Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Những điểm mới về đổi mới mô hình tăng trưởng trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng
Thứ ba, 02 Tháng 3 2021 10:32
5797 Lượt xem

Những điểm mới về đổi mới mô hình tăng trưởng trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng

(LLCT) - Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng xác định đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội này. Bài viết phân tích những điểm mới trong định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng, xác định các trụ cột chính của tăng trưởng, các mục tiêu và chủ trương, chính sách lớn để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế (TTKT) ở Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Từ khóa: đổi mới mô hình tăng trưởng, điểm mới, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII.

1. Điểm mới trong định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng

Định hướng đổi mới mô hình TTKT Việt Nam tại Đại hội XI, XII và Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng đã có những bước chuyển tiếp phù hợp với thực trạng, bối cảnh phát triển kinh tế của đất nước trong từng giai đoạn.

Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) xác định: “Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”(1). Định hướng này nhằm vừa phát huy được những ưu thế của mô hình TTKT theo chiều rộng và theo chiều sâu, vừa khắc phục được những hạn chế của mô hình TTKT theo chiều rộng. Ngoài ra, định hướng này còn phù hợp với điều kiện nước ta khi đó chưa có đủ điều kiện để chuyển thẳng sang mô hình TTKT theo chiều sâu (thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ công nghệ còn lạc hậu). Đây chính là bước chuyển đầu tiên trong tiến trình đổi mới mô hình TTKT ở nước ta.

Đại hội XII (tháng 1-2016) chỉ rõ, định hướng đổi mới mô hình TTKT Việt Nam giai đoạn 2016-2020 không đơn thuần là “phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu”, mà phải “kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động (NSLĐ), ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới và sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế, phát triển nhanh và bền vững”(2). Có thể thấy “kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu” là bước chuyển thứ hai trong tiến trình đổi mới mô hình TTKT của đất nước.

Nhờ thực hiện những bước chuyển phù hợp nêu trên, những năm qua, tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) của Việt Nam cao hơn nhiều so với những năm trước và tốc độ tăng của vốn, lao động giảm đi. Cụ thể là: tốc độ tăng TFP giai đoạn 2011-2018 là 2,06%, cao gấp gần 4 lần so với giai đoạn 2006-2010 là 0,54%; tốc độ tăng của vốn giảm mạnh từ 13,3% giai đoạn 2006-2010, xuống 7,97% giai đoạn 2011-2018 và tốc độ tăng của lao động giảm từ 2,77% giai đoạn 2006-2010, xuống 1,27% giai đoạn 2011-2018. Có thể thấy, tốc độ tăng TFP nhanh của giai đoạn 2011-2018 đã thúc đẩy chuyển đổi mô hình TTKT của Việt Nam dần dựa vào tăng TFP và giảm dần dựa vào tăng vốn và lao động. Đóng góp của tăng vốn và lao động vào tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 là 73,6%;  giai đoạn 2011-2015 giảm xuống là 69,8%; giai đoạn 2016-2019 tiếp tục giảm xuống còn 59,7%. Đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP ngày càng tăng lên: giai đoạn 2001-2010 chỉ là 26,4%, giai đoạn 2011-2015 tăng lên 33,6% và giai đoạn 2016-2019 là 44,5%, vượt xa mục tiêu đề ra là 30-35%.

Với kết quả đạt được của đổi mới mô hình TTKT giai đoạn 2011-2020, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng, tạo bước chuyển căn bản nền kinh tế sang mô hình tăng trưởng trên cơ sở tăng năng suất, tiến bộ KHCN, đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả các nguồn lực”(3). Đây là bước chuyển thứ ba trong tiến trình đổi mới mô hình TTKT của Việt Nam, bước chuyển căn bản sang mô hình TTKT theo chiều sâu. Bước chuyển này trải qua hai chặng: chặng thứ nhất (2021-2025) phấn đấu đạt tỷ trọng đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP khoảng 45% và chặng thứ hai (2026-2030) ở mức 50%(4).

2. Điểm mới trong xác định các trụ cột chính của tăng trưởng

Tại Đại hội XI, Đảng ta chủ trương chuyển đổi cách thức tăng trưởng từ chủ yếu dựa vào 3 trụ cột chính là tăng vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giá rẻ (tức là TTKT chủ yếu theo chiều rộng), sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, tức là TTKT phải chuyển dần sang chủ yếu dựa vào hai trụ cột chính là áp dụng tiến bộ KHCN và nguồn nhân lực chất lượng cao(5).

Tại Đại hội XII, trên cơ sở đánh giá thực trạng đổi mới mô hình tăng trưởng giai đoạn 2011-2015, Đảng ta tiếp tục xác định 2 trụ cột chính của mô hình TTKT nước ta nhìn từ đầu vào (cung) giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn đến năm 2030 là ứng dụng tiến bộ KHCN, đổi mới và sáng tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đồng thời, Đảng ta còn xác định thêm 1 trụ cột của TTKT nhìn từ đầu vào và 2 trụ cột của TTKT nhìn từ đầu ra (cầu) là: “đồng thời dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước”(6). Đặc biệt, Đại hội XII nhấn rất mạnh vào thị trường trong nước, một thị trường rộng lớn có quy mô dân số trên 90 triệu dân mà lâu nay ta bỏ ngỏ, trong khi quá say sưa với thị trường nước ngoài (xuất khẩu) đầy rủi ro.

Để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng không chỉ tiếp tục xác định các trụ cột chính của mô hình TTKT nước ta giai đoạn 2021-2030 là “tiến bộ KHCN” và “nguồn nhân lực chất lượng cao”, mà còn đặc biệt nhấn mạnh vào “đổi mới sáng tạo, sử dụng hiệu quả các nguồn lực”(7). Điều này hoàn toàn phù hợp với tình hình Việt Nam hiện nay khi tốc độ tăng trưởng GDP đã giảm trong bối cảnh quốc tế bớt sôi động hơn; nguồn tăng trưởng trước đây đang suy giảm làm tăng nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Do vậy, Việt Nam cần phải dựa nhiều hơn vào việc tăng NSLĐ thông qua đổi mới sáng tạo, phải cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo trong nước. Đó chính là chìa khóa để Việt Nam vượt qua trạng thái dừng, thoát bẫy thu nhập trung bình và chuyển đổi thành công mô hình TTKT từ theo chiều rộng sang theo chiều sâu.

3. Điểm mới trong xác định mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng

Chủ trương đổi mới mô hình TTKT được đưa ra tại Đại hội XI và XII của Đảng chưa đề cập trực tiếp đến mục tiêu cụ thể của đổi mới mô hình TTKT. Tới Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (tháng 11-2016), trong Nghị quyết số 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, NSLĐ, sức cạnh tranh của nền kinh tế, lần đầu tiên Đảng ta đã xác định 5 mục tiêu cụ thể của đổi mới mô hình TTKT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là: (1) Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước (NSNN), đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP; (2) Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2016 - 2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP; (3) Giai đoạn 2016-2020, hằng năm có khoảng 30 - 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng NSLĐ bình quân hằng năm cao hơn 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng NSLĐ năm 2020; (4) Đến năm 2020, tỷ trọng lao động có chứng chỉ đào tạo tăng lên khoảng 25%; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%; (5) TFP đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 khoảng 30-35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN 4.

Thực tiễn cho thấy các mục tiêu của đổi mới mô hình TTKT Việt Nam đến năm 2020 nêu trên đều đạt và vượt mức đặt ra. Cụ thể là: (1) Kinh tế vĩ mô ổn định vững chắc hơn, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, bình quân giai đoạn 2011-2015 là 7,7% và giai đoạn 2016-2020 là 3,3%. Bội chi NSNN giảm từ mức 5,4% GDP giai đoạn 2011-2015 xuống còn 3,6-3,7% GDP giai đoạn 2016-2020, trong đó, năm 2020 xuống dưới 3,5% GDP; (2) Tỷ lệ nợ công so với GDP giảm từ 63,7% năm 2016, xuống 54,7% năm 2019 và dự kiến năm 2020 giảm còn khoảng 52%; (3) Tốc độ tăng NSLĐ bình quân giai đoạn 2016- 2020 đạt 5,8%/năm, vượt mục tiêu đặt ra là 5,5%/năm; (4) Tỷ trọng lao động nông, lâm, thủy sản giảm xuống còn 33% năm 2020 (đạt mục tiêu đề ra dưới 40%), tỷ lệ lao động qua đào tạo có bắng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 25% vào năm 2020; (5) Đóng góp của TFP tăng từ 33,6% giai đoạn 2011-2015, lên 44,3% giai đoạn 2016-2020, tính chung 10 năm 2011-2020 đạt 39,3%, vượt mục tiêu chiến lược đề ra là 35%(8).

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và cụ thể hóa 5 mục tiêu của đổi mới mô hình TTKT giai đoạn 2021- 2030 như sau(9):

(1) Ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ TTKT bền vững, giảm tỷ lệ bội chi NSNN giai đoạn 2021-2025 bình quân 3,3% GDP.

(2) Thúc đẩy tăng tổng tích lũy tài sản chiếm khoảng 27-28% GDP, duy trì tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng không thấp hơn 73-74% GDP. Tỷ lệ huy động nguồn NSNN giai đoạn 2021-2025 đạt 21-22% GDP, nợ công giảm dần, đến năm 2025 không quá 60% GDP. Nợ chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia đến năm 2025 không quá 50% GDP, đến năm 2030, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

(3) Phấn đấu đạt tốc độ tăng NSLĐ xã hội bình quân trên 6,5%/năm giai đoạn 2021-2025 và trên 6%/năm cho giai đoạn 2021-2030, đến năm 2030, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt 40%.

(4) Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đến năm 2025 khoảng 25% và tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2025 là 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ trên 25%. Đến năm 2030 đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35-40%. Lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp giảm xuống dưới 20% trong tổng lao động nền kinh tế.

(5) Đóng góp của TFP vào tăng trưởng đến năm 2025 đạt khoảng 45% và đạt 50% vào năm 2030.

4. Điểm mới trong xác định chủ trương, chính sách lớn để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng

Tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, Đảng ta đã xác định 8 chủ trương, chính sách lớn nhằm thực hiện đổi mới mô hình TTKT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là: (1) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô; (2) Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược; (3) Ưu tiên phát triển và chuyển giao KHCN, nhất là KHCN hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; (4) Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm; (5) Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế; (6) Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hóa; (7) Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh; (8) Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng cơ bản vẫn khẳng định 8 chủ trương, chính sách lớn nêu trên nhằm tiếp tục đổi mới mô hình TTKT Việt Nam giai đoạn 2021-2030 và bổ sung thêm nhiều nội hàm mới trong từng chủ trương, chính sách, cụ thể như sau: 

Một là, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tiếp tục điều hành đồng bộ, linh hoạt các chính sách vĩ mô. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ TTKT bền vững”. “Tiếp tục cơ cấu lại NSNN theo hướng bền vững”. Đặc biệt, Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII nhấn mạnh phải “tăng tỷ trọng chi đầu tư, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, thực hiện nghiêm nguyên tắc chi vay nợ cho chi đầu tư phát triển”. “Tiếp tục cơ cấu lại nợ công theo hướng bền vững. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính - NSNN”(10).

Hai là, tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược

Đột phá thứ nhất “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập” và nhấn mạnh vào “trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, thị trường KHCN”.

Đột phá thứ hai “Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước”. Dự thảo các văn kiện trình đại hội XIII của Đảng bổ sung nội hàm mới là “Tiếp tục phát triển toàn diện nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo gắn với khơi dậy khát vọng, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự cường và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam” và chỉ rõ phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế.

Đột phá thứ ba “Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, hiện đại”. Dự thảo các văn kiện trình đại hội XIII của Đảng đã chỉ ra “trọng tâm là phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, thông tin, đô thị lớn, hạ tầng ứng phó với biến đổi khí hậu. Phát triển mạnh hạ tầng số, xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu vùng và các địa phương kết nối đồng bộ, thống nhất, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số, xã hội số(11).

Ba là, phát triển mạnh mẽ KHCN và đổi mới sáng tạo

Nội dung mới được bổ sung là: “phát triển mạnh KHCN và đổi mới sáng tạo, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Có cơ chế, chính sách kinh tế, tài chính khuyến khích các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu phát triển và đổi mới công nghệ”, “Phát triển mạnh KHCN, đổi mới sáng tạo là động lực chính của TTKT”. Thực sự coi KHCN là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mạnh mẽ mô hìnhTTKT. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ thể chế, tổ chức và cơ chế quản lý KHCN. Phát triển một số ngành KHCN mũi nhọn, phát triển thị trường KHCN. Thực hiện tốt các chính sách đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, trọng dụng và đãi ngộ đội ngũ cán bộ KHCN, tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế về KHCN(12).

Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển nền kinh tế số

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải tổ chức, thực hiện hiệu quả và thực chất các nội dung cơ cấu lại nền kinh tế để đổi mới mô hình tăng trưởng. Thực hiện chương trình quốc gia về tăng NSLĐ. Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Cơ cấu lại NSNN theo hướng bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững. Tiếp tục cơ cấu lại thu, chi NSNN, tăng tỷ lệ thu nội địa, tăng tích lũy từ NSNN cho chi đầu tư phát triển. Đẩy mạnh cơ cấu lại, cổ phần hóa, thoái vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước. Chuyển trọng điểm chính sách thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài từ số lượng sang chất lượng, lấy hiệu quả và công nghệ làm thước đo chủ yếu, đi cùng với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Phát triển một số doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin chủ lực thực hiện vai trò dẫn dắt về hạ tầng công nghệ số, nền tảng cho kinh tế số, xã hội số trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư(13).

Năm là, tiếp tục phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, bền vững, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải xóa bỏ mọi rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân; hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới, sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao NSLĐ; khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực và quốc tế(14).

Sáu là, phát triển kinh tế vùng, kinh tế biển

Điểm mới trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng về phát triển kinh tế vùng là chủ trương tổ chức lại không gian lãnh thổ quốc gia một cách hợp lý, phát huy tốt nhất các lợi thế đặc thù của mỗi vùng, địa phương và tăng cường tính liên kết nội vùng và liên vùng để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khai thác tốt hơn thế mạnh của các vùng. Phát triển tổng thể, mang tính hữu cơ, liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng thành một thể thống nhất. Xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm trí tuệ nhân tạo tại các vùng trọng điểm. Phát triển bền vững kinh tế biển phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Phấn đấu đến năm 2030, quy mô kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65-70% GDP cả nước(15).

Bảy là, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh

Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng xác định đổi mới mạnh mẽ mô hình TTKT phải tính đến đẩy mạnh công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có trình độ KHCN cao. Thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế biển và vùng ven biển gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh. Điều chỉnh, bổ sung, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng phù hợp với chiến lược quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc(16).

Tám là, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và năng lực kiến tạo phát triển

Để tiếp tục đổi mới mạnh mẽ mô hình TTKT trong thời gian tới, đòi hỏi phải tiếp tục xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành và năng lực kiến tạo phát triển. Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở các quy luật thị trường. Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảm công khai, minh bạch, quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả(17).

__________________

 

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2021

(1), (5) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.191, 37-38.

(2), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 87, 87.

(3), (7), (10) ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương, tháng 4-2020, tr.32, 32, 214-215.

(4) Xem ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương, tháng 4-2020, tr.210, 219.

(8), (11), (13), (14), (15), (16), (17) Xem ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương, tháng 4-2020, tr.84-93, 129-131, 137-142, 139, 144-147, 156, 158-159.

(9) Xem ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương, tháng 4-2020, tr.129, 134, 138, 210, 211, 212, 214.

(12) Xem ĐCSVN: Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Tài liệu sử dụng tại Đại hội Đảng bộ cấp huyện, cấp tỉnh và tương đương, tháng 4-2020, tr.41, 42, 132, 133.

PGS, TS Nguyễn Thị Thơm

Viện Kinh tế,      

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền