Trang chủ    Diễn đàn    Sự hài hòa, tương thích của pháp luật Việt Nam với công ước chống tra tấn (UNCAT)
Thứ hai, 30 Tháng 11 2015 17:01
2908 Lượt xem

Sự hài hòa, tương thích của pháp luật Việt Nam với công ước chống tra tấn (UNCAT)

(LLCT) - Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm của Liên Hợp quốc (UNCAT) được thông qua ngày 10-12-1984; là một trong 9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người.UNCAT có hiệu lực từ ngày 26-6-1987 sau khi được phê chuẩn bởi 20 quốc gia. Đến nay, UNCAT đã có 155 quốc gia tham gia ký kết. Ngày 7-11-2013 Việt Nam đã ký UNCAT và được Quốc hội phê chuẩn ngày 28-11-2014.

Việc ký kết, phê chuẩn Công ước có ý nghĩa quan trọng trong việc thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước ta cũng như thể hiện sự quyết tâm duy trì nền tảng đạo đức, pháp lý và văn hoá quyền con người đang được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp năm 2013; cho thấy nỗ lực của Việt Nam trong việc bảo vệ quyền con người,tạo cơ sở pháp lý quan trọng góp phần hiệu quả trong đấu tranh chống các luận điệu vu cáo, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Việc phê chuẩn Công ước này cũng tạo điều kiện để rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật có liên quan, cụ thể là quyền không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục con người cho phù hợp hơn với Công ước và các quy chuẩn chung của pháp luật quốc tế về quyền con người.

1. Khái quát chung về tra tấn trong UNCAT 1984

Theo Điều 1 UNCAT, tra tấn được hiểu là: bất kỳ hành vi cố ý gây ra sự đau đớn hoặc chịu đựng đối với một người về thể xác lẫn tinh thần, nhằm mục đích lấy những thông tin, sự thú tội từ người đó hay một người thứ ba; trừng phạt người đó về một việc mà người đó hay người thứ ba đã thực hiện hoặc nghi ngờ đã thực hiện; đe doạ hoặc ép buộc người đó hay người thứ ba; hoặc vì các mục đích khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi mà sự đau đớn hoặc chịu đựng đó được gây ra bởi hoặc với sự xúi giục của hoặc với sự đồng ý hoặc sự ưng thuận của một nhân viên chính quyền.

Khái niệm tại Công ước cho thấy “tra tấn” gồm ba yếu tố cơ bản: hành vi, chủ thể thực hiện và mục đích. Trong đó, về hành vi, tra tấn gồm: mọi hành vi cố ý gây đau đớn về thể xác hay tinh thầncho một người nhằm mục đích lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba; hành vi trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba đã thực hiện hay bị nghi ngờ đã thực hiện; hành vi đe doạ hay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc bất kỳ hành vi đối xử có tính chất phân biệt đối xử.

Về chủ thể thực hiện bao gồm: một công chức thực hiện hoặc do người khácthực hiện bởi sự xúi giục, đồng tình của một công chức.

Về mục đích: nhằm lấy thông tin hoặc lời thú tộitừ người đó hay một người thứ ba hoặc trừng phạt họ.

Với đặc trưng về hành vi, chủ thể, mục đích cho thấy tra tấn thường xảy ra trong quá trình bắt, tạm giữ, tạm giam và thi hành án phạt tù.

UNCAT 1984 gồm 4 nội dung cơ bản: (1) chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; (2) điều tra các cáo buộc và nghi ngờ tra tấn; (3) chống việc không chịu hình phạt bằng cách lên án tra tấn và đưa kẻ phạm tội ra pháp luật; (4) trao nạn nhân bị tra tấn quyền chữa trị hiệu quả và phục hồi đầy đủ.

UNCAT 1984 được xem là cơ sở pháp lý quan trọng nhất hiện nay về chống tra tấn, được sử dụng như một quy định tham chiếu chung trong luật nhân quyền quốc tế và luật hình sự quốc tế khi đề cập đến vấn đề tra tấn. Tuy nhiên, nó vẫn bị phê phán là đã loại trừ những đối tượng và hoàn cảnh mà hành động tra tấn được thực hiện bởi những thủ phạm “phi công chức”. Như vậy, ngoài thực hiện nghĩa vụ quốc tế, mỗi quốc gia dựa trên tinh thần nhân đạo và bằng biện pháp riêng biệt, cụ thể áp dụng tại quốc gia mình nhằm nỗ lực hơn nữa hoàn thiện pháp luật về quyền con người, loại trừ mọi hình thức tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm.

2. Mức độ hài hoà của pháp luật quốc gia đối với UNCAT 1984

Các văn bản pháp luật của Việt Nam có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với UNCAT(1)cho thấy Việt Nam có một hệ thống pháp luật về bảo vệ quyền con người nói chung và chống tra tấn nói riêng tương đối đầy đủ, phù hợp với những nguyên tắc và tiêu chuẩn chung của UNCAT.

Khoản 5 Điều 31 Hiến pháp 2013 khẳng định: “Những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự”, người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật.

Bộ luật Hình sự năm1999 quy định về tội dùng nhục hình và bức cung thể hiện mức độ hài hoà về một nội dung cơ bản được nêu trong UNCAT. Điều 298 quy định: “Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm; phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm; Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm”. Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định mức án cao nhất với tội dùng nhục hình là 7 năm nay nâng lên 10 năm, thể hiện chính sách hình sự Việt Nam trừng trị nặng đối với tội dùng nhục hình và phòng, chống có hiệu quả hơn các vi phạm nhân quyền trong tố tụng hình sự.

Đối với tội bức cung, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy địnhmức án cao nhất lên đến 10 năm (Bộ luật Hình sự 1985: 5 năm). Ngoài ra bộ luật quy định các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm nhằm bảo vệ có hiệu quả các quyền cơ bản của con người(2).

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có một số nhóm quy định liên quan đến việc chống lại tra tấn và đối xử vô nhân đạo, bao gồm:

- Nhóm các nguyên tắc trong tố tụng hình sự: tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4), bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6), bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân (Điều 7)...

- Nhóm các quyền của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, người bị tạm giam và người bào chữa. Trong đó có những quyền đặc biệt quan trọng trong việc hạn chế tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo như: trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội (Điều 10); quyền có mặt của người bào chữa khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can (Điểm a Khoản 2 Điều 58); quyền khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo... bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền gây ra (Điều 30); quy định về hợp tác quốc tế trong hoạt động tố tụng hình sự (Điều 36); dẫn độ và chuyển giao hồ sơ, tài liệu, vật chứng của vụ án (Điều 37).

- Nhóm các biện pháp tư pháp: quy định nội dung các nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan điều tra, điều tra viên, kiểm sát và toà án. Theo đó, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các cơ quan điều tra phải tuân thủ nghiêm nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm quyền con người; chống lại các hành vi tra tấn, trừng phạt hoặc đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục, bảo đảm đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và không để oan sai (Điều 12). Người tiến hành tố tụng không được dùng các biện pháp mớm cung, ép cung khi lấy lời khai, hỏi cung. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình trong quá trình điều tra, xét hỏi. Tuyệt đối không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội họ. Các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nêu trên phù hợp với Điều 15 của UNCAT(3).

- Về sự tham gia của luật sư trong vụ án hình sự: trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Đối với trường hợp tạm giữ người thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra phải xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do (Khoản 4 Điều 56).

Luật về thi hành án hình sự năm 2010được Quốc hội ban hành nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân(4), trong đó đề cập đến các nguyên tắc bảo vệ quyền con người trong thi hành án hình sự và các chế độ giam giữ, sinh hoạt, lao động, học tập, thanh tra, giám sát, khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự(5).

Luật Luật sư quy định về sự tham gia của luật sư trong các vụ án hình sự như: luật sư được cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa, thời gian tối đa là 3 ngày (tạm giam) và 24h (tạm giữ); trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Luật tương trợ tư pháp có quy định về vấn đề trao trả, chuyển giao người bị kết án, trong đó khẳng định không chuyển giao nếu có căn cứ cho rằng người bị kết án đó khi về nước mà mình mang quốc tịch để tiếp tục thi hành hình phạt có thể bị tra tấn, trả thù hoặc truy bức tại nước tiếp nhận (Khoản 1 Điều 51).

Như vậy, về cơ bản hệ thống pháp luật hiện hành này đã quy định tương đối đầy đủ các nội dung nhằm bảo vệ quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù khỏi các hành vi tra tấn theo tinh thần của Công ước. Hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam đã tương thích ở mức độ khá cao với UNCAT 1984.

3. Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong việc đưa UNCAT 1984 vào cuộc sống

Mặc dù hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có những quy định tương đối phù hợp với những nguyên tắc và tiêu chuẩn cơ bản của UNCAT 1984 nhưng vẫn cần tiếp tục sửa đổi, bổ sung để hoàn toàn phù hợp với những yêu cầu của Công ước. Một số điều cần được xác định như là những mục tiêu của quá trình cải cách tư pháp, và chỉ có thể thực hiện được một cách hoàn toàn trong khuôn khổ toàn diện của quá trình cải cách tư pháp.

Thứ nhất, Hiến pháp 2013 đã có quy định cụ thể về cấm tra tấn, Bộ luật Hình sự hiện hành của Việt Nam chưa hình sự hóa hết các hành vi theo khái niệm tra tấn của UNCAT 1984(6) mà chỉ dừng lại ở vấn đề liên quan như nhục hình, bức cung, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân. Hơn thế, khách thể của tội dùng nhục hình và tội bức cung chỉ trong phạm vi điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, chưa bao trùm một số hoạt động như: xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, tạm giữ, tạm giam, lấy lời khai của người làm chứng, bị hại... Đây là những giai đoạn có thể xảy ra các hành vi tra tấn. Đồng thời, tội bức cung chưa đủ phản ánh đầy đủ mặt khách quan của hành vi nguy hiểm: bắt, ép người bị tạm giữ, người làm chứng, bị hại khai sai sự thật - cấu thành vật chất. Trên thực tế xét xử khó phân biệt hành vi của tội dùng nhục hình với tội cố ý gây thương tích, tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người hoặc tội giết người.

Về vấn đề này, Việt Nam đã có lộ trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và xây dựng các dự án: Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật tạm giam, tạm giữ... là những văn bản quy phạm pháp luật có quy định liên quan đến chống tra tấn (theo dự kiến, lộ trình sửa đổi, bổ sung các bộ luật này và các văn bản nêu trên sẽ được tiến hành trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII và thực hiện trong năm 2015 và năm 2016). Lộ trình trên cần được tiến hành nghiêm túc, hiệu quả nhằm tiệm cận với tiêu chuẩn của pháp luật quốc tế.

Thứ hai, Bộ luật Tố tụng hình sự chưa quy định quyền được bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa đối với người bị bắt theo tinh thần của Hiến pháp 2013. Trên thực tế, giai đoạn điều tra là giai đoạn dễ xảy ra hành vi tra tấn nhất song các quy định về thủ tục bắt buộc cấp giấy chứng nhận bào chữa; quyền của người bào chữa khi cùng điều tra viên lấy lời khai của người bị tam giữ, tạm giam chưa thực sự tạo điều kiện để luật sư tiếp cận một cách nhanh nhất để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu hoàn thiện các quy định để bảo đảm không còn tình trạng lấy lời khai từ việc tra tấn, nhục hình hay bức cung dưới mọi hình thức. Đồng thời, các chứng cứ có được do bức cung, nhục hình, mớm cung sẽ không được sử dụng làm chứng cứ buộc tội trong mọi giai đoạn tố tụng.

Thứ ba, Luật thi hành án hình sự chưa quy định về nguyên tắc cấm hành vi tra tấn trong quá trình chấp hành án phạt tù; chưa có sự tách biệt giữa cơ quan điều tra với hệ thống các cơ quan quản lý trại tạm giữ, tạm giam. Do vậy, cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thi hành án hình sự năm 2010.

Thứ tư, về “chữa trị hiệu quả và phục hồi đầy đủ” đối với nạn nhân theo tinh thần của UNCAT chưa được quy định cụ thể trong Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Do vậy, cần quy định theo hướng đơn giản hoá các thủ tục xác định thiệt hại và yêu cầu bồi thường của nhà nước, đồng thời quy định xem xét bồi thường những thiệt hại cả trực tiếp và gián tiếp, cả về vật chất và tinh thần, qua đó bảo đảm nạn nhân bị tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục có thể được bồi thường một cách nhanh chóng và thỏa đáng.

Thứ năm, tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân về phòng, chống tra tấn:tăng cường giáo dục trong hệ thống các trường học; tăng cường giáo dục, đào tạo về quyền con người cho các cán bộ làm công tác điều tra, quản giáo, thi hành án hình sự và đội ngũ thẩm phán; kiên quyết trong việc giáo dục cán bộ, chiến sĩ về trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; đẩy mạnh công tác kiểm tra, hướng dẫn, chấm dứt hiện tượng bức, mớm cung, dùng nhục hình trong công tác bắt, giam giữ, điều tra xử lý tội phạm dưới bất kỳ hình thức nào.

Thứ sáu, tăng cường hoạt động giám sát xã hội và giám sát quyền lực của Quốc hội, Hội đồng nhân dân đối với hoạt động thực hiện quyền lực nhà nướccó khả năng dẫn đến hành vi tra tấn. Cần có các giải pháp quán triệt tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW về “tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp”. Bên cạnh đó,Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần tăng cường hoạt động giám sát, đóng góp ý kiến về những sơ hở, thiếu sót trong hoạt động điều tra tội phạm; tăng cường hoạt động kiểm sát điều tra, phát hiện các sai phạm, thiếu sót của điều tra viên, thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra để có biện pháp ngăn chặn, khắc phục kịp thời. Bên cạnh đó, cần tạo cơ chế kiểm soát mang tính độc lập, chặt chẽ giữa ban giám thị, cán bộ trại giam với các điều tra viên.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2015

PGS,TS Trương Thị Hồng Hà

Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền