Trang chủ    Đào tạo - Bồi dưỡng    Phát triển năng lực của giảng viên đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục đại học
Thứ ba, 06 Tháng 9 2022 20:58
3752 Lượt xem

Phát triển năng lực của giảng viên đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục đại học

(LLCT) - Chuyển đổi số trong giáo - dục đào tạo nói chung, trong đào tạo đại học nói riêng cần được triển khai đồng bộ trên nhiều khía cạnh, như: phát triển hệ thống dữ liệu toàn quốc về giáo dục - đào tạo; phát triển, khai thác hệ thống học liệu và môi trường học tập số; xây dựng và triển khai khung năng lực số cho người học; phát triển nhân lực trình độ cao trong lĩnh vực công nghệ thông tin và chuyển đổi số… Bài viết tập trung xem xét về phát triển năng lực số của đội ngũ giảng viên đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.

 

Chuyển đổi số trong giáo dục là xu thế tất yếu của thời đại - Ảnh: internet

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống, đặt tiền đề và yêu cầu xác lập mô hình hoạt động mới. Ở Việt Nam, chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03-6-2020, trong đó giáo dục và đào tạo là một trong 8 lĩnh vực ưu tiên hàng đầu. Quá trình triển khai chương trình đã xác định rõ yêu cầu chuyển đổi số trong đào tạo đại học, trong đó có yêu cầu phát triển năng lực số của giảng viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay.

Năng lực số là khái niệm mới được sử dụng trong những năm gần đây, hàm nghĩa gần với các khái niệm năng lực công nghệ thông tin, năng lực truyền thông trong bối cảnh số hóa diễn ra mạnh mẽ. UNESCO định nghĩa, năng lực số là khả năng hiểu, truy cập, quản lý, giao tiếp, đánh giá và sáng tạo thông tin một cách an toàn và hiệu quả thông qua công nghệ số để phục vụ cho công việc. Năng lực số của giảng viên các trường đại học là điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu trong môi trường chuyển đổi số. Năng lực số giúp cho giảng viên không chỉ sử dụng công nghệ trong nghiên cứu và giảng dạy, mà còn là cơ sở hình thành tư duy, thái độ và phương thức làm việc hiệu quả. 

1. Năng lực số của giảng viên đại học

Trên cơ sở kế thừa khung năng lực số với 7 nhóm năng lực cơ bản do UNESCO xác định, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và đặc thù công việc của người giảng viên đại học, năng lực số của người giảng viên các trường đại học Việt Nam thể hiện trên một số nội dung sau:

Thứ nhất, năng lực vận hành thiết bị và phần mềm công nghệ

Cách mạng khoa học - công nghệ nói chung, lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng đã tạo điều kiện cho các trường đại học trang bị những công nghệ và thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Điều đó đòi hỏi giảng viên phải khai thác, sử dụng thành thạo các thiết bị công nghệ theo yêu cầu công việc. Khả năng vận hành thiết bị công nghệ biểu hiện trước hết là việc nhận biết chức năng và tính năng của công nghệ, lựa chọn các phần mềm công nghệ hỗ trợ hiệu quả cho yêu cầu công việc. Đồng thời, năng lực của giảng viên còn thể hiện ở khả năng vận hành thiết bị công nghệ, kỹ năng sử dụng các phần mềm công nghệ, đáp ứng yêu cầu công việc. Đối với giảng viên, việc sử dụng thành thạo các tính năng tiếp cận, khai thác và chuyển tải thông tin là điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra trong các trường đại học hiện nay. 

Thứ hai, năng lực xử lý dữ liệu và sáng tạo

Trong bối cảnh cách mạng công nghệ thông tin đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, kỹ năng xử lý dữ liệu là yếu tố quan trọng trong năng lực hoạt động nghề nghiệp của giảng viên trường đại học. Thiếu năng lực xử lý dữ liệu, giảng viên khó có thể tiếp cận, tiếp nhận và xử lý thông tin hiệu quả cho hoạt động nghề nghiệp của mình. 

Năng lực xử lý dữ liệu, trước hết là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của chính chủ thể để định vị phạm vi tìm kiếm, truy cập và khai thác dữ liệu trên nền tảng số. Bên cạnh đó, giảng viên cần đánh giá được nguồn tin, độ tin cậy của thông tin, nắm bắt và tuân thủ tốt vấn đề bản quyền trên không gian mạng. 

Giảng viên xử lý thông tin một cách hiệu quả với sự hỗ trợ của công nghệ. Việc xử lý thông tin của giảng viên chỉ thực hiện được hiệu quả trên cơ sở tri thức nền đủ rộng, tri thức chuyên ngành đủ sâu và có hệ phương pháp luận rõ ràng. Tri thức được sáng tạo trên cơ sở xử lý dữ liệu khai thác trên nền tảng số (là sản phẩm của quá trình tư duy lý luận khoa học, quá trình nghiên cứu khoa học) của giảng viên cần được lưu trữ, bảo quản, khai thác và sử dụng hiệu quả nhờ sử dụng các tính năng hiện đại của thiết bị, công nghệ số phục vụ cho quá trình giảng dạy, chuyển giao tri thức khoa học trong hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ. 

Ngoài ra, hoạt động sáng tạo của giảng viên còn bao gồm khả năng phát triển nội dung số, đó là yêu cầu tạo lập, số hóa nội dung tri thức mới của giảng viên tham gia làm giàu cho hệ tri thức khoa học nhân loại. 

Năng lực sáng tạo của giảng viên đại học không chỉ thể hiện ở nội dung khoa học được nghiên cứu và giảng dạy mà còn ở hình thức và phương pháp dạy học. Sản phẩm tạo ra được thực hiện trên cơ sở sử dụng các tính năng công nghệ hiện đại, là những bài giảng giàu tri thức, có sức hút bởi sự linh hoạt và phong phú trong các hình ảnh, âm thanh giảng viên sử dụng. 

Năng lực sáng tạo của sinh viên được thể hiện ở sản phẩm tri thức mà họ lĩnh hội: là những ý tưởng mới được hình thành, là bài thuyết trình, bài tập giải quyết tình huống, tiểu luận khoa học giàu tính sáng tạo. Sự hỗ trợ của thiết bị kỹ thuật và tính năng công nghệ hiện đại làm cho sự sáng tạo của cả người dạy và người học trở nên không giới hạn.

Quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo, mà tiêu điểm là đào tạo đại học trong bối cảnh sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là tất yếu. Xây dựng được đội ngũ giảng viên và sinh viên có năng lực số là điều kiện thực hiện mục tiêu chuyển đổi số ở bậc đại học.  

Thứ ba, năng lực giao tiếp, hợp tác

Trong môi trường công nghệ số, năng lực giao tiếp và hợp tác của giảng viên là khả năng liên kết giữa đội ngũ giảng viên, giữa người dạy và người học… Năng lực này không chỉ được thể hiện qua mối quan hệ các thành viên trong một đơn vị, một trường mà là mối quan hệ không giới hạn. Đó có thể là mối liên hệ của giới khoa học trong khu vực và thế giới; là mối quan tâm chung của cả trường đại học với các đơn vị sản xuất, kinh doanh, quản lý xã hội...

Điều kiện giao tiếp và hợp tác mới này tạo ra nhiều cơ hội cho giảng viên đại học. Song, nó cũng đòi hỏi những kỹ năng giao tiếp, làm việc mới. Năng lực giao tiếp và hợp tác trong điều kiện kỹ thuật số cần được hình thành và rèn luyện bởi đây là điều kiện tiền đề để giúp giảng viên thành công trong công việc chuyên môn.

Khả năng tương tác, giao tiếp và hợp tác thông qua công nghệ số thể hiện ở mức độ nhận thức của giảng viên về trách nhiệm của mình trong các mối quan hệ được tạo lập từ môi trường số hóa; thể hiện ở việc nắm bắt các đặc điểm tâm lý, văn hóa, chính trị… đa dạng của đối tượng giao tiếp trên không gian mạng. Sự nhận thức này là cơ sở để giảng viên xác định chuẩn mực hành vi giao tiếp. Năng lực này còn thể hiện ở kỹ năng lựa chọn, sử dụng những công cụ giao tiếp hợp lý cho từng đối tượng, trong từng hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao nhất trong mối quan hệ tương tác.  

Thứ tư, năng lực an ninh, an toàn 

Sự phát triển của công nghệ thông tin tạo nên môi trường không gian mở, sự lưu chuyển thông tin mang tính đa chiều, tốc độ truyền tin nhanh… Song, cũng đặt ra những vấn đề cấp bách về bảo đảm tính bảo mật của thông tin, về an ninh, an toàn, quyền cá nhân và tổ chức khi tham gia vào môi trường xã hội số. Làm việc trong môi trường số hóa thì nguy cơ bị tổn thương về sức khỏe tinh thần, sự xâm hại sản phẩm trí tuệ… dễ nảy sinh khi chủ thể tham gia thiếu năng lực tự bảo vệ. 

Trong khi thực hiện nhiệm vụ, giảng viên cần hiểu rõ những tác động của công nghệ số đối với bản thân, các đối tác và thành viên tham gia. Bên cạnh hoạt động của các cơ quan hữu quan về bảo đảm an ninh, an toàn cho các cá nhân tham gia hoạt động trong môi trường số, mỗi giảng viên cần có khả năng tự bảo vệ mình và bảo vệ đối tác. Năng lực an ninh, an toàn của giảng viên biểu hiện ở mức độ nhận thức về các nguy cơ có thể xảy ra, hiểu về các biện pháp an toàn và an ninh, biết chia sẻ và sử dụng thông tin trên môi trường số không trái với các quy định hiện hành. Đồng thời, giảng viên các trường đại học còn là chủ thể có sức lan tỏa mạnh trong cộng đồng, có vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng môi trường số lành mạnh, an toàn, xây dựng văn hóa giao tiếp, tương tác trên môi trường số cho xã hội.  

Thứ nămnăng lực số của giảng viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay được xem xét ở mức độ đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học. Sự phát triển kỹ thuật - công nghệ dẫn đến sự thay đổi tất yếu về phương thức hoạt động yêu cầu xem xét, đánh giá năng lực của đội ngũ giảng viên các trường đại học theo những tiêu chí mới, phù hợp với thực tế. Xác định tiêu chí và đánh giá đúng năng lực số của giảng viên có vai trò quan trọng nhằm định hướng, hoàn thiện kỹ năng, tăng cường năng lực, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các trường đại học. Trên cơ sở nắm chắc nhu cầu đào tạo và nghiên cứu, các cơ sở đào tạo quy hoạch, xây dựng đội ngũ nhân sự theo yêu cầu thực tiễn. Đồng thời, trên cơ sở đó xác định mục tiêu, lên kế hoạch bồi dưỡng và phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ giảng viên một cách hiệu quả. 

Bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, cùng với ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 vừa đòi hỏi nhưng cũng vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển năng lực số của đội ngũ giảng viên các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, thể hiện rõ trên các mặt hoạt động của các trường đại học, cụ thể:

Một là, về nghiên cứu khoa học và hoạt động hợp tác giữa các trường đại học trong và ngoài nước, giữa trường đại học với các cơ quan, đơn vị… sử dụng thiết bị công nghệ đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm đem lại hiệu quả cao. Các hình thức hội nghị, hội thảo trực tuyến được sử dụng phổ biến, thay thế, hỗ trợcho hình thức trực tiếp. Chất lượng khoa học trong hợp tác, trao đổi, thảo luận nâng cao rõ rệt. Phạm vi hợp tác rộng hơn, đối tượng tham gia phong phú hơn, hình thức tổ chức thuận lợi hơn... Trong quá trình tham gia, năng lực số của giảng viên ngày càng phát triển. Giảng viên đã chủ động, tích cực lựa chọn phương thức làm việc trên thiết bị công nghệ và hầu hết đã thành thạo về các kỹ năng khai thác dữ liệu, sử dụng công nghệ số chia sẻ tri thức một cách hiệu quả. Giao tiếp, giao lưu qua thiết bị công nghệ để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và hợp tác chuyên môn đã dần thành nhu cầu, sự lựa chọn tối ưu của đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường đại học. 

Hai là, về đào tạo, giảng dạy được thực hiện với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin hiện đại và các phần mềm đào tạo. Do yêu cầu số hóa quá trình dạy học, lượng bài giảng điện tử, giáo trình và sách điện tử được sử dụng phổ biến và chia sẻ trên nền tảng công nghệ số ngày càng phong phú. Chất lượng các bài giảng điện tử cũng không ngừngđược nâng cao, tận dụng được những tiện ích công nghệ trong chuyển tải tri thức, kỹ năng cho người học. Kho dữ liệu phục vụ quá trình dạy học được bổ sung ngày càng nhiều. Việc khai thác dữ liệu phục vụ công tác dạy học ngày càng dễ dàng và hiệu quả hơn. 

Trong quá trình đào tạo, năng lực số của giảng viên được thể hiện ở khâu kiểm tra, đánh giá. Sự chuyển đổi về hình thức kiểm tra, đánh giá ở bậc đại học đã được thực hiện trên nền tảng công nghệ số. Dạng thức thi viết trực tuyến, bài tập lớn và tiểu luận, thi trắc nghiệm… dựa trên sự hỗ trợ công nghệ số đã được áp dụng với nhiều học phần.

Từ chỗ lúng túng, nghi ngại ban đầu, nhiều giảng viên đã thấy được những ưu việt của môi trường, phương thức làm việc mới và hào hứng, tích cực hơn trong dạy học. Một số giảng viên thể hiện sự sáng tạo trong sản phẩm lao động của mình. Năng lực số của đội ngũ giảng viên hiện nay dù chưa đều nhưng có nhiều điểm sáng. Những giảng viên có trình độ công nghệ thông tin cao, có sức trẻ đang là lực lượng đi đầu trong quá trình phát triển năng lực số. Lực lượng này đang góp phần quan trọng vào quá trình tự đào tạo, bồi dưỡng, tương trợ, giúp đỡ cho đồng nghiệp hình thành và phát triển năng lực số. 

Thứ sáu, mặc dù đáp ứng cơ bản yêu cầu của thực tiễn nhưng năng lực số của giảng viện đại học ở Việt Nam hiện nay còn khuyết điểm tồn tại như:

Về kiến thức và kỹ năng ứng dụng công nghệ của đội ngũ giảng viên còn nhiều bất cập. Mặt bằng trình độ công nghệ thông tin của đội ngũ không đồng đều. Nhiều giảng viên giỏi chuyên môn nhưng khả năng sử dụng công nghệ chưa cao, kỹ năng thiết kế bài giảng, khóa học trên nền tảng kỹ thuật số chưa thành thạo. Việc thiết kế kịch bản dạy học, xây dựng hình ảnh, video clip, tích hợp các trang màn hình… đối với nhiều giảng viên còn là mới lạ.

Tư duy, phong cách giảng dạy ít thay đổi trong điều kiện chuyển đổi số. Nhiều giảng viên còn ỳ trệ, thụ động, ngại thay đổi hoặc dạy học trên nền tảng số một cách đối phó, tính sáng tạo mờ nhạt. Thậm chí, nhiều bài giảng không khác bài giảng truyền thống dù có hỗ trợ của công nghệ hiện đại. Do nhận thức chưa đầy đủ về tính tất yếu khách quan của sự chuyển đổi phương thức dạy học trong môi trường công nghệ, do ý thức thiếu tích cực của cả giảng viên và sinh viên, cộng với phong cách tư duy và tâm thế làm việc cũ kỹ, thiếu động cơ tích cực nên năng lực số của đội ngũ vốn đã yếu lại có nhiều lực cản trong quá trình phát triển.

Về năng lực giao tiếp và hợp tác trên môi trường công nghệ số của giảng viên. Sự phát triển của công nghệ thông tin đem lại không gian rộng mở trong giao tiếp, các mối quan hệ thầy - trò, đồng nghiệp giới chuyên môn có nhiều điều kiện để thiết lập, phát huy. Song, không ít giảng viên thiếu tích cực khi trao đổi, hợp tác chuyên môn với đồng nghiệp. Do tâm lý e ngại, sự ích kỷ về tri thức, không muốn chia sẻ với đồng nghiệp; sự kết nối lỏng lẻo, hạn chế của đội ngũ giảng viên giữa các trường đại học, giữa giảng viên với các tổ chức liên quan đến lĩnh vực đào tạo của nhà trường, giữa giảng viên với sinh viên… thể hiện những hạn chế về năng lực giao tiếp trên nền tảng số của đội ngũ này. 

Thứ bảy, những bất cập về năng lực số của giảng viên và sinh viên xuất phát nguyên nhân sau: Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục nói chung và đào tạo đại học nói riêng đã được quan tâm, song hành lang pháp lý và các quy định cụ thể quản lý, vận hành đào tạo vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Các văn bản hướng dẫn triển khai mang tính thời điểm, chưa xây dựng lộ trình và quy cách thực hiện mang tính đồng bộ, thống nhất. Cơ sở dữ liệu kết nối các trường đại học đã được xây dựng, phát huy hiệu quả trong công tác quản lý. Song, dữ liệu khoa học dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo chưa nhiều, chưa thật sự thông suốt và tiện ích. Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và nghiên cứu khoa học, các dữ liệu trên nền tảng số phải là nền tảng dữ liệu mở, liên tục được cập nhật từng ngày. 

Hành lang pháp lý chung cho vệc xây dựng, cập nhật số hóa dữ liệu còn chưa rõ ràng. Những vấn đề về bản quyền, sở hữu trí tuệ, an ninh thông tin, giao dịch điện tử… còn rất nhiều bất cập, làm hạn chế cả hiệu quả quản lý và mức độ tham gia dạy và học trong môi trường số ở các trường đại học hiện nay. Yếu tố này tác động mạnh mẽ, thậm chí sự không minh bạch, làm hạn chế, triệt tiêu động cơ, động lực phát triển năng lực số của các chủ thể, trong đó có đội ngũ giảng viên.  

Số hóa hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học trong trường đại học cần sự đầu tư lớn về, về tài chính và kỹ thuật… Song hiện nay, việc số hóa còn tiến hành tự phát ở các trường đại học, hệ thống giải pháp dạy học có tính tương tác cao còn thiếu và không đồng bộ, thiếu sự hỗ trợ của Bộ Giáo dục Đào tạo hoặc cơ quan chức năng; thiếu sự chia sẻ giữa các trường đại học, dẫn đến sự lãng phí và kém hiệu quả. Bên cạnh đó, hạ tầng mạng, trang thiết bị công nghệ thông tin, đường truyền, dịch vụ internet của các trường chưa đồng bộ chuyển đổi số.    

Năng lực số của giảng viên không đồng đều do các cá nhân chủ yếu tự học, tự bồi dưỡng mà chưa được đào tạo cơ bản, bài bản. Mức độ tham gia, đóng góp cho kho học liệu số của giảng viên còn rất hạn chế. Việc số hóa kho học liệu, thẩm định, chia sẻ nguồn học liệu… cần sự đầu tư của cơ quan quản lý, điều này ở nhiều trường đại học chưa được chú trọng. 

2. Giải pháp tiếp tục nâng cao năng lực số của giảng viên đại học đáp ứng yêu cầu mới

Quá trình chuyển đổi số trong giáo dục đào tạo, mà tiêu điểm là đào tạo đại học trong bối cảnh sự tác động mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là tất yếu. Xây dựng được đội ngũ giảng viên và sinh viên có năng lực số là điều kiện thực hiện mục tiêu chuyển đổi số ở bậc đại học. Muốn vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ bản:

Thứ nhất, đội ngũ cán bộ giảng dạy các trường đại học cần nhận thức đúng và sâu sắc chuyển đổi số là tất yếu, là sự sống còn của đào tạo đại học trong bối cảnh hiện nay. Đào tạo và nghiên cứu khoa học trên môi trường công nghệ số không phải là nhất thời, mà là xu hướng khách quan của sự tồn tại. Có như vậy mới khơi gợi, thúc đẩy nhu cầu, sự nỗ lực từ chính đội ngũ trong phát triển năng lực số. Đội ngũ giảng viên cần không ngừng tìm tòi, tự bồi dưỡng và phát triển năng lực số thông qua nền tảng dữ liệu mở phong phú vốn có hiện nay. Một mặt, giảng viên tăng cường giao tiếp và hợp tác trên nền tảng số, mặt khác, từng bước xây dựng văn hóa giao tiếp trên không gian số, xác lập mối quan hệ hợp tác trên phương diện học thuật mang tính hiệu quả và văn minh.

Cần tích cực và sáng tạo bằng nhiều hình thức khác nhau khi tham gia xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu gồm cả nội dung và hình thức xây dựng kho học liệu có chất lượng cho cộng đồng. Nâng cao tính trách nhiệm xã hội khi chia sẻ và khai thác thông tin trong môi trường số. 

Thứ hai, Bộ Giáo dục Đào tạo, các trường đại học cần hoàn thiện về hệ thống chính sách văn bản quy định và các điều kiện yêu cầu quá trình chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo. Đặc biệt các trường đại học cần chú ý thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, các trường đại học cần chú trọng triển khai hệ thống cơ sở dữ liệu đồng bộ và thống nhất với cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu ngành, đẩy mạnh số hóa việc quản lý trên mọi phương diện, trong đó có quản lý dạy và học. Đầu tư cơ sở hạ tầng mạng và thiết bị thông tin đồng bộ, hiệu quả phục vụ cho công tác dạy và học. 

Hai là, hoàn thiện các quy định trong quản lý quá trình dạy học trên cơ sở coi đây là hoạt động trung tâm, then chốt của nhà trường, tạo điều kiện tốt nhất, bảo đảm quyền lợi cao nhất nhằm thúc đẩy, tạo động lực cho đội ngũ giảng viên nâng cao năng lực số. Bên cạnh đó, cần xây dựng khung đánh giá năng lực người dạy và người học, nhất là đội ngũ giảng viên phù hợp với phương thức đào tạo số thay thế khung đánh giá năng lực giảng viên hiện nay. 

Ba là, thúc đẩy phát triển kho học liệu số phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học trên cơ sở thẩm định chặt chẽ về chất lượng. Khuyến khích và có cơ chế thưởng, phạt minh bạch đối với giảng viên trong việc thực hiện trách nhiệm đóng góp phát triển nhà trường, cho xã hội trên nền tảng số. 

Việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho giảng viên phải được xác định là giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, có ý nghĩa quyết định chất lượng đào tạo của nhà trường trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ hiện nay.

_________________

 

Ngày nhận: 30-5-2022; Ngày bình duyệt: 31-5-2022; Ngày duyệt đăng: 6-9-2022

TS PHAN THỊ THANH HẢI

Học viện Báo chí và Tuyên Truyền

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền