Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Giảng dạy lịch sử Đảng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Thứ hai, 09 Tháng 5 2022 14:44
2742 Lượt xem

Giảng dạy lịch sử Đảng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

(LLCT) - Từ vị trí, vai trò của các bài giảng Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam trong chương trình cao cấp lý luận chính trị (CCLLCT), bài viết tập trung phân tích, nhấn mạnh đóng góp của môn Lịch sử Đảng trong củng cố nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, phương pháp, kỹ năng nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Lễ bế giảng Lớp bồi dưỡng kiến thức Lịch sử Đảng tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Ảnh: hcma.vn

Các bài giảng Lịch sử Đảng trong chương trình CCLLCT tập trung làm rõ quá trình Đảng ra đời, phát triển, lãnh đạo đấu tranh giành độc lập dân tộc, kháng chiến chống xâm lược; xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế; đúc kết những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn lãnh đạo và xây dựng Đảng. Vì vậy, giảng dạy môn Lịch sử Đảng trong chương trình CCLLCT có vị trí, vai trò quan trọng trong tăng cường xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

1. Nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử Đảng

Lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng là tiêu điểm mà các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc, chống phá.

Các thế lực thù địch bôi nhọ, xuyên tạc, phủ định lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng Việt Nam diễn ra từ rất sớm, gắn liền với chủ nghĩa chống cộng, chống phong trào đấu tranh cách mạng vì độc lập, dân chủ của dân tộc Việt Nam. Từ khi mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, sự tấn công, xuyên tạc lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn.

Chúng chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ trên mọi khía cạnh, cả về lý luận, đường lối và sự kiện cụ thể, tập trung vào những luận điệu, sự kiện sau: Phủ định sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, chúng cho rằng đây là con đường không hợp với quy luật khách quan; rằng CNXH được phát minh ở châu Âu “nhập khẩu” về Việt Nam, một nước nông nghiệp phương Đông nên không phù hợp; hay Cách mạng Tháng Tám chỉ là “sự ăn may”; cuộc chiến tranh vũ trang mất mát đau thương là không cần thiết (?); viện dẫn lịch sử một số nước “khôn ngoan” lựa chọn con đường khác, không cần bạo lực cách mạng vẫn giành được độc lập, tránh đổ máu thương vong; hay cuộc chiến tranh thống nhất đất nước là cuộc nội chiến nhằm tranh giành quyền lực (?). Chúng cho rằng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là “mù mờ”, “thiên đường mù”, “không tưởng; họ tách rời và đối lập độc lập dân tộc với CNXH”; chúng rêu rao Đảng Cộng sản toàn trị, “độc tài”, “mất dân chủ”, “bóp nghẹt dân chủ”, chỉ phù hợp với lãnh đạo chiến tranh, nên đã hoàn thành sứ mệnh, nay hòa bình xây dựng, phát triển phải được thay thế bằng chế độ chính trị đa đảng...

Đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng là một cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp.

Tính chất khó khăn, phức tạp thể hiện ở đối tượng chống phá, xuyên tạc vừa lớn về số lượng, đa dạng, cả các thế lực thù địch, phản động ở trong nước và nước ngoài (gồm những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội) khó xác định.

Nội dung của các luận điệu xuyên tạc cũng hết sức phức tạp, không chỉ đơn thuần ở lĩnh vực lịch sử mà thực chất là chống phá về “tư tưởng”, “chính trị” với mục tiêu thay đổi ý thức hệ, lập trường, hạ bệ uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng...

Thủ đoạn chống phá cũng rất đa dạng, phong phú, vừa tinh vi, vừa trắng trợn... Do vậy, đây là cuộc đấu tranh toàn diện trên các lĩnh vực, các mặt lãnh đạo của Đảng, do đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, trong đó, lực lượng làm công tác tư tưởng, công tác nghiên cứu - giảng dạy, tuyên truyền, giáo dục lịch sử Đảng đóng vai trò nòng cốt.

2. Giảng dạy các bài lịch sử Đảng trong chương trình cao cấp lý luận chính trị góp phần đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử Đảng, lịch sử dân tộc

Chương trình lịch sử Đảng có tổng số 9 bài, trong đó có 5 bài về “những bài học” gồm: Đảng lãnh đạo kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; Đảng lãnh đạo phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong cách mạng Việt Nam; Đảng lãnh đạo kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cách mạng Việt Nam; Phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - Nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thông qua “các bài học lịch sử”, giảng viên khẳng định vững chắc quan điểm có tính nguyên tắc, mang ý nghĩa sống còn của Đảng, đó là: kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học cho việc khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là yêu cầu khách quan; đường lối của Đảng là đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước. Từ đó, củng cố nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo, quản lý; có thái độ đấu tranh trước các thông tin xấu, độc. Với các luận cứ khoa học, tư liệu lịch sử, kiến thức thực tiễn được trang bị qua các bài học từ lịch sử Đảng, người học sẽ thực hiện tốt nhiệm vụ công tác của mình, góp phần vào tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, đảng viên, nhân dân về lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng. Nội dung đấu tranh thể hiện trong 05 bài học lịch sử như sau:

Bài học về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH

Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung chủ đạo, xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là quan điểm nhất quán của Đảng, là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã được thực hiện với nội dung, hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm mỗi thời kỳ, là yếu tố quan trọng khơi dậy và phát huy sức mạnh dân tộc và thời đại, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi to lớn của dân tộc Việt Nam.

Phản bác quan điểm sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là không đúng quy luật khách quan (?), giảng viên trao đổi cùng học viên, cung cấp tư liệu lịch sử, luận cứ khoa học nhằm khẳng định sự lựa chọn con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đúng quy luật khách quan của lịch sử Việt Nam. Từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (năm 1858), các thế hệ người Việt Nam yêu nước đã kế thừa truyền thống bất khuất, kiên cường chống ngoại xâm, sẵn sàng xả thân vì nền độc lập dân tộc. Song, phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau đều lâm vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối. Trước bối cảnh đó, với khát vọng giải phóng dân tộc, sau quá trình trăn trở tìm kiếm con đường cứu nước, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tìm ra chân lý “không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(1). Từ khi thành lập, Cương lĩnh, đường lối của Đảng đã phản ánh được ý chí, nguyện vọng và những lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Khát vọng độc lập cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân có ý nghĩa to lớn trong việc tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp và thành phần trong dân tộc, tạo nên lực lượng cách mạng rộng lớn và sức mạnh to lớn.

Giảng viên cần trao đổi với học viên một cách thẳng thắn, biện chứng, khách quan:  Độc lập dân tộc và CNXH là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp, tất yếu phải trải qua những chặng đường trong thời kỳ quá độ lâu dài, trong đó nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách được đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và giải quyết một cách thấu đáo. Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong gần 100 năm qua, đặc biệt là của 35 năm đổi mới, chính là thành quả của quá trình hiện thực hóa lý luận về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH với những nhận thức mới và đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đại đoàn kết dân tộc là nguồn sức mạnh vô địch, là động lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy động lực cách mạng từ quảng đại quần chúng và xác định nhiệm vụ tổ chức, tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là chiến lược xuyên suốt, nhất quán, là cội nguồn của sức mạnh trong mọi thời kỳ cách mạng.

Hoạch định đường lối đổi mới, Đảng ta chỉ rõ bốn bài học kinh nghiệm lớn, trong đó bài học đầu tiên là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc””(2), xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động; phát huy sức mạnh của nhân dân tiến hành đổi mới.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đan xen cả thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn đối với sự nghiệp đổi mới nói chung và đường lối xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc nói riêng. Giảng viên trao đổi cùng học viên nhận diện những khó khăn và thách thức đối khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị ra sức lợi dụng tình hình để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ diễn biến phức tạp để kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan, qua đó tập hợp lực lượng, chia rẽ quan hệ dân với Đảng, gây phân tâm trong xã hội...

Trước tình hình đó, qua “bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”, mỗi học viên cần phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhận thức rõ sự cần thiết tăng cường chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội là xu hướng tất yếu, bao trùm. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một tất yếu khách quan, là vấn đề có tính quy luật của cách mạng. Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nhân tố góp phần quan trọng vào thắng lợi.

Một trong những vấn đề lịch sử mà các thế lực thù địch tập trung xuyên tạc khi cho rằng: Cách mạng Tháng Tám thắng lợi là “sự ăn may” do Chiến tranh thế giới thứ II đưa lại?, hay Việt Nam giành chính quyền trong “khoảng trống quyền lực”? Giảng viên đưa ra tư liệu lịch sử khách quan cho thấy: Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc với thắng lợi của phe Đồng minh trước chủ nghĩa phát xít, tạo ra thời cơ cho các nước đấu tranh giải phóng dân tộc. Nhưng vào thời điểm lịch sử thuận lợi đó, ở châu Á, Đông Nam Á, không nước nào giành được thắng lợi như Việt Nam. Với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(3), nhân dân Việt Nam đồng loạt vùng dậy dưới sự lãnh đạo của Đảng và Tổng bộ Việt Minh, cả dân tộc muôn người như một, tạo ưu thế áp đảo, giáng một đòn quyết định vào các cơ quan đầu não, làm tê liệt mọi sự kháng cự của phát xít Nhật và các thế lực thù địch, giành chính quyền về tay nhân dân. Thời điểm đó, không chỉ có lực lượng của Việt Minh đấu tranh giành chính quyền mà còn có một số lực lượng khác cũng ra sức tranh thủ thời cơ giành chính quyền, trong đó có cả những lực lượng thân Nhật, như Phục Quốc, Cao Đài, Đại Việt Quốc gia liên minh v.v.. Nhưng trong cuộc đấu tranh đó, chỉ có Việt Minh giành thắng lợi vì đã dựa chắc trên lực lượng cách mạng to lớn của quần chúng nhân dân. Với lực lượng quần chúng áp đảo, với bản lĩnh và trí tuệ, Đảng và Mặt trận Việt Minh đã chớp thời cơ, lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trên phạm vi toàn quốc.

Thực tế chứng minh, thời cơ dù có thuận lợi đến đâu, nhưng nếu lực lượng cách mạng không đủ sức chớp lấy thì thời cơ đó sẽ trôi đi. Cách mạng Tháng Tám là cuộc vùng dậy của sức mạnh đoàn kết toàn dân.

Ý nghĩa thực tiễn của bài học này, đòi hỏi giảng viên cần nhấn mạnh, đồng thời gợi mở tư duy, làm rõ: Trong công cuộc đổi mới hiện nay, yêu cầu kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại tiếp tục được đặt ra.

Phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay, cần đánh giá sức mạnh, thế và lực đất nước sau 35 năm đổi mới. Đó là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội, sức mạnh tổng hợp kinh tế, quân sự, dân số, lãnh thổ; sức mạnh của các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, tinh thần yêu nước, tinh thần lao động cần cù và ý chí vươn lên của con người Việt Nam; năng lực tư duy, tổ chức, khả năng thích ứng, tiếp nhận những giá trị văn hóa, văn minh, tiến bộ từ bên ngoài; khả năng nắm bắt cơ hội để phát triển...

Nhận thức rõ sức mạnh thời đại ngày nay bao gồm những xu thế lớn: cuộc cách mạng khoa học - công nghệ; xu thế toàn cầu hóa, hợp tác liên kết khu vực; xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển... Trong quá trình toàn cầu hóa, chủ quyền quốc gia đứng trước những thách thức mới, do vậy, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phải luôn giữ vững nguyên tắc độc lập tự chủ và chủ quyền quốc gia. Trong đó, phát huy sức mạnh dân tộc có ý nghĩa quyết định.

Bài học về phương pháp cách mạng của Đảng

Không có lĩnh vực nào của đường lối cách mạng lại đòi hỏi tính linh hoạt, sáng tạo như phương pháp cách mạng. Phương pháp cách mạng là sản phẩm tư duy của người lãnh đạo, nhưng luôn khởi phát từ yêu cầu khách quan, bị chế định bởi những điều kiện lịch sử - cụ thể. Có rất nhiều phương pháp cách mạng đã được Đảng sử dụng hiệu quả trong thực tiễn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng nhận thức rõ, sai lầm về mặt phương pháp cách mạng có thể gây tổn thất, đẩy lực lượng cách mạng vào thế khó khăn, bỏ lỡ cơ hội phát triển, thậm chí gặp thất bại tạm thời.

Một trong những vấn đề các thế lực thù địch đặt trọng tâm xuyên tạc là: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc chiến tranh vũ trang tốn xương máu, mất mát đau thương là không cần thiết (?). Giảng viên trao đổi với học viên, cung cấp tư liệu lịch sử khách quan: Chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954-1975) trước hết và căn bản khởi phát từ lợi ích bên trong của các nước đế quốc, từ chiến lược toàn cầu của Mỹ. Những thế lực cầm quyền ở nước Mỹ dùng sức mạnh quân sự để hòng đạt kỳ được mục tiêu chiến lược. Trong những năm 1954-1959, Đảng vẫn kiên trì không đấu tranh vũ trang để thống nhất đất nước, các cán bộ, đảng viên tại chỗ vừa phải đối phó với sự khủng bố gắt gao của chính quyền Ngô Đình Diệm, vừa chịu sức ép lớn từ phía cơ sở và những người dân yêu nước, quần chúng cách mạng. Việc xác định đường lối thống nhất đất nước là một quá trình khó khăn. Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), đưa đến cuộc Đồng khởi vĩ đại, đánh dấu bước ngoặt lớn của cách mạng miền Nam, một thành công điển hình về phương pháp tiến hành cách mạng bạo lực. Sự khởi đầu đó phù hợp đối sánh lực lượng ta - địch, phù hợp nguyện vọng của đông đảo quần chúng, thời điểm phù hợp với thời cơ lịch sử, được thế giới đồng tình ủng hộ; tạo thế, tạo lực cho cách mạng miền Nam.

Bên cạnh việc nhấn mạnh những thành công, giảng viên cần nêu lên những đánh giá khách quan về những hạn chế trong quá trình Đảng thực hiện các phương pháp cách mạng trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ, cách mạng XHCN, trao đổi, gợi mở để học viên nêu lên, đánh giá được những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến những hạn chế đó. Từ đó liên hệ, vận dụng phương pháp cách mạng của Đảng trong bối cảnh hiện nay cần nhấn mạnh những vấn đề cơ bản sau:

Việc hoạch định đường lối, xây dựng các phương pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cách mạng cần bám sát tình hình, thường xuyên tổng kết thực tiễn đối với từng lĩnh vực đời sống xã hội, với từng vùng, miền.

Phương pháp cách mạng là cách thức để tổ chức thực hiện đường lối đạt hiệu quả, thoát ly các điều kiện khách quan sẽ khiến cho phương pháp cách mạng rơi vào chủ quan, duy ý chí, thiếu tính sáng tạo, dẫn đến ít hoặc không mang lại hiệu quả trên thực tế. Cần khắc phục tình trạng nóng vội, chủ quan, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch chống phá công cuộc đổi mới. Đồng thời, luôn chủ động, không ngừng sáng tạo, khắc phục tình trạng bảo thủ, trì trệ, bỏ lỡ cơ hội phát triển.

Bài học về vai trò lãnh đạo của Đảng

Trong bài học này, cần khẳng định những thắng lợi vĩ đại của dân tộc từ khi có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - chấm dứt sự khủng hoảng bế tắc về đường lối cứu nước; thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm; thắng lợi của 35 năm đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, từng bước xác lập vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Bên cạnh đó, giảng viên cũng cần nêu những đánh giá khách quan: trên thực tế, quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Thí dụ như giai đoạn hơn 10 năm xây dựng CNXH trên cả nước (1975-1986), sự lãnh đạo của Đảng bộc lộ nhiều hạn chế cả trong nhận thức và trong tổ chức chỉ đạo thực hiện... Đại hội VI của Đảng (12-1986), đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng CNXH trong những năm 1975-1985.

Bằng những tư liệu, sự kiện lịch sử khách quan, tin cậy, giảng viên làm rõ: qua các thời kỳ lịch sử, Đảng đã nghiêm túc và kịp thời tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn để củng cố tổ chức đủ năng lực tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng phát triển. Đồng thời, làm rõ những điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng: xác định đúng nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng, chú trọng công tác lý luận, thường xuyên nâng cao trình độ lý luận của Đảng; hoạch định được đường lối chính trị đúng đắn và xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng; xây dựng hệ thống tổ chức đảng vững mạnh và đội ngũ cán bộ, đảng viên trung kiên, luôn đổi mới và chỉnh đốn Đảng; kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc và truyền thống vẻ vang của Đảng.

Trao đổi, gợi mở cho học viên liên hệ thực tiễn: trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó lường. Sự nghiệp cách mạng vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, việc đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng là yêu cầu đặt ra cấp bách.

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch thông qua giảng dạy lịch sử Đảng, giảng viên cần không ngừng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nhận thức rõ những giá trị bền vững, phổ biến về tư tưởng, lý luận trong đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng đề ra, đồng thời nhận thức rõ những quy luật riêng của cách mạng Việt Nam. Từ thực tiễn, thành tựu của cách mạng Việt Nam làm sáng tỏ, chứng minh tính đúng đắn của hệ tư tưởng, lý luận và khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, kết hợp lý luận và thực tiễn quyết định thắng lợi của cách mạng.

__________________

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.30.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.213.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.596.

PGS, TS TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH

Viện Lịch sử Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền