Trang chủ    Diễn đàn    Khoan dung, độ lượng, vị tha - tinh thần cơ bản của một nền chính trị truyền thống Việt Nam
Thứ năm, 16 Tháng 3 2017 11:34
1005 Lượt xem

Khoan dung, độ lượng, vị tha - tinh thần cơ bản của một nền chính trị truyền thống Việt Nam

(LLCT) - Ở Việt Nam, từ thế kỷ X, tầng lớp thống trị phong kiến, với những liều lượng khác nhau đã tiếp thu tư tưởng chính trị Nho giáo. Họ tìm thấy trong Nho giáo một mô hình tổ chức xã hội, xây dựng chính quyền. Chính vì thế mà khi nước Việt Nam được tự chủ thì Hán học lại thịnh vượng hơn thời Bắcthuộc nhiều. Trước hết vì nhà nước phong kiến đã tìm được trong Nho giáo một ý thức hệ vững chắc để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị.

Tuy nhiên, từ thực tiễn chống Bắc thuộc và trước nguy cơ xâm lược luôn rình rập, giai cấp phong kiến Việt Nam đã ý thức được vai trò to lớn khác của dân. Vào cuối thế kỷ XIII, sau ba lần chiến thắng quân Mông - Nguyên, Trần Hưng Đạo đã chỉ ra nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi đó là: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức”. Giai cấp phong kiến muốn là người đại diện chân chính cho dân tộc thì phải “sâu rễ bền gốc” trong dân và trong dân tộc. Muốn thế, chính quyền phải gần dân, thân dân, khoan dân, hạn chế quan liêu, chuyên quyền độc đoán, kết hợp mềm dẻo giữa nhà nước và làng xã, giữa “phép vua” và lệ làng, giữa cái chính thống và cái dân gian, giữa nhà nước và xã hội.

Khoan dung, độ lượng, vị tha, thương người chính là tinh thần cơ bản của một nền chính trị thân dân, tạo nên sức mạnh của cộng đồng dân tộc trong dựng nước và giữ nước. Đã yêu nước thì phải yêu dân. Và đã gắn bó với dân thì tự nhiên nảy sinh lòng tự hào dân tộc

Khúc Hạo (907 - 917) là nhà cải cách đầu tiên ở thế kỷ X. Nối nghiệp cha và nối chí cha của mình là Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo đã đảm đương một cách tài giỏi trọng trách củng cố nền tự chủ còn non trẻ của Việt Nam. Khúc Hạo đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng về các mặt. Đường lối chính trị chung của Khúc Hạo được tóm tắt ngắn gọn, song rất rõ ràng như sau:

 “Chính trị cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Khoan dung, tức là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với dân, chống bọn tham quan ô lại, một tệ nạn lớn của thời Bắc thuộc. Giản dị, là không làm phiền hà, nhiễu dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu. Yên vui, “an cư lạc nghiệp” là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi xóm làng.

Đó là một đường lối chính trị thân dân. Từ đó, Khúc Hạo đã sửa đổi lại chế độ điền tô, thuế khóa và lực dịch nặng nề của thời thuộc Đường. Ông ra lệnh “bình quân thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho giáp trưởng (quản giáp) trông coi”. Vì nhu cầu của công cuộc xây dựng nền tự chủ, thống nhất đất nước, Khúc Hạo đã biết khoan dung với dân, phát huy sức mạnh của dân. Ông hiểu rằng chăm lo xây dựng bồi dưỡng sức dân tức là chăm lo xây dựng nền tảng độc lập của dân tộc.

Kỷ nguyên Đại Việt cho đến giữa thế kỷ XV, đường lối chính trị của các triều đại vẫn theo cương lĩnh bốn chữ: “Khoan - Giản - An - Lạc”, phát triển dưới hai định hướng: “Dân tộc” và “Thân dân”.

Các chính sách kinh tế - xã hội của các vua thời Lý tỏ ra rất uyển chuyển, thoáng mở, chưa tương ứng với một thể chế quân chủ tập quyền tuyệt đối. Cũng giống như lời khuyên khôn ngoan của sư Pháp Thuận với triều đình Tiền Lê trước đó “Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh”, các vua Lý đã chủ trương một đường lối cai trị thấm đượm tinh thần Phật - Đạo, đó là hạn chế thấp nhất sự can thiệp của nhà nước vào đời sống của nhân dân, để cho họ tự lo liệu, giải quyết lấy những vấn đề cuộc sống của chính bản thân họ. Lý Thái Tông, một mặt tuy vẫn kiên quyết trấn áp những cuộc phản loạn trong triều đình cũng như ngoài biên ải, vẫn đề cao một chính sách an dân dẫn ra từ đời Nghiêu Thuấn: “Thuỳ y củng thủ nhi thiên hạ đại trị” (rủ áo khoanh tay mà thiên hạ thái bình).

Trong xã hội thời Lý, dưới cái khung bao trùm của một thể chế quân chủ tập trung, là cộng đồng các làng xã còn đậm tính tự trị, tự quản. Nó tạo nên thế đối trọng tập quyền - tản quyền, nhà nước - dân gian. Ở đó, chế độ ruộng công do làng xã tự chia vẫn còn chiếm ưu thế, sự phân tầng thứ bậc trong làng xã vẫn dựa vào “thiên tước”, theo tuổi tác, vai trò của tầng lớp bô lão hương ấp được nể trọng; dân chúng vẫn sống một cuộc sống tự nhiên, tự tại, theo các phong tục cổ truyền, thờ cúng tổ tiên, lên chùa lễ Phật. Nho giáo thời Lý, nếu đã có một chỗ đứng trong tầng lớp trí thức ưu tú, thì ảnh hưởng của nó trong làng xã còn rất loãng nhạt.

Đối với chính sách kinh tế hàng hóa dân gian, các vua Lý vẫn chưa có chính sách kiểm soát ngặt nghèo, mà để cho tự do phát triển. Nhà nước cũng chưa thi hành chính sách bế quan tỏa cảng đối với ngoại thương, thay vào đấy là một chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế khu vực (qua việc thành lập các bạc dịch trường vùng biên, lập trang Vân Đồn buôn bán với các thuyền buôn Trung Quốc và các nước Đông Nam Á).

Xã hội thời Lý là một xã hội mở, khai phóng, nhân văn và nhân bản. Trong đó tinh thần khoan dung và tư tưởng hiếu sinh Phật giáo (một hình thức của quyền sống, quyền con người) được tôn trọng ở một mức độ cao. Biên niên sử Việt Nam chép nhiều việc các vua Lý đi thăm dân, xem xét mùa màng, miễn giảm tô thuế, lấy của cho chuộc đàn bà con gái vì nhà nghèo phải đem thân đi ở thế nợ; giảm nhẹ các hình phạt. Phan Huy Chú đã nhận xét: “Hình của nhà Lý lỗi ở khoan rộng”(1) . Lý Thánh Tông (1065) tuyên bố: yêu dân như con; nhiều vị thiền sư khuyên vua Lý gần dân, theo đường lối an dân. Vì vậy, 216 năm dưới triều Lý dường như không có khởi nghĩa nông dân.

Nhà nước Đại Việt Trần, cũng như Đại Việt Lý - là quân chủ Phật giáo hay đúng hơn là đặt trên ý thức hệ tam giáo, với đường lối tư duy và hành động khoan dung. Giáo sư Đặng Thai Mai có nhận xét: “Nét đặc biệt rõ ràng trong đời sống Việt Nam ở giai đoạn này là sự giản dị trong quan hệ giữa con người với con người. Giữa vua quan với nhân dân, sự cách biệt còn chưa đến nỗi quá gay gắt, “cách trùng”. Một nhà vua nổi tiếng anh minh là TrầnNhân Tông đã nhiều lần nhắc nhở con cháu mình chớ nên quên rằng tổ tiên họ xưa kia cũng chỉ là những người dân đen (chài cá). Từ cung điện ở phủ Thiên Trường, nhà vua vui lòng ngắm cảnh thôn quê và lắng nghe tiếng sáo của các em bé chăn trâu đi dọc theo con đường làng bên bờ ruộng, nơi hai cái cò trắng vừa tà tà hạ cánh...”(2).

Giáo sư Mỹ O.W. Wolters, chuyên gia lớn về thời Trần của Đại học Cornell (Mỹ) đã khái quát: “Thời Trần, chính quyền kiểm soát dân chúng hơn là cai trị dân chúng”(3).

Chính vì theo đường lối nới sức dân, khoan dung với người dưới mà triều Trần ba lần đại thắng xâm lược Mông - Nguyên (1258, 1285, 1288). Trần Hưng Đạo khuyên vua “nới sức dân/khoan dân là thượng sách giữ nước”. Quốc sư Trúc Lâm khuyên vua Trần “lấy ý thích của dân làm ý thích của mình, lấy lòng dân làm lòng mình”. Người dưới có lỗi, các vua Trần thường nhận là do lỗi của mình trước, xét xử đầy khoan hậu, ít nghiêm khắc. Xe vua gặp các gia nô nhà vương hầu, thường dừng lại hỏi han, không cho vệ sĩ nạt nộ họ. Đám tang vua, quần chúng hàng vạn người tràn cả vào hoàng cung xem lễ, nhà Trần không dùng chế độ cảnh sát để giải tán quần chúng mà cho quân sỹ phân thành từng nhóm ca hát để thu hút họ, do đó làm dãn bớt đám đông v.v..

Từ thời Đinh, Phật giáo được chính thức thừa nhận làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho nhà vua và dân chúng, cho chính sự nói chung. Rất nhiều thiền sư tham gia chính sự tuy không tham gia chính quyền. Sư bàn cả việc quân sự, khuyên vua đánh Tống, bình Chiêm.

Trước thời hậu Lê (từ thế kỷ XV về trước) triều đình Đại Việt biết dung hợp cả ba ý thức hệ Phật, Đạo, Nho. Các vua đầu đời Trần, từ Thái Tông đến Anh Tông, đều có căn bản vững chắc về Phật học. Thiền phái Trúc Lâm ra đời và phát triển mạnh, có tính dân tộc. Dưới sự chi phối của tinh thần dân tộc, của hệ tư tưởng yêu nước, Phật giáo đời Trần cũng mang tính cách “nhập thế” mạnh. Phật, Nho, Đạo đều phụng sự cho đời sống, đời sống tâm linh giải thoát cũng như đời sống xã hội thực tiễn. Cũng do nhu cầu cố kết nhân tâm và hòa hợp dân tộc, cũng như thời Lý, tam giáo vẫn thịnh hành cùng với những tín ngưỡng dân gian khác. Vua tu thiền nhưng các con vua có thể không tu thiền, theo Đạo hoặc mở trường học Nho. Tinh thần khoan dung và tự do vẫn chi phối. Cũng như thời Lý, thời Trần không chỉ “thi Nho mà thi cả tam giáo”.

Cạnh văn là võ. Cái tinh thần cơ bản của thời Lý, Trần vẫn là tinh thần thượng võ. Tuổi trẻ thời Trần, từ quý tộc đến bình dân phần nhiều chuộng võ dũng. Lê Quý Đôn - nhà bác học Việt Nam thế kỷ XVIII hết lời ca ngợi: nhà Trần đãi ngộ nhân tài một cách khoan dung, cởi mở, cẩn trọng, lễ phép cho nên nhân sỹ thời ấy ai ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn kiệt vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất, há phải đời sau kịp được đâu! (Kiến Văn tiểu lục) (4).

Văn hóa thời Lý, Trần là nền văn hóa dân tộc, độc lập. Chữ Nôm ra đời, một nền văn học nôm hình thành và bước đầu phát triển. Những bộ sử đầu tiên của dân tộc ra đời. Thần thoại và truyện cổ dân gian được sưu tầm và biên soạn thành sách và cho in ấn.

Sinh hoạt văn hóa cung đình vẫn mang đậm tính chất dân gian, đậm đà chất Đông Nam Á: đấu vật, đua thuyền, hát chèo, rối cạn, rối nước... Vua tôi dang tay nhau mà hát, sau những buổi tiệc ở nội điện. Phong tục cung đình vẫn được khen là giản dị chất phác. Trong nhân dân, sinh hoạt văn hóa thời Lý, Trần diễn ra quanh trung tâm chùa tháp (Phật) và đền, miếu (Đạo). Văn hóa xóm làng thấm đượm tình người. Sử sách thời này còn ghi lại những tập tục như: “Đêm trừ tịch (30 tháng Chạp), con gái, con trai nhà nghèo, trong năm không có đủ tiền sắm đồ sính lễ, cứ việc lấy nhau”. Mùa xuân trai gái tự do họp bạn, hát múa giao duyên, tung còn, hát phết, “ưng ý nhau thì lấy nhau, mẹ cha không ngăn cấm”.

Quan hệ cha con trong thời Trần thì quả là thắm thiết, như thể chế Thái thượng hoàng (chế độ hai vua) bảo đảm hoạt động tập thể ở vị trí tối cao của quyền lực. Thượng hoàng là người kèm cặp vua, nhưng không phải chỉ là người kèm cặp mà là người cùng xử lý việc nước với vua (ngay cả khi vua đã khôn lớn). Sử ghi lại nhiều hành động chí hiếu của các vua quan Trần đối với cha mẹ. Chữ hiếu được tôn trọng theo hướng tích cực của nó, không lấy sự lạm dụng chữ hiếu để đi đến những hành động sai lầm.

Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín theo Nho giáo chưa từng được trực tiếp đề cập trong các văn kiện thời Trần. Tuy nhiên, những hành động nhân nghĩa lại khá nhiều. Vua thương yêu người thuộc hạ, người cơ hàn nghèo khổ, tổ chức phát chẩn, cứu đói, giải phóng một phần con nợ... Gia nô trung thành với chủ như Yết Kiêu, Dã Tượng v.v... là điều không lạ trong thời nhà Trần.

Nhà vua trong kết cấu đẳng cấp thời Lý, Trần đã giữ một vai trò đặc biệt quan trọng như “Mặt trời, Mặt trăng” nhưng có thể thấy lúc này, vua quan vẫn chưa trở thành những đẳng cấp cách biệt, xa lạ với nhân dân. Tinh thần khoan dung được thể hiện trong các chính sách và đường lối trị nước thời Trần, trong các mối quan hệ giữa vua, quan - dân là nét đặc sắc của văn hóa chính trị Việt Nam trong kỷ nguyên Đại Việt. Tinh thần này đã được Nguyễn Trãi kế thừa và thể hiện rất sâu sắc trong đường lối chính trị nhân nghĩa - đỉnh cao của tư tưởng dân tộc thế kỷ XV.

Ra đời trong một gia đình Nho học yêu nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ người cha và ông ngoại, Nguyễn Trãi rất sớm nổi danh. Không chỉ dừng lại ở Nho giáo, Nguyễn Trãi đã tiếp thu toàn bộ kiến thức đương thời, am hiểu giáo lý Phật và tư tưởng Lão Trang... Nhưng điều quan trọng là kiến thức của ông đã được bổ sung từ di sản văn hóa quý báu của dân tộc qua hàng nghìn năm dựng nước. Nguyễn Trãi hiểu biết rất sâu sắc về đất nước Việt Nam trên nhiều mặt: lịch sử, địa lý, nghề nghiệp, phong tục tập quán. Ông còn có cuộc sống rất gần gũi với nhân dân lao động ngay từ thuở nhỏ và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Những điều kiện đó đã đưa Nguyễn Trãi vượt lên trên tất cả những nhà Nho đương thời. Khác với họ, Nguyễn Trãi là một nhà Nho sáng tạo, luôn suy nghĩ và hành động vì dân, vì nước, kết tinh được những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc. Chính vì vậy tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi mang tính khái quát và có một ý nghĩa xã hội rộng lớn. Từ quan điểm chính trị đến đạo đức, lối sống cũng như bổn phận, tinh thần trách nhiệm của con người trong gia đình và đối với xã hội. Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi vượt lên trên những quan niệm về đạo nhân, nghĩa của Nho giáo thuần phong kiến, đạt tới những giá trị văn hóa có tính phổ biến của nhân loại, có ý nghĩa phương pháp luận cho suy nghĩ và hành động của nhiều thế hệ người Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và hạnh phúc của mình. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn góp phần vào cuộc đấu tranh vì hòa bình hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy, tư tưởng của Nguyễn Trãi cùng với con người ông luôn luôn gần gũi, hiện diện với chúng ta, vượt lên trên cả thời gian và không gian, rạng rỡ ra ngoài bờ cõi nước ta.

Trước hết, Nguyễn Trãi gắn nhân nghĩa với “an dân”, “việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Theo ông, nhân nghĩa là chăm lo cho dân, đòi hỏi người làm quan ăn lộc vua phải có trách nhiệm với dân, phải gắn bó làm một với nhân dân, thương yêu dân, biết “lo trước vui sau” để cho những nơi “thôn cùng xóm vắng không có tiếng hờn giận oán sầu”(5).

Từ nhận thức sâu sắc về quốc gia dân tộc, tư tưởng chính trị nhân nghĩa của Nguyễn Trãi nêu cao tinh thần tự chủ, giữ gìn chủ quyền quốc gia của dân tộc đồng thời kiên quyết chống nô dịch và áp bức dân tộc, thể hiện lòng yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị đối với các nước khác. Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi cũng bao hàm mối quan tâm đến cộng đồng nhân loại, nêu cao ngọn cờ chính nghĩa, khoan dung độ lượng ngay cả đối với kẻ thù ngoại bang, khi quân giặc đã ra hàng thì “tội lớn tội nhỏ đều tha hết”, “mở lượng hiếu sinh”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”.

Trong Bình Ngô đại cáocũng như trong các văn kiện ngoại giao, địch vận, Nguyễn Trãi thường đề cao chính nghĩa, đề cao nhân ái, coi như nguyên tắc của đường lối đánh giặc trị nước. Tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha của Nguyễn Trãi là kết tinh truyền thống lâu đời của dân tộc, một nét đặc thù của văn hóa Việt Nam thời Lam Sơn khởi nghĩa. Tinh thần này chịu ảnh hưởng chủ yếu từ Phật giáo, của nông dân làng xã và có từ trước khi Nho giáo vào Việt Nam. Chúng ta thấy Nguyễn Trãi đã nói rõ điều này trong những chiếu, chỉmà ông viết dưới danh nghĩa Lê Lợi: “Ngày nay thành công là do Hoàng thiên giúp đỡ mà Tổ tiên của trẫm tích đức tích nhân cũng ngấm ngầm phù hộ, nên mới được thế này”. Tu nhân tích đức, đây đúng là tư tưởng của Phật giáo. Khi biểu dương đức độ của Tổ tiên Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã nói rất nhiều đến nhân đức kiểu Phật giáo đó: “Tổ của vua tên húy là Đinh... tính hiền hòa, hay vỗ về dân chúng, khoan nhân và thương người... Khoáng là thân phụ của vua hiền lành, hay làm việc thiện...”.

Trước Nguyễn Trãi một trăm năm, vua Trần Minh Tông, trong bài thơ Nghệ An hành diện đã viết như sau:

                                              Sinh dân tận thị ngã bào đồng

                                              Tứ hải hà tâm sứ khốn cùng.

                                              (Hết thảy dân sinh đều là anh em cùng là một bọc mẹ của ta

                                               Nỡ lòng nào để cho bốn biển phải khốn cùng).

Vua Trần đã coi muôn dân đều là anh em của mình, khác hẳn với trật tự đẳng cấp của phong kiến Trung Quốc, nơi mà nhà vua tự xưng là “Thiên tử”, là “con trời”. Ở nước ta, các triều đại Lý, Trần đang trong quá trình Nho giáo hóa nhưng quan niệm về “con trời” không thể thống trị một cách tuyệt đối trong xã hội nước ta. Và sức mạnh của truyền thống Việt, của truyền thống cộng đồng vốn được đúc kết trong sự tích Cha Rồng Lạc - Mẹ Tiên Âuđã khiến cho cả nhà vua cũng không tự đặt mình quá cao so với dân chúng. Truyền thống cộng đồng, một trong những cơ sở quan trọng của ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước, có sức mạnh mà chế độ đẳng cấp phong kiến phiền toái và khắc nghiệt từ Trung Quốc truyền sang từ hàng nghìn năm cũng không lấn át nổi.

Lòng tương thân tương ái, lòng “thương người như thể thương thân”, đó là một tình cảm cao đẹp có từ lâu đời, là một trong những truyền thống của nhân dân ta. Tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha của Nguyễn Trãi đã làm sâu sắc thêm chủ nghĩa nhân đạo Việt Nam. Qua những thư từ gửi cho các tổng binh, đô đốc và tướng lĩnh nhà Minh, Nguyễn Trãi luôn luôn kêu gọi chúng mau chóng giảng hòa để quân lính hai bên “đỡ chết chóc”, để “nhân dân hai nước đỡ đau khổ”.

Tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha của Nguyễn Trãi nổi bật qua hành động sáng ngời kim cổ là quân ta đã tha chết cho 10 vạn tù binh và tổ chức cho bọn chúng về nước. Tha chết và đối xử tử tế với những kẻ đã bao năm trời đốt phá nhà cửa, tàn sát anh, em, vợ, con mình, Nguyễn Trãi coi đó là một việc làm cao cả xưa nay chưa từng có. Cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta kết thúc vẻ vang bằng lễ Hội thềngày 10 tháng Chạp năm 1427. Chủ tướng Vương Thông cùng toàn bộ tướng lĩnh, quan lại cao cấp của địch đều có mặt để cùng nhau thề truớc núi sông Việt Nam là thực lòng chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước.

Tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha thực sự là sức mạnh phi thường, nó không chỉ góp sức dẹp yên binh loạn mà còn quy phục được lòng người, đánh tan được dã tâm đen tối của kẻ thù xâm lược. Tư tưởng nhân nghĩa ấy là một biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước sâu sắc, đồng thời là một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo rộng lớn.

Tư tưởng chính trị nhân nghĩa của Nguyễn Trãi bao hàm mối quan tâm sâu sắc đến lợi ích của đất nước Đại Việt, nhân dân Đại Việt, cũng chính là đức hiếu sinh- khoan dung, độ lượng, vị tha và do đó bao hàm lòng yêu chuộng hòa bình và tinh thần hữu nghị đối với lân bang.

Trong lịch sử hiện đại của dân tộc, đặc biệt là trong các cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, bảo vệ Tổ quốc, tinh thần khoan dung, độ lượng, vị tha càng được phát huy và có tác dụng to lớn, góp phần làm nên những thắng lợi vĩ đại. Nếu như trước đây, khi kẻ thù đầu hàng và quy phục, ông cha ta không giết, mà còn cấp ngựa, cấp thuyền và lương ăn cho kẻ bại trận lui về nước, thì trong lịch sử cận - hiện đại, với kẻ thù mới là chủ nghĩa thực dân và đế quốc phương Tây có sức mạnh vượt trội so với kẻ thù truyền thống - âm mưu của kẻ thù là xảo quyệt, sự tàn phá là vô cùng tàn ác đối với nhân dân; nhưng ngược lại, Chính phủ và nhân dân ta lại hết sức khoan dung, độ lượng, vị tha đối với kẻ thù khi chúng đã là kẻ bại trận.

Năm 1997, cộng đồng quốc tế phát động năm Khoan dung quốc tế.Ngày 8-9-2000, Liên Hợp quốc ra Tuyên bố Thiên niên kỷ, trong đó cho rằng, lòng khoan dung là một trong những giá trị cơ bản không thể thiếu trong quan hệ quốc tế trong thế kỷ XXI và nó phải bao gồm cả việc tích cực thúc đẩy nền văn hóa hòa bình và đối thoại giữa các nền văn minh, với những con người tôn trọng lẫn nhau, trong sự đa dạng về tín ngưỡng, văn hóa và ngôn ngữ của các dân tộc - những con người không lo ngại hoặc kiềm chế những khác biệt trong nội bộ xã hội và giữa các xã hội với nhau, mà trái lại, trân trọng sự khác biệt đó như là một tài sản quý giá của nhân loại(6).

Đối với Việt Nam, sự kiện này không xa lạ, bởi vì truyền thống của người Việt Nam là khoan dung. Khoan dung của dân tộc Việt Nam không chỉ thể hiện trong chính trị mà cả trong quân sự, ngoại giao, trong các hoạt động kinh tế, xã hội và trong ứng xử hàng ngày. Khoan dung là phẩm chất phổ biến của dân tộc Việt Nam, nó cũng là giá trị văn hóa chính trị đặc sắc, có thể nói là hiếm thấy trong các nền chính trị thế giới.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2016

(1) Phan Huy Chú:Lịch triều hiến chương loại chí, t.3, Nxb Sử học, Hà Nội, 1961, tr.94.

(2) Thơ văn Lý Trần,t.1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977, tr.35 - 38.

(3) Xem O.W. Wolters, Two essayys on Dai Viet in the fouteconth century(hai tiểu luận về Đại Việt thế kỷ XIV) Yule for international and area studies The Lac Viet series No 9 - 1998.

(4) Triều Trần, người giỏi xuất hiện nhiều, cả văn lẫn võ. Võ tướng có tài, từ các nhà quý tộc như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, thượng tướng Trần Quang Khải, vương tước Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư đến các người bình dân như Điện súy Phạm Ngũ Lão, gia nô như Yết Kiêu, Dã Tượng... Văn có nhiều “thần đồng”: Nguyễn Hiền 12 tuổi đậu trạng nguyên, Nguyễn Trung Ngạn 12 tuổi là thái học sinh, 16 tuổi đỗ hoàng giáp, nhà sử học lớn Lê Văn Hưu 17 tuổi đỗ bảng nhãn.

(5) Đại Việt sử kýtoàn thư, t.3,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1972, tr.113.

(6) Hội nghị khu vực châu Á - Thái Bình dương về đối thoại giữa các nền văn hóavà văn minh vì hòabình và phát triển bền vững (Hà Nội, 20 - 21-12-2004), Tài liệu tham khảo,tr.2.

 

PGS, TS Nguyễn Hoài Văn

 Viện Chính trị học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác