Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh
Thứ ba, 22 Tháng 8 2017 10:12
1417 Lượt xem

Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh

(LLCT) - Phong cách Hồ Chí Minh là những đặc trưng giá trị, mang đậm dấu ấn của Người, được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động. Phong cách Hồ Chí Minh là một chỉnh thể bao gồm phong cách suy nghĩ (phong cách tư duy), phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt...

Đến với học thuyết Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những gì tinh túy nhất của phương pháp duy vật biện chứng để vận dụng vào lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Chính cách thức vận dụng phương pháp tư duy biện chứng duy vật (hay các nguyên tắc phương pháp luận của phép biện chứng duy vật) của Hồ Chí Minh vào giải quyết các vấn đề của cách mạng Việt Nam đã tạo nên phong cách tư duy với những đặc trưng riêng.

Như vậy, có thể hiểu, phong cách tư duy Hồ Chí Minh là những biểu hiện đặc thù, sinh động của phương pháp tư duy biện chứng duy vật; là cách thức vận dụng sáng tạo phương pháp tư duy ấy tạo ra những nét riêng, độc đáo, đặc sắc có tính hệ thống, ổn định của Người.

Phong cách tư duy Hồ Chí Minh được thể hiện trên một số đặc trưng:

Tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo

Tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo đã được hình thành trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh từ lúc Người mới bước vào tuổi thanh niên. Khi đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo ở Hồ Chí Minh càng bộc lộ rõ nét và đã trở thành đặc điểm, thuộc tính bền vững của phong cách tư duy trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Tư duy độc lập ở Hồ Chí Minh là cách nghĩ, cách làm không lệ thuộc, không bắt chước, không theo đuôi, không giáo điều. Tự chủ là tự mình làm chủ mọi suy nghĩ và hành động; làm chủ bản thân và công việc; tự bản thân phải thấy trách nhiệm lớn lao của mình trước đất nước và dân tộc. Độc lập, tự chủ trên tinh thần: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(1). Tuy nhiên, độc lập, tự chủ không đồng nghĩa với quan niệm siêu hình, hạn chế những hoạt động đó trong khuôn khổ dân tộc thuần tuý, mà luôn liên hệ với cuộc đấu tranh chung của nhân dân tiến bộ thế giới.

Tư duy sáng tạo là vận dụng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù. Sáng tạo còn là sẵn sàng từ bỏ những cái cũ đã lỗi thời, không phù hợp với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ; cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý; cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm; cái gì mới mà hay thì ta phải làm”(2). Đồng thời, sáng tạo là tìm tòi, đề xuất những cái mới để trả lời những đòi hỏi mà cuộc sống đặt ra. Cái mới, cái sáng tạo của Hồ Chí Minh là phù hợp với quy luật khách quan, đồng thời phù hợp với quy luật phát triển chung của xã hội loài người. Cái mới có thể kế thừa cái cũ, bổ sung giá trị mới, làm cho cái mới khác về chất so với cái cũ. Cái mới là cái chưa từng có trong tiền lệ lịch sử.

Tư duy thiết thực, gắn với thực tiễn đất nước và thời đại

Đây là một trong những đặc trưng nổi bật trong phong cách tư duy của Hồ Chí Minh. Mọi suy nghĩ và hành động của Người luôn lấy thực tiễn cách mạng Việt Nam làm xuất phát điểm. Trong hành trình đi tìm lý luận cách mạng, Người luôn tìm xem hiện thực Việt Nam thiếu những gì, để tiếp thu, nắm bắt những điều thiết thực nhất, trực tiếp nhất phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp ở nước ta. Ngay từ những năm đầu của cuộc đời hoạt động cách mạng, vấn đề tự do cho dân tộc và bình đẳng giữa các dân tộc là động lực để Hồ Chí Minh đi tìm chân lý: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái... Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”(3). Hoàn cảnh đất nước đã đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải tìm ra con đường đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. Thực tiễn đó và thực tiễn các nước chính quốc đã là điểm xuất phát của tư duy Hồ Chí Minh.

Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, nhưng Người cũng nhận ra rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết cách mạng rộng lớn, bao quát nhiều vấn đề về giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, chủ yếu hướng vào các nước tư bản phát triển nhất. Do đó, Người đã lựa chọn, tiếp thu những tư tưởng cần thiết cho giai đoạn trước mắt của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc thuộc địa. Từ đó, đề ra đường lối đúng đắn, bước đi thích hợp cho cách mạng Việt Nam; đã hạn chế được những sai lầm nóng vội, “tả” khuynh, từng bước đưa cách mạng Việt Nam thắng lợi.

Luôn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Hồ Chí Minh luôn lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Người vận dụng nhuần nhuyễn, sáng tạo quan điểm thực tiễn của triết học Mác - Lênin, coi đây là nguyên tắc thực tiễn trong suy nghĩ và hành động. Vì vậy, khi đến với chủ nghĩa Mác, Người không áp dụng giáo điều, mà luôn đứng trên “mảnh đất hiện thực” cách mạng Việt Nam. Cho nên, khi học tập chủ nghĩa Mác, Người luôn quán triệt quan điểm biện chứng, học tập những gì là đúng đắn, đồng thời bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác trên cơ sở thực tiễn nước ta nói riêng và các nước phương Đông nói chung. Vì vậy, ngay từ khi còn hoạt động ở nước ngoài, Hồ Chí Minh khẳng định: “Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(4). Như vậy, quan điểm thực tiễn luôn được Hồ Chí Minh quán triệt sâu sắc và triệt để, luôn đảm bảo lý luận thống nhất với thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở thực tiễn và phù hợp với thực tiễn.

Tư duy mềm dẻo và linh hoạt

 Đây là đặc trưng riêng có, nổi bật trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Trong mọi hoàn cảnh phải luôn kiên định nguyên tắc nhưng linh hoạt lựa chọn các biện pháp để thực hiện. Đặc trưng này không những thể hiện tính khoa học mà còn là nghệ thuật lãnh đạo, như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình đấu tranh với những chủ trương, sách lược mềm dẻo nhưng vẫn kiên định lập trường của Người.

Tư duy mềm dẻo và linh hoạt của Hồ Chí Minh được thể hiện cô đọng trong quan điểm dĩ bất biến ứng vạn biến, lấy cái không thay đổi mà ứng phó với cái cái luôn thay đổi. Cái bất biến là mục đích, mang tính nguyên tắc, quy luật tất yếu; cái vạn biến là cách ứng xử linh hoạt, chủ động, tích cực, phù hợp với tình hình cụ thể. Ứng phó với cái vạn biến nhưng không xa rời, từ bỏ, đánh mất cái bất biến. Đó là cái nhìn có tính chất vĩ mô đối với cách mạng nước ta.

Tư duy mở và có tính dự báo

Tư duy của Hồ Chí Minh không chấp nhận với những gì có tính khuôn mẫu, áp đặt và những gì sẵn có. Đó là phong cách tư duy không ngừng vận động cùng với sự vận động và phát triển của thực tiễn, không coi bất cứ nguyên lý, mệnh đề lý luận nào là đã hoàn tất, là chân lý cuối cùng, là bất khả xâm phạm.Người luôn hướng tư duy của mình ra bên ngoài để học hỏi, tiếp thu những tinh hoa văn hóa - tư tưởng của nhân loại để làm giàu tri thức và phát triển tư duy của mình. Quá trình tư duy của Người là quá trình suy ngẫm, so sánh, lọc bỏ, lựa chọn, phân biệt đúng sai, tiến bộ hay lạc hậu. Tư duy mở của Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa và phát triển các học thuyết đã có thành quan điểm của riêng mình. Sự kế thừađó mang tính biện chứng, theo tinh thần: “Cái gì cũ mà xấu, thì phải bỏ... Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý... Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm... Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm”(5). Nhờ có tinh thần kế thừa biện chứng nên Người luôn biết tự điều chỉnh, tự hoàn thiện những vấn đề lý luận cách mạng để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Chính nhờ sự kế thừa và phát triển nên Hồ Chí Minh nắm bắt được cái mới, cái hợp quy luật và đã tìm ra quy luật vận động của các sự vật hiện tượng. Vì vậy, trong tư duy của Người luôn có tính dự báo về sự vận động biến đổi của các sự vật, hiện tượng, các quá trình trong thực tế. Điều này, chứng tỏ Người có nhãn quan chính trị xa rộng, hiểu được quy luật vận động của lịch sử, nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại, dự kiến được con đường phát triển của dân tộc. Năm 1924 Người đã dự báo về nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới và tiên đoánnước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản; 15 năm sau, năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ. Năm 1942, khi viết Lịch sử nước ta, Người đưa ra dự báo “1945, Việt Nam độc lập”... Năng lực dự báo của Người là nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận và ph­ương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; là kết quả của quá trình tích lũy thông tin, phân tích sự kiện trong nư­ớc và thế giới; tổng kết  lịch sử và hiện thực; rút ra quy luật vận động, vận dụng để phán đoán những diễn biến mới, xu hướng phát triển mới của tình hình. Bên cạnh đó, Người đã tích lũy được một vốn văn hóa phương Đông sâu sắc và tri thức lịch sử, thực tiễn phong phú.

Tư duy diễn đạt cụ thể

Văn phong để biểu đạt tư duy của Hồ Chí Minh trong sáng, ngắn gọn, giàu hình ảnh, nhưng hiệu quả truyền đạt cao. Để biểu đạt tư duy của mình, Hồ Chí Minh không dùng cách diễn đạt trừu tượng, hàn lâm. Với Người, ngôn từ phải giản dị, cô đọng, hàm súc, dễ nhớ, dễ hiểu, mà vẫn thể hiện được cái bản chất, cái cốt lõi của sự vật. Hồ Chí Minh luôn tìm cách đơn giản hóa những vấn đề lý luận phức tạp để nhanh chóng hiện thực hóa vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Với phương châm: “lý luận cốt để áp dụng vào thực tiễn”, phải cho lý luận cách mạng thấm sâu vào quần chúng, mới có tác dụng dẫn dắt, chỉ đạo hành động cách mạng nên Người luôn chọn cách diễn đạt, ngôn ngữ sao cho giản dị, ngắn gọn, trong sáng, sử dụng những hình ảnh gần gũi với đời sống hàng ngày, phù hợp với lối tư duy bằng hình ảnh của người phương Đông. Qua đó, có tác dụng cải tạo tư tưởng của đối tượng, nhưng không làm mất đi tính lý luận. Vì vậy, phần lớn những bài viết của Người dưới dạng thư từ, lời kêu gọi, các bài nói chuyện cụ thể về kinh tế, chính trị, xã hội và đạo đức... cho đồng bào và chiến sỹ, thanh niên, nhi đồng, phụ nữ... đều giản dị, những khái niệm lý luận hàn lâm được thay thế bằng những từ ngữ thông thường. Khi diễn tả những vấn đề về cách mạng, dù vấn đề phức tạp đến đâu, Người cũng luôn chọn lọc những hình ảnh điển hình nhất, khái quát nhất để nói lên bản chất. Hình ảnh “con đỉa hai vòi” khi nói về bản chất của chủ nghĩa đế quốc; “hai cánh của con chim” khi nói về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng ở chính quốc; hay “lý luận như cái tên (hoặc viên đạn), thực hành cũng như cái đích để bắn” khi nói về vị trí vai trò của lý luận với hoạt động thực tiễn...

Với phong cách tư duy như vậy, Hồ Chí Minh đã nhận thức và giải quyết rất tốt những vấn đề lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay của đất nước, Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc học tập và làm theo phong cách nói chung và phong cách tư duy Hồ Chí Minh nói riêng với đội ngũ cán bộ, đảng viên, “là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ”(6). Học tập phong cách tư duy của Hồ Chí Minh để giải quyết tốt những nhiệm vụ trực tiếp hiện nay, chúng ta cần:

Một là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến những giá trị của phong cách tư duy Hồ Chí Minh

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu nhiều, nhưng nghiên cứu về phong cách tư duy Hồ Chí Minh còn ít. Do vậy, cần nghiên cứu làm rõ bản chất, con đường hình thành phát triển, đặc trưng trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh... để cán bộ, đảng viên hiểu rõ. Việc tuyên truyền, phổ biến những giá trị trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ, tự giác từ mỗi người, mỗi cấp, mỗi ngành; khơi dậy phong trào tự giác học tập và rèn luyện theo phong cách tư duy của Người, đẩy lùi những biểu hiện giáo điều, bảo thủ, trì trệ, lý luận suông trong tư duy của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác tuyên truyền, phổ biến những giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung, phong cách tư duy Hồ Chí Minh nói riêng phải: “Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7).

Hai là, tổ chức tốt việc học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh cho cán bộ, đảng viên

Tổ chức tốt việc học tập và rèn luyện theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh sẽ làm cho các đặc trưng trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh được chuyển hóa, xác lập và phát triển ở mỗi cán bộ, đảng viên. Chất lượng, hiệu quả của việc tổ chức học tập và rèn luyện sẽ quyết định mức độ phát triển nhân cách, phương pháp, tác phong, phong cách công tác của mỗi cán bộ, đảng viên nói chung và mức độ thành công của việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Do đó, cần phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên nắm vững mục đích yêu cầu, nội dung của việc học tập và rèn luyện, trọng tâm là đưa việc học tập và rèn luyện thành công việc tự giác, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên mà trước hết là của người đứng đầu các tổ chức, tức là phải: “Đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước để nêu gương của người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”(8). Phương châm của việc học tập và rèn luyện là trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau; học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể. Việc học tập và rèn luyện theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh phải là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân, đồng thời là công việc tự giác, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo sự chuyển biến rõ rệt trong việc giải quyết các công việc cụ thể, thiết thực, thúc đẩy cơ quan, đơn vị phát triển, đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, tệ quan liêu, tham nhũng, các tệ nạn xã hội.

Ba là, xây dựng chuẩn mực đạo đức, phong cách làm việc, phong cách ứng xử của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị

Phong cách, phương pháp tư duy của cán bộ, đảng viên được thể hiện qua cách thức làm việc, cách ứng xử trong các quan hệ công tác, qua ngôn ngữ giao tiếp với mọi người. Mỗi cơ quan, đơn vị ngoài những yêu cầu chuẩn mực về đạo đức, phong cách làm việc, phong cách ứng xử chung còn cần có những yêu cầu, chuẩn mực riêng do môi trường và đặc điểm nhiệm vụ công tác quy định. Theo đó, để học tập và rèn luyện theo những đặc trưng giá trị trong phong cách tư duy của Hồ Chí Minh, cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần lượng hóa và cụ thể hóa các đặc trưng ấy thành các tiêu chí cho mỗi cán bộ, đảng viên. Cần “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị với phương châm “sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và đánh giá việc thực hiện”(9). Mỗi cơ quan, đơn vị cần xây dựng những điển hình mẫu mực, từ đó nhân rộng điển hình trong đơn vị. Thông qua các hoạt động thực tiễn như hội thi, hội thao, văn hóa văn nghệ, tuyên truyền cổ động... để đưa các điển hình đó vào thực tế của đơn vị mình. Đồng thời, qua các giai đoạn cần có sự đánh giá rút kinh nghiệm, điều chỉnh chuẩn mực mô hình cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Bốn là, gắn việc học tập và rèn luyện theo những đặc trưng giá trị của phong cách tư duy Hồ Chí Minh với đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên

Động lực của quá trình học tập và rèn luyện theo các đặc trưng giá trị trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh là việc biểu dương, khen thưởng và phê bình nhắc nhở các cá nhân, tập thể trên cơ sở đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các tập thể, mỗi cán bộ, đảng viên. Động lực này liên quan mật thiết đến lợi ích của mỗi cá nhân và tập thể. Trong hệ thống các động lực thúc đẩy mỗi con người thì lợi ích là động lực trực tiếp và hiệu quả nhất trong thúc đẩy mỗi người thực hiện yêu cầu đã đặt ra và phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong công việc. Do vậy, phải: “Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm”(10). Để nội dung đánh giá được khách quan, có cơ sở, phải xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc hệ thống các quy định, quy chế làm việc, xác định rõ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách, tác phong công tác, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội.

Kế thừa và phát huy những giá trị của phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là việc làm có ý nghĩa thiết thực, trực tiếp nâng cao nhận thức về những giá trị to lớn trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nói chung và phong cách tư duy của Người nói riêng. Qua đó, góp phần xây dựng và phát triển phẩm chất, năng lực, phong cách công tác, làm việc, ứng xử, giao tiếp trong quan hệ công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác; ngăn chặn và đẩy lùi các yếu kém và những “căn bệnh” đã ăn sâu bám rễ trong tư duy lãnh đạo, quản lý của cán bộ, đảng viên; góp phần xây dựng các tổ chức vững mạnh, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Để thực hiện được mục đích và ý nghĩa to lớn đó, cần phát huy trách nhiệm của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội và nhất là trách nhiệm của những người đứng đầu và sự gương mẫu của từng cán bộ, đảng viên.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2017

(1), (2), (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.162, 112, 112-113.

(3), (4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.461, 509-510.

(6), (7), (8), (9), (10) Ban Chấp hành Trung ương: Chỉ thị của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh,Số: 05-CT/TW, Hà Nội, ngày 15 -5 -2016.

 

ThS Nguyễn Hồng Điệp

Trường Đại học Chính trị,

Bộ Quốc phòng

Các bài viết khác