Trang chủ    Diễn đàn    Về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, 17 Tháng 8 2015 14:38
13182 Lượt xem

Về mối quan hệ giữa đảng cầm quyền và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

(LLCT) - Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, lực lượng sản xuất phát triển như hiện nay, một đảng chính trị để trở thành đảng cầm quyền và giữ được vị trí lãnh đạo đối với nhà nước và xã hội thì đảng chính trị đó phải có hệ tư tưởng tiên tiến, phù hợp với xu hướng tiến bộ và phát triển của thế giới, đường lối phải phù hợp với quy luật phát triển của xã hội, các chủ trương, mục tiêu chính trị phải hướng đến việc giải quyết những lợi ích căn cốt nhất của nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, phải là một tổ chức thống nhất, đoàn kết, với những đảng viên ưu tú.

Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về đảng cầm quyền, nhưng từ thực tiễn các nước trên thế giới và nước ta có thể hiểuđảng cầm quyền có nghĩa là đảng lãnh đạo chính quyền thực hiện đường lối, chủ trương của đảng thông qua hiến pháp và pháp luật, bằng cách giới thiệu cán bộ của đảng để dân bầu (thực hiện quyền làm chủ), nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(1).

Khái niệm đảng cầm quyền không đồng nhất với khái niệm đảng lãnh đạo, nhưng có những nội dung giống với khái niệm đảng lãnh đạo. Khái niệm đảng lãnh đạo có nội hàm rộng hơn, bởi lẽ, đảng lãnh đạo ngay khi chưa giành được được chính quyền, chưa nắm được chính quyền. Khái niệm đảng lãnh đạo không gắn với quyền lực nhà nước với ý nghĩa là ý chí giai cấp, thực hiện sự cưỡng chế mà gắn với “sự gây ảnh hưởng”, uy tín, sự hấp dẫn trong hành động của đảng viên, trong tổ chức và hoạt động của đảng. Đặc biệt, đường lối, chính sách của đảng mang lại lợi ích cho dân chúng.

Lãnh đạo và cầm quyền là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau, quan hệ tương hỗ nhau trong đảng chính trị. Mục đích của lãnh đạo là đạt đến sự cầm quyền. Khi đảng chính trị giành được chính quyền thì luôn phát huy vai trò, địa vị lãnh đạo, tạo ra uy tín, hấp dẫn quần chúng nhân dân bằng đường lối, chính sách, bằng những đảng viên ưu tú (những người được giao các vị trí trọng trách trong bộ máy nhà nước). Khi nói lãnh đạo là lãnh đạo quần chúng nhân dân, dẫn dắt quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của đảng. Nói cầm quyền là giữ vị trí chủ chốt, hoạch định chính sách quốc gia.  Khi được sự ủng hộ của quần chúng thì đảng lãnh đạo trở thành đảng cầm quyền. Tuy nhiên, khi trở thành đảng cầm quyền, đảng chính trị đó muốn duy trì vị trí cầm quyền thì phải thông qua chính quyền, tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của mình có hiệu quả, mang lại lợi ích tối đa cho nhân dân.

Ở Việt Nam, trước khi giành được chính quyền, Đảng ta đã trải qua quá trình rèn luyện, đấu tranh gian khổ. Mọi hành động của Đảng, mục đích của Đảng đều hướng đến và mang lại lợi ích cho nhân dân. Sau khi giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta tiếp tục đấu tranh, rèn luyện, thường xuyên chỉnh đốn Đảng để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, loại ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất, quan liêu, tham nhũng… Khái niệm Đảng cầm quyền là để chỉ vai trò của Đảng ta khi đã giành được chính quyền; lãnh đạo chính quyền, thông qua chính quyền và các đoàn thể nhân dân để lãnh đạo toàn xã hội. Nói cách khác, Đảng cầm quyền tức là Đảng nắm giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, lãnh đạo nhà nước và toàn dân thực hiện mục tiêu của Đảng. Đảng cầm quyền có nghĩa là Đảng lãnh đạo chính quyền thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng thông qua Hiến pháp và pháp luật, bằng cách giới thiệu cán bộ, đảng viên của Đảng để dân bầu, nắm giữ các vị trí lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở(2).

Nhà nước pháp quyền dựa trên nền tảng của Hiến pháp, có hiệu lực pháp lý tối cao, pháp luật được áp dụng công bằng, nhất quán, bảo đảm tính công khai, sự minh bạch, dễ tiếp cận, áp dụng kịp thời và giữ vị trí chi phối. Các tổ chức trong xã hội và nhà nước đều chịu sự ràng buộc của pháp luật. Nguyên tắc phân quyền và yêu cầu về sự độc lập của tư pháp được bảo đảm và các quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo vệ. Những đặc trưng đó là những giá trị phổ biến của một nhà nước pháp quyền. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã chỉ ra các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN.

Mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN là sự tác động qua lại giữa hai chủ thể, trong đó Nhà nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật và chính sách làm công cụ quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong hệ thống chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận hợp thành cùng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội. Đảng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng không đứng trên, hay đứng ngoài hệ thống chính trị, mà gắn bó với những thiết chế trong hệ thống đó. Ðảng không làm thay công việc của Nhà nước. Đảng và Nhà nước đều hướng đến việc bảo đảm và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, có thể hiểu mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN là sự tương tác giữa hai chủ thể Đảng và Nhà nước, trong đó Đảng cầm quyền giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước pháp quyền XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN thực hiện chức năng quản lý xã hội. Cả hai cùng hướng đến mục tiêu chung là bảo đảm và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động.

Cần phải nhận thấy rằng, vai trò của Đảng cầm quyền và của Nhà nước pháp quyền XHCN vừa có sự thống nhất, vừa có sự khác biệt. Tính thống nhất thể hiện trong mục tiêu chung của hoạt động lãnh đạo và quản lý đều hướng đến việc thực hiện quyền lực của nhân dân, “trong lãnh đạo bao hàm sự quản lý và thông qua quản lý để lãnh đạo”(3). Song điều này có thể dẫn đến có sự lẫn lộn giữa chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước. Do vậy, xu hướng tách Đảng ra khỏi Nhà nước, hay “Đảng hóa thân vào Nhà nước” hay “Nhà nước hóa Đảng” trong việc nhận thức mối quan hệ giữa hai thiết chế này đều sai lầm, dẫn đến “sự lẫn lộn, nhập cục một cách chủ quan giữa chức năng của Đảng và chức năng của Nhà nước đã làm cho Đảng yếu, Nhà nước non kém, Đảng không phát huy được chức năng vốn có của mình, còn Nhà nước rơi vào tình trạng thụ động, quan liêu, xa rời thực tế, quyền lợi của nhân dân trở thành hình thức”(4).

Xét về bản chất, mối quan hệ giữa giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCNlà mối quan hệ giữa hai chủ thể trong hệ thống chính trị XHCN, vừa mang tính độc lập, vừa mang tính phụ thuộc, giữa hai chủ thể vừa bình đẳng vừa không bình đẳng. Điều đó được thể hiện như sau:

Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền XHCN chịu sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền

Đảng cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và thông qua Nhà nước để thực hiện sự lãnh đạo của mình. Như trên đã phân tích, mối quan hệ Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN là quan hệ phụ thuộc, quan hệ không bình đẳng giữa hai chủ thể nếu xét ở khía cạnh vai trò và thực hiện chức năng của mỗi tổ chức. Tuy nhiên, trong Nhà nước pháp quyền XHCN đặt ra yêu cầu giải quyết được mối quan hệ giữa việc triển khai cương lĩnh, đường lối của Đảng với việc bảo đảm tính tối thượng của pháp luật, khắc phục tình trạng tuyệt đối hóa vai trò của đường lối, xem đường lối của Đảng là công cụ trực tiếp của quản lý Nhà nước, cũng như khắc phục được tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của pháp luật, vai trò của Nhà nước, từ đó dẫn đến tình trạng hạ thấp tầm chỉ đạo của đường lối, vai trò của Đảng cầm quyền.

 Dưới khía cạnh tổ chức, Đảng cầm quyền gần như “hòa tan” vào Nhà nước, nhưng dưới khía cạnh chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm, Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN vẫn tồn tại với tư cách là hai thực thể chính trị khác nhau. Vấn đề đặt ra là phải phân định thế nào cho đúng về chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của Đảng cầm quyền và của Nhà nước cũng như nhận diện thế nào cho đúng về mối liên hệ về thẩm quyền và trách nhiệm giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN.   

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền XHCN chịu sự kiểm soát của Đảng cầm quyền

Nhà nước pháp quyền XHCN phải chịu sự kiểm soát từ xã hội, trong đó Đảng cầm quyền là một chủ thể. Sự kiểm soát của Đảng cầm quyền đối với Nhà nước trong các xã hội có chế độ dân chủ và pháp quyền mang tính tất yếu và xuất phát chính từ vị trí cầm quyền cũng như tính chính đáng của Đảng cầm quyền. Để thực thi quyền lực của mình một cách có hiệu quả và đúng mục đích, Đảng cầm quyền phải thiết kế và thực thi các cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, buộc quyền lực nhà nước tuân thủ định hướng chính trị của Đảng cầm quyền, biến định hướng chính trị đó thành thực tiễn điều hành, quản lý của Nhà nước. Thực chất sự kiểm soát của Đảng cầm quyền đối với Nhà nước cũng là một cơ chế để nhân dân kiểm soát hoạt động của Nhà nước.

Thứ ba, Nhà nước pháp quyền XHCN chế ước tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền bằng pháp luật

Hệ thống thể chế điều chỉnh mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, gồm cả những thể chế quy định nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng trước Nhà nước phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tức là phù hợp với ý chí, lợi ích của nhân dân, dân tộc.

Nhà nước phải bảo đảm tất cả các thiết chế của xã hội đều tuân theo các nguyên tắc pháp quyền.

Ở nước ta, tính pháp quyền của quyền lực nhà nước trước hết được khẳng định ở sự thừa nhận nguyên tắc chủ quyền nhân dân và thiết kế các cơ chế bảo đảm cho quyền lực nhà nước luôn phục vụ nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đồng thời, xã hội cũng có cơ chế giám sát các thiết chế nhà nước trong việc thực thi quyền lực. Như vậy là có giám sát từ bên trong và từ bên ngoài hệ thống nhà nước. Đặc điểm thể hiện rõ nét nhất bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là sự lãnh đạo duy nhất và toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Hiến pháp năm 2013, tại Điều 4 đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 là bước tiến lập pháp quan trọng làm nền tảng cho việc đổi mới bộ máy nhà nước, củng cố chế độ pháp quyền của Nhà nước. Từ đó điều chỉnh mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong các bước phát triển tiếp theo của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.    

Từ nhận thức về quan niệm và nội dung mối quan hệ trên đây. Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN cần  thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục các nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Phân định rõ chức năng giữa Đảng và Nhà nước, từng bước xác định rõ nội dung, phạm vi, mức độ quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ đủ năng lực, trình độ và uy tín để thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị của Ðảng thông qua các hoạt động của Nhà nước pháp quyền.

Hai là, tiếp tục đổi mới quá trình thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành chính sách, pháp luật của Nhà nước và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ba là, tiếp tục thực hiện đồng bộ ba nhiệm vụ cải cách lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Cải cách lập pháp phải dựa vào chủ trương, đường lối của Đảng mà xây dựng thành chính sách, pháp luật để thực thi có hiệu quả chủ trương, đường lối đó; cải cách hành chính phải thực hiện tinh giản biên chế, thể chế hóa mối quan hệ giữa cấp ủy đảng với chính quyền, xác định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan chính quyền, cấp ủy đảng; cải cách tư pháp phải bảo đảm sự độc lập của Tòa án khi tuyên các bản án, tránh sự can thiệp trực tiếp từ các cấp ủy đảng trong hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm phán quyết khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, bảo vệ quyền con người.

Bốn là, thực hiện đổi mới cơ chế và nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước trên các lĩnh vực, tăng cường pháp chế XHCN, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, từng bước hoàn thiện và mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với tổ chức và hoạt động của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2014

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88

(2) Xem: Nguyễn Phú Trọng: Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.250

(3), (4) Xem: Nguyễn Thế Kiệt: “Mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 6-2006, tr.6, 7.

 

PGS,TS Trịnh Đức Thảo

Viện Nhà nước và pháp luật,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền