Trang chủ    Diễn đàn     Hoàn thiện thể chế quản lý và phát triển các tổ chức xã hội ở nước ta
Thứ năm, 16 Tháng 3 2017 11:30
1119 Lượt xem

Hoàn thiện thể chế quản lý và phát triển các tổ chức xã hội ở nước ta

(LLCT) - Hệ thống các tổ chức xã hội ở nước ta bao gồm nhiều loại hình, gắn bó với Đảng và Nhà nước ở nhiều mức độ khác nhau, có những đóng góp khác nhau vào sự phát triển đất nước. Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải có thể chế đầy đủ hơn trong việc quản lý và phát triển với các tổ chức này.

1. Khái quát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay

Suốt chiều dài lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của các tổ chức quần chúng nhân dân đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã quy định công dân Việt Nam có quyền tự do tổ chức và hội họp. Đó là văn bản đầu tiên và cũng là luật cơ bản của Nhà nước, làm cơ sở xây dựng luật pháp và cụ thể hóa thành các văn bản dưới luật, nhằm quản lý hoạt động của các hội ở nước ta. Bước vào những năm đầu thời kỳ đổi mới, Nghị quyết 8B-NQ/HNTW ngày 27-3-1990 của Trung ương Đảng (khoá VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân chỉ rõ: Cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội, trong giai đoạn mới cần thành lập những tổ chức quần chúng đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân tương ái. Các tổ chức quần chúng được thành lập trên nguyên tắc, tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính được tổ chức trong từng địa phương hoặc có quy mô toàn quốc, không nhất loạt giống nhau. Các đoàn thể chính trị - xã hội cần chủ động xây dựng và tham gia vào các tổ chức nói trên, qua đó vận động quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Từ chỗ chỉ có khoảng 30 hội (chủ yếu là các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội), đến nay, các hội đã phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình, mở rộng phạm vi hoạt động. Tính đến hết năm 2014, cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động trên phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động ở phạm vi địa phương(1). Hệ thống các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay bao gồm: các tổ chức chính trị - xã hội (các đoàn thể nhân dân); các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp; các tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các tổ chức xã hội, nhân đạo.

Trước đây, các hội ở nước ta do nhiều tổ chức, cơ quan khác nhau quyết định thành lập, lãnh đạo và quản lý. Một số tổ chức do Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định thành lập (11 tổ chức); có tổ chức do Chủ tịch nước quyết định thành lập (2 tổ chức); khoảng 90 tổ chức do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; một số tổ chức do bộ trưởng các bộ, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định thành lập. Sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, các tổ chức có phạm vi hoạt động trong cả nước hoặc liên tỉnh do Bộ trưởng Bộ Nội vụ cấp phép thành lập; một số tổ chức do tổng hội, liên hiệp hội quyết định thành lập; các tổ chức có phạm vi hoạt động ở cấp tỉnh do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp phép thành lập.

Có thể hệ thống hóa các loại văn bản quy phạm pháp luật đã được Nhà nước ta ban hành liên quan tới việc quản lý và phát triển hội như sau:

Văn bản do Quốc hội ban hành: Điều 10 Hiến pháp năm 1946; Điều 25 Hiến pháp năm 1959; Điều 67 Hiến pháp năm 1980; Điều 69 Hiến pháp năm 1992; Điều 25 Hiến pháp 2013. Các bộ luật cụ thể hóa quy định của Hiến pháp ở lĩnh vực mà bộ luật điều chỉnh: Bộ luật Dân sự (2015) tại mục 2 (các loại pháp nhân), chương IV từ Điều 100 đến Điều 105; Bộ luật Hình sự (2015) tại Điều 129; Bộ luật Tố tụng Dân sự (2015) tại Điều 1; Luật Ngân sách nhà nước (2002) tại Điều 10; Luật Cán bộ, công chức (2008), tại Điều 4; Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;… Đặc biệt Luật về hội cũng đang trong quá trình soạn thảo, dự kiến được Quốc hội thông qua vào năm 2017.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành: Sắc lệnh số 52 ngày 22-4-1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định về lập Hội; Luật số 102-SL/L-004 ngày 20-5-1957 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định Quyền lập hội (hiện vẫn còn hiệu lực thi hành).

Chính phủ cũng ban hành nhiều văn bản quy định về tổ chức và hoạt động của  hội, nổi bật là: Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội; Nghị định số 148/2007/NĐ-CP ngày 25-9-2007 về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện; Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21-4-2010 quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; Nghị định số 30/2012/NĐ-CP ngày 12-4-2012 quy định về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện... Các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành hệ thống thông tư, quyết định, hướng dẫn, nhằm cụ thể hóa các văn bản pháp luật do Chính phủ ban hành. Hằng năm, các bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố thường xuyên bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện những quy định về tổ chức và hoạt động của hội trong phạm vi quản lý.

2. Một số nhận xét về thể chế quản lý các tổ chức xã hội ở nước ta hiện nay

Nhìn chung, hệ thống luật pháp điều chỉnh tổ chức và hoạt động của hội ở Việt Nam đã được xây dựng, bổ sung, cụ thể hóa, ngày càng được hoàn thiện. Quyền lập hội của công dân đã quy định trong Hiến pháp được tôn trọng, mở rộng và thể hiện chi tiết thành các quy định trong các văn bản luật và dưới luật có liên quan, làm cơ sở thực thi trong cuộc sống. Điều đó phản ánh nhận thức mới của Đảng, Nhà nước ta đối với quyền tự do của công dân và nhu cầu chính đáng về cuộc sống tinh thần, vật chất của các tầng lớp trong xã hội, các cộng đồng dân cư.

Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đối với các hội đang từng bước được đổi mới. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước được xác định, phân cấp rõ ràng để tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các tổ chức này hoạt động đạt hiệu quả. Đồng thời, Nhà nước cũng tăng cường hỗ trợ, phối hợp và khuyến khích các tổ chức có những hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng. Trên cơ sở đó, hệ thống các hội phát triển nhanh về số lượng, đa dạng về loại hình; không ít các chương trình, dự án đã được triển khai theo cách và theo kênh “ngoài nhà nước, phi chính phủ”, như các chương trình, mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, xóa đói, giảm nghèo và phát triển bền vững của Liên Hợp quốc. Cũng thông qua đó, nhiều hội ở nước ta đã thu được nhiều kinh nghiệm về tổ chức, hoạt động của các tổ chức nước ngoài và các tổ chức mang tính khu vực, toàn cầu. Do vậy hoạt động của nhiều hội ngày càng được xã hội ủng hộ và nhìn nhận với thái độ tích cực.

Tuy nhiên, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về tổ chức và quản lý hội vẫn còn thiếu một chiến lược tổng thể dài hạn và những sách lược cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn. Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ: Xây dựng các đạo luật về lập hội, biểu tình nhằm xác định rõ quyền, trách nhiệm của công dân trong việc thực thi quyền dân chủ và trách nhiệm của Nhà nước trong việc duy trì, bảo đảm kỷ cương, trật tự công cộng. Tuy nhiên, tới nay, Luật về hội vẫn đang trong quá trình xây dựng, chưa được ban hành. Nhiều quy định đã lạc hậu, không còn phù hợp, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung (điển hình là Luật số 102-SL/L-004 quy định về Quyền lập hội đã được 60 năm, nhiều điều không còn phù hợp với tình hình thực tế nhưng vẫn chưa được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế). Mặt khác, nhiều nội dung quy định “chồng chéo, mâu thuẫn” với nhau giữa các văn bản chỉ đạo của Đảng và văn bản quản lý của Nhà nước gây nên sự vận dụng và áp dụng khác nhau của không ít các cơ quan quản lý nhà nước hoặc thực thi pháp luật. Công tác quản lý nhà nước đối với các hội có sự tham gia của cá nhân, tổ chức người nước ngoài; các tổ chức (hội, đoàn) tôn giáo, tín ngưỡng… còn lúng túng, chưa thống nhất.

Bên cạnh đó, thủ tục thành lập hội hiện nay còn khá phức tạp, mất nhiều thời gian; các tiêu chí để chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn xin phép thành lập chưa cụ thể, rõ ràng. Quy định về phê duyệt điều lệ của hội khi đã được đại hội thành lập thông qua, hoặc điều lệ sửa đổi, bổ sung trong các đại hội theo nhiệm kỳ chưa thật sự hợp lý; thời gian chờ đợi phê duyệt thường kéo dài, gây khó khăn cho hoạt động của hội. Việc quy định các hội có tính chất đặc thù (theo quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01-11-2010 của Thủ tướng Chính phủ) được hưởng một số quyền lợi đặc thù như hỗ trợ kinh phí, biên chế, cơ sở vật chất… trong nhiều trường hợp có thể gây nên sự thiếu công bằng và dễ dẫn đến cơ chế “chạy - xin - cho”.

Tình trạng bị “quản lý kép” đối với một số hội hoạt động trên phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh vẫn đang diễn ra, đó là quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ và một bộ, ngành chủ quản, thậm chí là nhiều bộ chủ quản về mặt “chuyên môn”. Sự tham gia quản lý của các bộ chủ quản về chuyên môn là cần thiết, nhất là khi tổ chức tham gia cung ứng các dịch vụ công; song việc hài hòa giữa quản lý, giám sát, đồng thời vẫn bảo đảm khuyến khích các hội thực hiện chức năng của mình đang là một thách thức. Hiện nay vẫn còn tình trạng “buông lỏng quản lý hoặc bao biện, làm thay”, can thiệp quá mức vào công việc nội bộ của tổ chức; tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm vẫn chưa được tôn trọng thực sự. Chẳng hạn những quy định về việc nộp báo cáo tài chính định kỳ cho các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó phải giải trình các nguồn lực; tình hình tổ chức và hoạt động… là cần thiết, tuy nhiên, nếu sự “kiểm soát” vượt quá giới hạn sẽ làm hạn chế hiệu quả cung ứng các dịch vụ công hoặc làm mất đi tôn chỉ và mục đích của tổ chức là “tự nguyện, tự chủ, tự quản và tự trang trải”.

Chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước giúp cho không ít các tổ chức đi vào những lĩnh vực mới như tư vấn, giám sát, phản biện xã hội; bảo vệ thương hiệu, bản quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của thành viên trong các tranh chấp quốc tế… Tuy nhiên, hiện nay vẫn thiếu sự khuyến khích để các hội thực sự trở thành một “kênh”, một “lực lượng” tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt động của tổ chức. Trên thực tế, tiếng nói của các hội với cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn rất hạn chế do chưa có quy định cụ thể những loại chương trình, dự án, công trình nào, có quy mô lớn đến đâu, hay liên quan đến đời sống của bao nhiêu người dân… thì bắt buộc phải có ý kiến tư vấn, giám sát, phản biện của các tổ chức xã hội. Những ý kiến tham gia về cơ chế, chính sách hoặc các phản biện, khuyến nghị đối với các dự án, công trình không phải lúc nào và ở đâu cũng được các cơ quan chức năng xem xét đúng mức. Việc khó tiếp cận, thiếu thông tin cũng là một khó khăn nữa đối với các tổ chức xã hội để có thể thực hiện tốt chức năng tư vấn, giám sát và phản biện xã hội.

Nhìn chung, bên cạnh những thành tựu đạt được, hệ thống thể chế, pháp luật về hội ở nước ta còn không ít bất cập. Điều này đã được Bộ Nội vụ - cơ quan trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực hội chỉ ra: “Lĩnh vực công tác hội là một lĩnh vực đặc thù, mới mẻ, khác biệt so với các lĩnh vực quản lý nhà nước khác; do vậy, nhận thức và đánh giá về công tác hội, tổ chức phi chính phủ nói chung chưa thật tương xứng, phù hợp với vị trí hiện tại của công tác này. Bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về hội, tổ chức phi chính phủ còn hạn chế và bất cập; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hội vừa thiếu về số lượng, vừa bất cập về nội dung; chính sách khuyến khích, hỗ trợ hội tham gia vào công việc xã hội thiếu đồng bộ; việc phối hợp và phân công, phân cấp quản lý về hội chưa được xác định rõ; quy định về trình tự, thủ tục thành lập hội còn có những điểm chưa hợp lý; chưa có biện pháp kịp thời xử lý tình trạng một số hội hoạt động hình thức hoặc hành chính hóa hoạt động của tổ chức Hội”(2).

Tờ trình Dự án Luật về hội năm 2015 của Chính phủ trước Quốc hội cũng khẳng định việc tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về hội có nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau điều chỉnh. Trong quá trình thực hiện đã phát sinh nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập, không hợp lý như: chưa bao quát hết những vấn đề mới phát sinh trong tổ chức, hoạt động của hội, chưa có các quy định cụ thể về chế tài xử lý các vi phạm, tạm đình chỉ, thu hồi con dấu… Ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các tổ chức hội đặc thù hiện nay là quá lớn, không phù hợp với lộ trình tinh giản biên chế và nguyên tắc: tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự lo kinh phí, đi ngược lại với chủ trương xã hội hóa của Đảng và Nhà nước...

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên, cụ thể:

Một là, “cơ chế tập trung quan liêu bao cấp” sang cơ chế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế đã nảy sinh nhiều vấn đề mới phức tạp cần phải giải quyết. Cả phía quản lý nhà nước và bản thân các hội, nhất là các đoàn thể nhân dân đều tiếp cận những vấn đề mới mẻ một cách “thận trọng, rụt rè”, thậm chí lúng túng. Việc xây dựng hệ thống thể chế pháp luật nhằm tạo môi trường chính trị - pháp lý cho các hội hoạt động là việc phải nghiên cứu, thử nghiệm trong thực tiễn, do vậy chậm được triển khai và thực hiện.

Hai là, sự thay đổi trong tư duy, nhận thức của Đảng, Nhà nước và nhân dân về vị trí, vai trò của các hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế chưa bắt kịp với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và xu thế khách quan của thời đại. Mặt khác, so với các lĩnh vực chính trị, kinh tế thì thể chế về tổ chức và hoạt động của hội chưa phải là vấn đề được quan tâm, ưu tiên nghiên cứu để xây dựng và ban hành các quy phạm pháp luật. Bản thân các cơ quan chức năng làm công tác quản lý nhà nước vẫn còn “tư tưởng băn khoăn, e ngại, thậm chí thiếu niềm tin” vào các tổ chức, dẫn đến “chậm và ngại” hoàn thiện thể chế để các tổ chức này phát huy những giá trị tích cực vào phát triển chính trị - kinh tế - xã hội.

Ba là, thực tiễn cho thấy, không ít hội, nhất là các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân còn chậm đổi mới về nội dung và phương thức hoạt động, có xu hướng thụ động, “ỷ lại vào nhà nước” - phương thức hoạt động “bị hành chính hóa, nhà nước hóa”. Ngoài các tổ chức có tính chất đặc thù được hỗ trợ về nhân sự, biên chế, kinh phí hoạt động,... hầu hết các hội ở nước ta hiện nay đều thiếu các chuyên gia có kỹ năng hoạt động trong lĩnh vực này để có thể làm việc hiệu quả với các cơ quan, tổ chức và các đối tác tương ứng của Việt Nam và nước ngoài.

Bốn là, cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức làm công tác thực hiện pháp luật về hội thiếu sự tích cực, chủ động trong tổ chức thực hiện pháp luật về lĩnh vực này. Thậm chí không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương còn hạn chế về kiến thức pháp luật trong chính phạm vi nghề nghiệp, chức trách nên chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, dẫn đến việc giải quyết chậm trễ, thậm chí sai luật, gây ra những thiệt hại đáng tiếc. Trước khi có Nghị định 88/NĐ-CP năm 2003, công tác quản lý hội, tổ chức phi chính phủ tại các địa phương chưa được quan tâm đúng mức do chưa có sự phân cộng cụ thể tổ chức nào chịu sự quản lý nhà nước của sở ngành nào tương ứng; công tác phối hợp, hướng dẫn, kiểm tra tình hình hoạt động của hội trong việc chấp hành pháp luật và điều lệ tổ chức chưa được chặt chẽ và thiếu đồng bộ. Công tác thanh tra, kiểm tra về việc thực hiện pháp luật về hội của các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương đối với các bộ, ngành, địa phương còn nhiều hạn chế, thậm chí là hình thức và hời hợt,…

3. Phương hướng hoàn thiện thể chế quản lý và phát triển các tổ chức xã hội ở nước ta trong thời gian tới

Trong quan hệ giữa nhà nước pháp quyền với các hội, tính tối cao của pháp luật phải được bảo đảm, vì pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Do đó, dù mỗi hội đều có điều lệ riêng, trong đó có các quy định về tôn chỉ mục đích, nguyên tắc tổ chức và nội dung hoạt động đã được các thành viên, hội viên thống nhất; nhưng bất kỳ hội nào cũng đều phải hoạt động trong khuôn khổ luật pháp; điều lệ hoạt động của các tổ chức này phải được đăng ký và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo luật định. Trên cơ sở rà soát, đánh giá toàn diện, khách quan các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của hội; phân tích nhu cầu phát triển tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, hệ thống thể chế quản lý các hội ở nước ta cần được xây dựng dựa trên một số hướng như sau: 

Một là, thể chế quản lý và phát triển các hội phải góp phần cụ thể hóa cơ chế vận hành xã hội: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; đáp ứng nhu cầu tăng cường quản lý nhà nước, phát triển xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân theo hướng “ích nước, lợi dân”; phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; bảo đảm hài hòa  lợi ích giữa cá nhân, công dân, cộng đồng và xã hội. Đồng thời, phải đáp ứng nhu cầu dân chủ hóa xã hội; thích ứng với quá trình hội nhập các lĩnh vực của đời sống, khu vực và thế giới; kết hợp chặt chẽ giữa hình thức hội tự quản với quản lý bằng pháp luật của nhà nước; phát huy tính tự quản nhằm hạn chế và khắc phục tình trạng “hành chính hóa, nhà nước hóa”; đồng thời giám sát chặt chẽ, hạn chế tính tự phát hoặc lợi dụng danh nghĩa tổ chức, hội để “kinh doanh kiếm lời”, thậm chí vì mục đích không lành mạnh, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thể chế quản lý hội phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, truyền thống văn hóa và tình hình cụ thể của nước ta; giúp cho mỗi tổ chức phát triển lành mạnh, đúng hướng, tạo nên sự đồng thuận, ổn định trong xã hội.

Hai là, rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy định của pháp luật về hội, bảo đảm quyền thành lập (lập hội) của công dân theo Hiến pháp 2013; tăng cường quản lý nhà nước đối với các hội, tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động đúng hướng, có hiệu quả theo quy định của pháp luật và thực hiện đơn giản hóa thủ tục thành lập theo tinh thần cải cách hành chính. Kế thừa và bảo đảm tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật về hệ thống các hội và kinh nghiệm thực tế trong việc tổ chức, hoạt động và quản lý nhà nước về lĩnh vực này trong thời gian qua; tham khảo kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hội và tổ chức phi chính phủ ở một số nước trên thế giới.

Ba là, tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức, hội trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và hội nhập quốc tế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật về hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, khắc phục những tồn tại, vướng mắc. Bảo đảm để các tổ chức xã hội hoạt động theo các nguyên tắc: tự nguyện, tự quản; tự chủ, tự trang trải về kinh phí, dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch; tuân thủ hiến pháp, pháp luật và điều lệ của tổ chức. Không nhất thiết phải tổ chức hội thành hệ thống từ Trung ương tới cơ sở, tổ chức hoạt động ở cấp độ nào đặt dưới sự lãnh đạo, định hướng của cấp uỷ Đảng và quản lý nhà nước của chính quyền cấp đó. Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò, vị trí của các tổ chức này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; nâng cao tính tự nguyện, tự chủ; thực hiện hỗ trợ kinh phí theo nhiệm vụ được giao, tạo điều kiện để tổ chức hoạt động đúng hướng, tiết kiệm, có hiệu quả, góp phần phát triển đất nước và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Cần tổng kết những nghị quyết, chỉ thị của Đảng về lĩnh vực hội quần chúng. Qua đó, đánh giá khách quan, khoa học về vai trò của các hội ở nước ta; đồng thời, rà soát lại các chủ trương của Đảng đối với các tổ chức này. Đây cũng chính là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền rà soát lại các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan tới lĩnh vực hội, từ đó xây dựng chương trình tổng thể mang tính chiến lược hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về lĩnh vực tổ chức xã hội nói chung, hội nói riêng. Tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có Luật về hội. Chỉ có trên cơ sở một đạo luật chung cho các hội mới giảm được các văn bản quy phạm pháp luật về từng loại hình tổ chức, tăng tính hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về hội, tạo cơ sở đưa công tác quản lý và phát triển hội đi vào nền nếp. Tiến hành tổng kết theo chuyên đề về thể chế pháp lý đối với các hội, lấy đó làm cơ sở để sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật đối với các tổ chức này như: phân loại các hội; quy định chế độ nhân sự, chính sách tài chính; thể chế hóa việc tham gia thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước; thực hiện hoạt động tư vấn, giám sát và phản biện xã hội... Để hoàn thiện hệ thống thể chế pháp lý, bên cạnh việc tổng kết thực tiễn quản lý tổ chức và hoạt động của các hội ở nước ta, có thể tham khảo thêm kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đã đạt được nhiều thành công về lĩnh vực này.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2016

(1) Chính phủ: Tờ trình số 578/TTr-CP về Dự án Luật về hội, ngày 27-10-2015.

(2) Báo cáo Tổng kết công tác năm 2005 và phương hướng  hoạt động năm 2006 của Bộ Nội vụ

 

ThS Đỗ Văn Thắng

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác