Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Hoạt động khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục trong cơ sở đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay
Thứ tư, 26 Tháng 4 2017 15:08
324 Lượt xem

Hoạt động khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục trong cơ sở đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay

(LLCT) - Khảo thí (testing) là kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục đối với người học, thông qua một quy trình chặt chẽ nhằm đo lường mức độ đạt được của người học về kiến thức, kỹ năng, thái độ hay năng lực.

Kiểm định chất lượng (accreditation) là đánh giá tiến trình hoạt động và kết quả của cơ sở đào tạo đại học hay một chương trình học theo một quy trình và tiêu chuẩn được xác định rõ ràng.

Bảo đảm chất lượng(quality assurance) là rà soát, đánh giá một cách có hệ thống về hoạt động của các bộ phận trong trường, đề xuất các quy trình nhằm bảo đảm cho mọi tiến trình và kết quả công việc của nhà trường đáp ứng các tiêu chuẩn của kiểm định chất lượng. Hiểu theo nghĩa rộng, bảo đảm chất lượng là một chương trình hành động nhằm đánh giá và giám sát một cách có hệ thống nhiều yếu tố khác nhau của một dự án, một dịch vụ, hay một cơ quan, đơn vị nhằm bảo đảm nó đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng nhất định. Theo nghĩa đó, kiểm định được xem là một biện pháp nhằm bảo đảm chất lượng.

Hiện nay, hoạt động kiểm định chất lượng (KĐCL) giáo dục đã trở nên khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Trong số 213 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới tham gia Mạng lưới quốc tế các tổ chức bảo đảm chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE), phần lớn đều triển khai các hoạt động KĐCL giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp nhằm mục đích quản lý, giám sát và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục(1).

Các tổ chức KĐCL giáo dục của các nước trên thế giới khá đa dạng về mặt sở hữu (nhà nước, các hiệp hội hay các tổ chức, cá nhân), về đối tượng kiểm định (trường, chương trình, tất cả các cấp học hay chỉ giáo dục đại học...), về tính phụ thuộc hay độc lập với nhà nước (độc lập hoàn toàn với nhà nước, độc lập trong việc đưa ra các quyết định chuyên môn nhưng vẫn nhận kinh phí của nhà nước hay phụ thuộc hoàn toàn vào nhà nước).

Ở Hoa Kỳ hiện nay, tất cả các tổ chức KĐCL giáo dục đều không trực thuộc nhà nước. Tuy nhiên, hầu hết các tổ chức KĐCL giáo dục của các nước khác đều do nhà nước thành lập và nhận kinh phí hỗ trợ của nhà nước. Hiện nay, trên thế giới có ba mô hình kiểm định chất lượng giáo dục:

Mô hình thứ nhất,bao gồm một số tổ chức KĐCL giáo dục độc lập với nhau, có nhiệm vụ triển khai các hoạt động đánh giá ngoài và có thẩm quyền công nhận các cơ sở giáo dục và chương trình giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Mô hình này cần có một tổ chức mang tính hiệp hội để liên kết và đại diện cho các tổ chức KĐCL giáo dục, qua đó, tạo diễn đàn để các tổ chức này có thể trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Tuy nhiên, theo mô hình này, sự liên kết giữa các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục khá lỏng lẻo và nhà nước khó quản lý. Ngoài Hoa Kỳ và Canađa, không nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng mô hình này.

Mô hình thứ hai,tập trung cho một hoặc một vài cấp học, thí dụ: tổ chức KĐCL giáo dục đại học, trung học chuyên nghiệp, tổ chức KĐCL giáo dục phổ thông... Phần lớn các quốc gia sử dụng mô hình này.

Mô hình thứ ba, tập trung cho tất cả các cấp học, thí dụ: tổ chức đánh giá và KĐCL các trường mầm non, phổ thông, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học với sự hỗ trợ của hệ thống các đơn vị đánh giá ngoài. Văn phòng chuẩn quốc gia đánh giá chất lượng giáo dục (ONESQA) của Thái Lan là một thí dụ điển hình cho mô hình này.

Hoạt động KĐCL giáo dục của các quốc gia cũng không giống nhau. Một số quốc gia chỉ kiểm định trường, một số khác chỉ kiểm định chương trình, nhưng cũng có những quốc gia đồng thời sử dụng cả hai hình thức trên. Đặc biệt, có tổ chức KĐCL giáo dục không trực tiếp kiểm định các cơ sở giáo dục mà chỉ đi kiểm định các tổ chức KĐCL giáo dục khác, như Hội đồng kiểm định giáo dục đại học - CHEA, Hoa Kỳ, và cấp phép hoạt động cho các tổ chức KĐCL giáo dục khác như Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (US Department of Education) hay Hội đồng KĐCL giáo dục của Đức.

Các tổ chức KĐCL giáo dục sử dụng các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục làm công cụ để kiểm định các cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo. Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục bao gồm các yêu cầu và điều kiện cụ thể về các nguồn lực và quy trình thực hiện, sản phẩm đầu ra để khẳng định với xã hội về chất lượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo của cơ sở giáo dục hoặc chương trình giáo dục. Ngoại trừ các tổ chức kiểm định nghề nghiệp xây dựng các bộ tiêu chuẩn riêng để kiểm định các chương trình của mình, còn lại hầu hết các quốc gia đều xây dựng các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục dùng chung cho các cơ sở đào tạo và chương trình giáo dục của từng cấp học: đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

Khảo thí và KĐCL giáo dục là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam. Lĩnh vực hoạt động này bắt đầu được triển khai từ khi thành lập Phòng Kiểm định chất lượng Đào tạo (tháng 1-2002) thuộc vụ Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), sau đó được mở rộng cho các cấp học và trình độ đào tạo khác sau khi Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập năm 2003. KĐCL được đẩy mạnh từ tháng 12-2004 khi Quy định tạm thời về KĐCL trường đại học được ban hành và được tiếp tục củng cố và phát triển gắn với việc ban hành các quy trình và các tiêu chuẩn kiểm định khác.

Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2-11-2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã coi công tác bảo đảm và KĐCL là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và đề ra mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp bảo đảm chất lượng và hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục”. Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 2-8-2006 của Chính phủ về việc Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, đã dành một chương về KĐCL giáo dục. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 đã bổ sung các quy định về KĐCL giáo dục, trong đó quy định rõ hơn nội dung quản lý nhà nước về KĐCL giáo dục, nguyên tắc KĐCL giáo dục và các tổ chức KĐCL giáo dục.

Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27-2-2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012, nêu rõ: “Đẩy mạnh việc đánh giá và KĐCL giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ tự đánh giá của các trường đại học và cao đẳng, triển khai từng bước việc kiểm định các trường đại học, cao đẳng; xây dựng tiêu chuẩn và hình thành một số cơ quan KĐCL giáo dục đại học...”(2).

Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19-6-2010 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học yêu cầu: “Đẩy mạnh công tác đánh giá và KĐCL giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ và công khai kết quả KĐCL các cơ sở giáo dục đại học,... hình thành một số tổ chức KĐCL giáo dục đại học độc lập”(3).

Quyết định số 4138/QĐ-BGDĐT ngày 20-9-2010 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống KĐCL đối với giáo dục đại học (GDĐH) và trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) giai đoạn 2011-2020 với các mục tiêu cơ bản: “(1) Củng cố và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KĐCL giáo dục đối với GDĐH - TCCN, tạo môi trường và hành lang pháp lý cho sự phát triển ổn định hệ thống KĐCL giáo dục. (2) Xây dựng và phát triển hệ thống KĐCL giáo dục để triển khai đánh giá các cơ sở giáo dục và chương trình GDĐH, các trường TCCN đạt tiêu chuẩn chất lượng, góp phần vào việc đảm bảo và nâng cao chất lượng GDĐH - TCCN. (3) Xây dựng chính sách để phát triển đội ngũ chuyên gia đánh giá ngoài có đủ trình độ và số lượng để triển khai các hoạt động KĐCL giáo dục đối với GDĐH - TCCN. (4) Tăng cường hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực KĐCL giáo dục đối với GDĐH - TCCN”(4).

Bên cạnh đó, một loạt các văn bản liên quan trực tiếp đến hoạt động KĐCL giáo dục đã được ban hành5).

Đến nay, hệ thống KĐCL giáo dục đối với giáo dục đại học ở nước ta đã hình thành và đi vào hoạt động. Theo Quyết định 65/2007/QĐ- BGDĐT của Bộ GD&ĐT, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học gồm có 10 tiêu chuẩn với 61 tiêu chí. Tuy nhiên, hệ thống KĐCL đào tạo đối với giáo dục đại học ở nước ta còn nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Để tiến tới tự chủ, phân loại các trường đại học, thời gian vừa qua, Bộ GD&ĐT đã chủ trương để các cơ sở đào tạo thành lập các bộ phận tự đánh giá nội bộ. Việc thành lập các bộ phận tự đánh giá và KĐCL trong mỗi cơ sở đào tạo một mặt giúp các cơ sở đào tạo chủ động hướng đến chuẩn mực giá trị chung, mặt khác, sẽ là cầu nối hữu hiệu giúp các cơ quan chức năng nhanh chóng tiếp cận thực trạng chất lượng của cơ sở đào tạo.

KĐCL là một điều kiện cần để thực hiện tự chủ đại học, bảo đảm những mục tiêu nhất quán trong toàn hệ thống, và xét cho cùng là nhằm bảo vệ lợi ích của người học cũng như của xã hội. Bằng những tiêu chí rõ ràng và công khai, công tác kiểm định đặt hoạt động của cơ sở đào tạo trong tầm giám sát của xã hội. Đó là một trong những cơ chế quan trọng giúp cho các cơ sở đào tạo tự điều chỉnh để phù hợp với nhu cầu của xã hội.

Đối với xã hội, việc tổ chức khảo thí và KĐCL khách quan sẽ tạo ra một chuẩn thống nhất, một mặt bằng chung về tương quan giữa bằng cấp và năng lực. Kết quả khảo thí và KĐCL là một nguồn thông tin quan trọng giúp nhà trường rà soát và điều chỉnh tiến trình hoạt động của mình.

Như vậy, bộ phận khảo thí và KĐCL có vai trò rất quan trọng; sứ mệnh của bộ phận này về cơ bản là: góp phần chuẩn hóa các yếu tố giáo dục nhằm phát huy nội lực từ bên trong, tăng sức mạnh cũng như tạo lập vị thế cho các cơ sở đào tạo.

Tuy nhiên trên thực tế, vị trí, vai trò của bộ phận khảo thí và KĐCL giáo dục trong các cơ sở đào tạo đại học nhìn chung còn mờ nhạt. Thậm chí có cơ sở đào tạo đại học chưa thành lập bộ phận chuyên trách khảo thí và KĐCL mà chỉ lồng ghép vào các phòng ban chức năng cũng như chưa định hình được hết vị trí, vai trò, nhiệm vụ của công tác này. Theo số liệu thống kê của Cục Khảo thí và KĐCL giáo dục - Bộ GD&ĐT, tính đến 30-6-2016, cả nước có gần 572 trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hoàn thành báo cáo tự đánh giá chất lượng đào tạo(6). Trong số đó, chỉ có gần 200 trên tổng số gần 500 trường đại học đã hoàn thành tự kiểm định.

Về hoạt động đánh giá trong, nhìn chung các tổ chức KĐCL trong các cơ sở đào tạo đại học mới chỉ đang ở giai đoạn đầu triển khai thành lập, hoạt động còn mờ nhạt, chưa có kế hoạch tổng thể dài hạn, chưa chủ động thâm nhập vào các bộ phận trong cơ sở đào tạo, còn chủ quan, duy ý chí trong việc vận dụng các tiêu chí đánh giá.

Về hoạt động đánh giá ngoài, cho đến nay mới chỉ được tiến hành ở một vài cơ sở đào tạo, do những tổ chức KĐCL độc lập của Nhà nước thực hiện. Tuy nhiên, kết quả đánh giá vẫn chưa được xã hội (doanh nghiệp, người học...) nhìn nhận như một cơ sở đáng tin cậy để phân loại, xếp hạng cơ sở đào tạo. Do chưa có quy định chặt chẽ và hướng dẫn cụ thể về nội dung cũng như lộ trình thực hiện nên không ít cơ sở đào tạo đại học “trì hoãn” công tác đánh giá ngoài - tiêu chí đáng tin cậy hơn kết quả đánh giá trong.

Từ tìm hiểu thực tế trong nước và quốc tế cho thấy, muốn phát huy hiệu quả công tác khảo thí và KĐCL trong các cơ sở đào tạo đại học ở nước ta, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, các cơ quan chức năng cần thường xuyên quan tâm, tăng cường công tác khảo thí và kiểm định chất lượng trong các cơ sở đào tạo đại học. Hướng tới áp dụng cơ chế hoạt động độc lập của bộ phận này ngay trong các cơ sở đào tạo (cùng với các tổ chức hoạt động độc lập bên ngoài cơ sở đào tạo). Chủ động chỉ đạo, phối hợp với các cơ sở đào tạo trong hoạt động đánh giá ngoài để nhanh chóng xã hội hóa kết quả kiểm định.

Thứ hai, bộ phận khảo thí và KĐCL giáo dục cần chủ động thâm nhập vào quá trình thực hiện của các đơn vị trong cơ sở đào tạo để tìm hiểu, nắm bắt công việc, kiểm tra quy trình cũng như để cùng xử lý những vướng mắc phát sinh... Đưa hoạt động tự đánh giá thành chương trình công tác hằng năm của nhà trường.

Thứ ba, cán bộ chuyên trách khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục phải thường xuyên trau dồi phẩm chất đạo đức; cập nhật các kiến thức liên quan đến lĩnh vực chuyên môn ở trong nước và quốc tế; không ngừng học tập, nâng cao trình độ, hướng tới chuyên nghiệp hóa trong thực hiện nhiệm vụ. Các kiểm định viên không chỉ là các chuyên gia giỏi chuyên môn mà còn phải đóng vai trò như những “quan tòa” liêm chính hay những chuyên gia có thể tư vấn giúp các cơ sở đào tạo giải quyết các khó khăn liên quan đến quy trình đào tạo của mình.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền để các đơn vị, cá nhân trong cơ sở đào tạo hiểu rõ về công tác khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục nói chung, chức năng, nhiệm vụ của bộ phận khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục nói riêng nhằm góp phần tăng cường sự chủ động phối hợp trong giải quyết công việc.

Thứ năm, các bộ phận kiểm định tại các cơ sở đào tạo đại học cần thường xuyên trao đổi kinh nghiệm để hoàn thiện quy trình kiểm định tại cơ sở đào tạo của mình (kiểm định trong), tiến tới quy trình kiểm định chéo lẫn nhau (kiểm định ngoài); cần có cơ chế giám sát, kiểm tra lại việc KĐCL giáo dục nhằm điều chỉnh quy trình cũng như khắc phục những bất cập.

Những nỗ lực gần đây của Bộ GD&ĐT và của các cơ sở đào tạo đại học trong hoạt động bảo đảm chất lượng và kiểm định giáo dục cũng như cải cách hoạt động khảo thí là phù hợp với xu thế khách quan. Xu hướng hiện nay đang là mở rộng quyền tự chủ của các trường, tạo ra những kết quả tích cực, việc xây dựng các tổ chức kiểm định và khảo thí ở cấp quốc gia hoặc cấp vùng cũng như đẩy mạnh hoạt động bảo đảm chất lượng ở các trường là tất yếu.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016

(1) Nguồn: “Mạng lưới quốc tế các tổ chức đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE)”, www.inqaahe.org

(2),(3), (4), (6)Nguồn:www.moet.gov.vn

(5) Thông tư 62/2012/ TT-BGDĐT ngày 28-12-2012 về quy trình và chu kỳ KĐCL giáo dục; Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28-12-2012 quy định về điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức KĐCL  giáo  dục;  Thông  tư  38/2013/ TT-BGDĐT ngày 29-11-2013 về quy trình và chu kỳ KĐCL chương trình đào tạo; Hướng dẫn 1480/KTKĐCLGD- KĐĐH ngày 29-8-2014 của Cục Khảo thí và KĐCL giáo dục về đánh giá ngoài; Hướng dẫn 462/KĐCLGD-KĐĐH ngày 9-5-2013 của Cục  Khảo thí và KĐCL giáo dục về hướng dẫn tự đánh giá; Đặc biệt, gần đây là thông báo số 979/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 3-3-2015, Bộ GD&ĐT yêu cầu các học viện, trường đại học, cao đẳng và TCCN thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác đảm bảo và KĐCL giáo dục đại học và TCCN trong các năm 2015, 2016; thông báo số 394/TB-BGDĐT ngày 10-6-2016, Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường phải tiên phong trong thực hiện KĐCL giáo dục tiến tới  KĐCL theo tiêu chuẩn kiểm định của khu vực ASEAN (AUN-QA)...

 

TS Vũ Tiến Dũng    

Khoa Lý luận chính trị - Đại học Xây dựng

Các bài viết khác