cho các chủ sản xuất, kinh doanh; phát triển nguồn nhân lực; phát triển khoa học và công nghệ; nâng cao hiệu quả đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Đặc biệt, phải làm cho giáo dục và đào tạo thật sự trở thành quốc sách hàng đầu, phải chú trọng yếu tố chất lượng và hiệu quả; khoa học và công nghệ phải thực sự gắn kết và trở thành động lực thúc đẩy CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức(9).

2. Yêu cầu đối với việc nghiên cứu, giảng dạy bài “công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam” giai đoạn tới

Từ nhận thức lý luận trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng và nội dung bài “công nghiệp hóa, hiện đại hóagắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam”, trong công tác  nghiên cứu, giảng dạy cần lưu ý một số vấn đề:

Thứ nhất, nghiên cứu, quán triệt, phổ biến và vận dụng tư tưởng Đại hội XII của Đảng vào nội dung bài giảng

Đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào giảng dạy, học tập ở Học viện và các trường chính trị vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng của mỗi giảng viên, vừa là đòi hỏi thực tế của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm giúp người học kịp thời cập nhật kiến thức mới, vận dụng vào thực tiễn công tác đạt hiệu quả.

Để thực hiện nhiệm vụ này, trước hết giảng viên phải học tập, nghiên cứu Văn kiện Đại hội XII một cách đầy đủ, nghiêm túc, tránh hình thức để nắm chắc cơ sở lý luận và thực tiễn, nội dung và tinh thần của Nghị quyết. Trên cơ sở đó, trong bài giảng phải có những liên hệ lý luận, thực tiễn chính xác, sát với tinh thần đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức đã xác định tại Đại hội XII. Chẳng hạn, khi nói về sự cần thiết phải đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam, giảng viên có thể liên hệ bối cảnh mới khi nước ta hội nhập mạnh mẽ, liên tục đàm phán các hiệp định FTA với các đối tác song phương, đa phương và khu vực. CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức chính là con đường có tính chất bắt buộc để nước ta vượt qua thách thức và đón bắt cơ hội, đưa đất nước phát triển.

Giảng viên cần có sự phân biệt, so sánh với các nghị quyết trước đó, trên cơ sở bảo đảm tính chính xác, khoa học, có hệ thống và đúng nội dung, tinh thần, tư tưởng của các văn kiện. Phải chỉ ra được những nội dung chỉ đạo cốt lõi, sự nhất quán về tư tưởng, lý luận qua các kỳ đại hội của Đảng về CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức và những phát triển mới của Đại hội XII về vấn đề này. Trên cơ sở đó, bảo đảm chuyển tải đến người học một cách trung thực, nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống một cách hiệu quả nhất, không cắt xén máy móc, phiến diện và lệch lạc.

Ngoài ra, để hoàn thiện bài giảng, giảng viên còn phải nghiên cứu, bổ sung, cập nhật những nội dung còn thiếu, lạc hậu hoặc chưa thể hiện đúng nội dung, tinh thần của các Văn kiện Đại hội XII. Những nội dung được bổ sung phải bám sát, không được thoát ly mục tiêu, yêu cầu của bài giảng và thời lượng thực hiện bài giảng đã xác định.

Thứ hai, nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong giai đoạn tới

Bên cạnh việc giảng dạy, giảng viên còn có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Quan điểm, chủ trương và giải pháp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong các Văn kiện Đại hội XII không chỉ là những nội dung cần được quán triệt, phổ biến để thực hiện, mà còn là những gợi ý quan trọng về hướng nghiên cứu đối với khoa học kinh tế chính trị. Một số vấn đề cần quan tâm nghiên cứu hiện nay là:

Luận chứng để làm rõ hơn con đường CNH, HĐH rút ngắn ở Việt Nam. Thực chất đây là con đường nhằm tranh thủ cơ hội của nước đi sau trong quá trình phát triển. Tuy tư tưởng phát triển rút ngắn đã khởi phát từ Đại hội IX của Đảng và nay là căn cứ lựa chọn giải pháp phát triển, nhưng trước đây mới quan tâm đến yếu tố số lượng, ưu tiên hàng đầu cho mục tiêutăng trưởng kinh tế và mức GDP bình quân theo người màthiếu quan tâm đến yếu tố chất lượng tăng trưởng như cơ cấu, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, vị thế của nền kinh tế trong hệ thống phân công lao động quốc tế và khu vực...Việc “rút ngắn”không chỉ có nghĩa là rút ngắnvề mặtthời gian để trở thành một nướccông nghiệp theo hướng hiện đại, màcần phải nhận thức đó là rút ngắn khoảng cách nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới.Để thúc đẩy quá trình này, trong thời gian tới, cần phải luận chứng làm rõ thực chất của con đường CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam. Cần xác định rõ việc “rút ngắn” của Việt Nam được thực hiện bằng mô hình nào, để từ đó có phương hướng và giải pháp tập trung nguồn lực, thúc đẩy động lực phát triển.

Đại hội XII đã đưa ra chủ trương CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tri thức trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Đây là một đặc điểm quan trọng, tuy nhiên, trong thời gian tới, cần xác định rõ chủ thể tiến hành CNH, HĐH, phương thức huy động vốn, lựa chọn công nghệ và các nguồn lực khác, động lực phát triển, cơ chế vận hành và vai trò của Nhà nước trong tiến trình CNH, HĐH... Để có được những phân tích khoa học chính xác, nhằm xác định rõ các nội dung trên thì vai trò của người làm khoa học là hết sức quan trọng.

Vấn đề nguồn lực để thực hiện CNH, HĐH. Nhân lực và khoa học, công nghệ được coi là nguồn lực đặc biệt, có vai trò quyết định tốc độ và chất lượng CNH, HĐH. Tuy việc phát triển hai nguồn lực này được coi là quốc sách hàng đầu, nhưng mục tiêu, nội dung và cơ chế phát triển trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thứcvẫn chưa được sáng tỏ. Nước tađang phải đối mặt với sự bất cập giữa cơ cấu cung và cầu về nhân lực. Chất lượng, nhất là trình độ chuyên môn kỹ thuật, tính năng động, tính trách nhiệm và tính kỷ luật của người lao động còn thấp. Tình trạng lãng phí về nhân lực vẫn đang xảy ra, nguồn lực khoa học và công nghệ của Việt Nam cũng đang bị lãng phí nghiêm trọng. Động lực cho phát triển khoa học và công nghệ vẫn chưa thực sự khơi dậy, vẫn chưa ra khỏi cơ chế “xin - cho”... Bởi vậy, trong giai đoạn tới, để thực hiện CNH, HĐH rút ngắn có hiệu quả, cần nghiên cứu, làm rõ quan điểm về nguồn lực, các giải pháp phát triển, thu hút và sử dụng các nguồn lực trên, tránh lãng phí.

Xác định rõ tiêu chí nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội XII chỉ rõ, để xác định nước ta đang ở giai đoạn nào của quá trình CNH, HĐH và mức độ hoàn thành CNH, HĐH, cần phải có các tiêu chí đánh giá. Những tiêu chí đó phải phản ánh trình độ phát triển về kinh tế, xã hội và môi trường. Cần xác định rõ các tiêu chí ở giai đoạn hoàn thành CNH, HĐH. Song, việc xây dựng hệ tiêu chí đó dựa trên nguyên tắc nào và bao gồm những chỉ tiêu cụ thể gì thì cần có sự nghiên cứu, luận chứng của người làm khoa học...

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016

Tài liệu tham khảo

(1) Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình cao cấp lý luận chính trị, Khối kiến thức thứ nhất, Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Tập 2, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2014, tr.205-244. (2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.72.

(3), (4), (6), (7), (8), (9): ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.90; 89; 90; 90; 92-97; 113-123.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.86.

 

PGS, TS An Như Hải

Viện Kinh tế chính trị học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác