Trang chủ    Diễn đàn    Một số vấn đề về hội và quản lý nhà nước đối với hội ở nước ta hiện nay
Thứ tư, 26 Tháng 4 2017 11:31
2170 Lượt xem

Một số vấn đề về hội và quản lý nhà nước đối với hội ở nước ta hiện nay

(LLCT) - Ở nước ta hiện nay, hội phát triển khá đa dạng và phong phú. Đến cuối năm 2014, cả nước có 52.565 hội. Những năm gần đây, mỗi năm có khoảng 10 hội có phạm vi hoạt động toàn quốc được thành lập. Công tác quản lý nhà nước về hội được đổi mới: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hội tương đối đầy đủ và tiếp tục được bổ sung, cụ thể hóa; hoạt động quản lý nhà nước đổi mới theo hướng tạo điều kiện cho các hội thành lập đúng quy định và hỗ trợ hội hoạt động. Tuy vậy, hiện nay vẫn còn một số hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hội. 

Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hội là: rà soát và xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hội, trước hết là Luật về hội; tăng cường tính tự chủ, tự quản và phát huy vai trò của hội trong phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về hội; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về tổ chức, hoạt động của các hội; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đối với hội.

1. Khái quát về thực trạng tổ chức, hoạt động của hội

Hội là tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức cùng ngành nghề, sở thích, giới,... có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các hội có quy mô và phạm vi hoạt động khác nhau, có tổ chức thành hệ thống trong cả nước, ở các địa phương hoặc tham gia tổ chức quốc tế tương ứng; có tổ chức chỉ hoạt động ở phạm vi địa phương hoặc địa bàn dân cư.

Hội ở nước ta hiện nay phát triển khá đa dạng và phong phú với nhiều tên gọi như hội, liên hiệp hội, đoàn, liên đoàn, ủy ban, câu lạc bộ. Nhiều hội chuyên ngành hoạt động trong cùng lĩnh vực hợp lại thành liên hiệp các hội; nhiều hội chuyên ngành hẹp hợp thành tổng hội. Tùy theo đặc điểm, tính chất tổ chức và hoạt động, các hội được phân thành hội có tính chất chính trị - xã hội và chính trị - xã hội - nghề nghiệp; hội xã hội - nghề nghiệp; hội xã hội, từ thiện, nhân đạo; hội của các tổ chức kinh tế; các hội có tính chất đặc thù...

Nhận thức rõ tính tất yếu khách quan của việc hình thành các hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền, Đảng ta đã đề ra quan điểm chỉ đạo nhất quán:  “Cùng với các đoàn thể chính trị - xã hội, trong giai đoạn mới cần thành lập những tổ chức quần chúng đáp ứng nhu cầu chính đáng về nghề nghiệp và đời sống của nhân dân, hoạt động theo hướng ích nước, lợi nhà, tương thân, tương ái.Các tổ chức quần chúng được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản và tự trang trải về tài chính được tổ chức trong từng địa phương hoặc có quy mô toàn quốc, không nhất loạt giống nhau”(1).

Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của các hội sau 25 năm đổi mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Hội lập ra phải xuất phát từ nhu cầu chính đáng của quần chúng nhân dân, theo đúng quy định của pháp luật; không nhất thiết phải tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến cơ sở. Hoạt động của hội theo nguyên tắc chung là: tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, tuân thủ pháp luật và điều lệ hội. Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho hội căn cứ vào hoạt động và việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể do Đảng, Nhà nước giao”(2).

Trước năm 1986, cả nước chỉ có gần 30 hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc. Năm 1990 có khoảng 100 hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc, 300 hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Năm 2002, có 240 hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc, 1.450 hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo Tờ trình Dự án Luật về Hội tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII, tính đến tháng 12-2014, cả nước có 52.565 hội (483 hội hoạt động trong phạm vi cả nước và 52.082 hội hoạt động phạm vi địa phương), trong đó có 8.792hội có tính chất đặc thù (28hội hoạt động phạm vi cả nước và 8.764 hội hoạt động phạm vi địa phương).Trong những năm gần đây, mỗi năm có khoảng trên 10 hội, hiệp hội có phạm vi hoạt động toàn quốc được cấp phép thành lập.

Về biên chế, ở cấp Trung ương, hiện có 28 hội được Nhà nước giao biên chế, gồm các hội được công nhận là có tính chất chính trị - xã hội hoặc chính trị - xã hội - nghề nghiệp và một số hội được giao nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước (hội có tính chất đặc thù) với 674 biên chế (năm 2003 có 400 biên chế). Ở địa phương, có 8.736 hội được cấp có thẩm quyền công nhận là hội đặc thù và số biên chế được giao là 6.771.

Tùy tính chất và khả năng, các hội ngày càng phát huy vai trò, đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều phương diện: tập hợp, phản ánh yêu cầu, nguyện vọng cũng như bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của quần chúng nhân dân; tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phát huy và thực hành dân chủ XHCN; giám sát, tư vấn và phản biện xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Nhà nước; huy động các nguồn lực để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần giải quyết những khó khăn về kinh tế - xã hội; mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, tăng cường sự hiểu biết, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong việc giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu. Các tờ báo và tạp chí, bản tin do hội là cơ quan chủ quản đã tích cực cung cấp thông tin, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước và góp phần thực hiện giám sát, phản biện xã hội.

2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về hội

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hội

Với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, thể chế quản lý tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng được thể hiện tương đối đầy đủ và vẫn đang từng bước được bổ sung, cụ thể hóa phù hợp với hoàn cảnh mới. Quyền lập hội của công dân được tôn trọng và thể hiện cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm bảo đảm quyền tự do của công dân và nhu cầu chính đáng của các tầng lớp xã hội; đồng thời góp phần hình thành nhận thức, quan niệm mới về vai trò thiết thực, tính đa dạng của các hội quần chúng. Nhờ đó, trong thời gian qua, các hội tăng nhanh về số lượng và từng bước được củng cố về tổ chức và hoạt động theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa, chú trọng hơn việc kiện toàn tổ chức hội, như xây dựng quy chế tổ chức hoạt động của ban chấp hành, ban thường vụ, quản lý các đơn vị trực thuộc; một số hội đã xây dựng quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp của hội.

Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã tạo điều kiện cho các hội tham gia hoạt động xã hội hóa, từ thiện - nhân đạo, cung ứng dịch vụ. Đặc biệt gần đây, Chính phủ ban hành nhiều chính sách khuyến khích, phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập.

Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống thể chế pháp luật về hội còn thiếu một chiến lược tổng thể và những bước đi phù hợp. Dự thảo Luật về hội được chuẩn bị trong thời gian khá dài, nhiều lần lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức, cá nhân liên quan nhưng vẫn chưa được ban hành. Nhiều quy định không phù hợp, nhưng vẫn chưa được bổ sung, sửa đổi kịp thời. Một số vấn đề có tính chất quan điểm trong việc quản lý (xét duyệt, cấp phép) đối với các hiệp hội của tổ chức kinh tế có sự tham gia của người nước ngoài hay đối với các hội không chính thức còn thiếu thống nhất và lúng túng.

Quy định các hội có tính chất đặc thù được hưởng một số quyền “đặc thù” như: tham gia xây dựng cơ chế, chính sách; thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, dịch vụ công; tư vấn, phản biện và giám định xã hội...; được cấp kinh phí hoạt động theo số biên chế được giao; bảo đảm kinh phí để thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hỗ trợ cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động... trong nhiều trường hợp có thể gây ra tình trạng thiếu công bằng giữa các hội và dễ dẫn đến cơ chế “xin - cho”.

Bên cạnh đó, nhiều quy định về quyền và nghĩa vụ của hội còn thiếu cụ thể, pháp luật chưa có quy định, do đó trên thực tế rất khó thực thi. Thí dụ, việc tham gia xây dựng các cơ chế, chính sách liên quan trực tiếp đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn về lĩnh vực hoạt động của hội; tham gia thực hiện một số hoạt động quản lý nhà nước, dịch vụ công thuộc lĩnh vực hoạt động của hội hay quyền tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với chính sách, chương trình, đề tài, dự án do cơ quan nhà nước yêu cầu về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của hội rất khó thực hiện do quy chế chưa được ban hành.

Hoạt động quản lý nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của hội

Công tác quản lý nhà nước đối với hội từng bước được đổi mới, bảo đảm các hội thành lập đúng quy định. Đến nay, đã có 20 bộ, ngành ban hành thông tư hướng dẫn, thông tư liên tịch hoặc văn bản thỏa thuận về mối quan hệ giữa bộ và hội. Nhiều bộ, ngành tạo điều kiện hỗ trợ cơ sở vật chất, cán bộ cho hội, nhất là các sở, ngành địa phương đã tạo điều kiện cho các hội hoạt động trong lĩnh vực do sở quản lý. Các bộ, ngành đã quan tâm tạo điều kiện phát triển hội, giao cho các hội thực hiện công tác tư vấn, phản biện, giám định xã hội và cung ứng dịch vụ công.

Bộ Nội vụ, UBND cấp tỉnh (thông qua Sở Nội vụ) thường xuyên rà soát lại các hội được thành lập trước đây chưa đúng quy định, hướng dẫn các hội làm thủ tục thành lập lại; kiên quyết lập lại trật tự về tổ chức, hoạt động và quản lý hội; tiến hành sơ kết tổ chức, hoạt động và quản lý hội thuộc phạm vi quản lý.

Một số bộ, ngành đã tích cực hỗ trợ hội hoạt động, mạnh dạn giao đề tài nghiên cứu khoa học cho hội như Bộ Khoa học và Công nghệ hằng năm giao cho Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật nhiều đề tài, tổng giá trị trên 20 tỷ đồng/năm. Một số bộ đã tạo điều kiện cho hội tham gia các ban soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định... hoặc giao hội cấp chứng chỉ hành nghề, như Bộ Tài chính chuyển giao chức năng quản lý hoạt động nghề nghiệp kiểm toán, kế toán cho Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam, hay Bộ Giao thông - Vận tải giao cho Hiệp hội Chủ tàu cấp chứng chỉ chứng nhận nghiệp vụ đối với người đi biển... Đồng thời tiến hành thanh tra, kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ đối với hội hoạt động trong lĩnh vực do bộ quản lý và phân công bộ phận tham mưu giúp bộ thực hiện quản lý nhà nước đối với hội.

Đối với các hội đặc thù, kinh phí hoạt động được Nhà nước hỗ trợ thông qua việc cấp theo biên chế, giao dự án, chương trình, đề tài gắn với nhiệm vụ được Nhà nước giao. Hiện nay, nhiều tỉnh, thành phố đã chuyển từ việc giao biên chế sang chế độ khoán hoặc giao chỉ tiêu chuyên trách để hội tự ký hợp đồng làm việc.

Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế trong quản lý nhà nước đối với hội như: thủ tục thành lập hội còn khá phức tạp, một số tiêu chí xét duyệt đơn đăng ký của các hội là không cần thiết, làm mất nhiều thời gian.

 Cơ chế “quản lý kép” đối với hội bao gồm quản lý nhà nước của Bộ Nội vụ (đối với các hội có phạm vi hoạt động toàn quốc) hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (đối với các hội có phạm vi hoạt động cấp tỉnh) và một hoặc nhiều bộ, ngành chủ quản chưa được cụ thể hóa, do đó trong nhiều trường hợp thiếu đầu mối thống nhất quản lý, gây khó khăn cho hoạt động của hội.

Về việc cấp kinh phí hoạt động cho hội, nhiều cơ quan, địa phương chưa thực hiện đúng quy định của Nhà nước, dẫn đến tình trạng phân biệt, không công bằng giữa các hội.

Mối quan hệ phối hợp công tác giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội với các hội có lúc, có nơi chưa chặt chẽ, chưa phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong các hội.

Một số hội được thành lập do sự chỉ đạo có tính chất áp đặt của hội cấp trên, không thực sự xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, hoạt động hình thức, không tập hợp, thu hút được quần chúng, hội viên...

Nguyên nhân cơ bảncủa những hạn chế, vướng mắc nêu trên là do nhận thức về vai trò của hội đối với phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới chưa chuyển kịp với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và xu thế thời đại. Mặt khác, so với lĩnh vực kinh tế, xã hội khác, thể chế về hội chưa thuộc diện được quan tâm, ưu tiên nghiên cứu để xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Không ít cơ quan nhà nước còn có tư tưởng băn khoăn, e ngại, thiếu niềm tin vào các hội nên chậm hoàn chỉnh thể chế để phát huy sự tham gia của các hội với đời sống chính trị - xã hội đất nước.

3. Định hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về hội

Một là, rà soát và xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hội, trước hết là Luật về hội

Trong xây dựng Luật về hội, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

- Bảo đảm và tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện quyền lập hội theo quy định của Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” (Điều 25) và “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Khoản 2 Điều 14). Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách nhằm phát huy vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Về phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Luật về hội: Phương án khả thi là không điều chỉnh các tổ chức chính trị - xã hội, vì các tổ chức này đã được quy định ở Khoản 2 Điều 9 của Hiến pháp năm 2013 và có pháp luật điều chỉnh riêng; cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo thuộc đối tượng áp dụng của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; hội không có tư cách pháp nhân là hội do công dân Việt Nam tự nguyện thành lập nhằm mục đích gặp gỡ, giao lưu không phải đăng ký theo quy định của Luật này.

- Về điều kiện, thủ tục, quy trình cấp phép thành lập hội, trong quá trình nghiên cứu xây dựng dự án Luật về hội, vấn đề “cấp phép” hay “đăng ký” thành lập hội được thảo luận nhiều và có các ý kiến khác nhau. Trong điều kiện thực tế hiện nay ở nước ta, nhận thức xã hội về vai trò của các hội còn thiếu thống nhất, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, các cơ quan quản lý hoạt động của hội còn thiếu kinh nghiệm nên phương thức “cấp phép” được xem là khả thi và dễ được chấp nhận. Vấn đề quan trọng là cần đơn giản hóa điều kiện và thủ tục cấp phép thành lập; quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc cấp phép thành lập hội; công khai và cập nhật định kỳ danh sách các hội trong danh bạ về hội...

- Quy định rõ ràng, cụ thể quyền và nghĩa vụ của các hội theo hướng bảo đảm nguyên tắc “hội được làm những gì pháp luật không cấm”. Theo đó cần quy định rõ những hoạt động “bị hạn chế” hoặc “cấm” đối với các hội, đồng thời xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chuyên môn trong các lĩnh vực đặc thù mà hội phải tuân thủ; quy định trách nhiệm giải trình của hội trước các cơ quan nhà nước cũng như quyền khiếu nại và khởi kiện của hội đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội.

- Nghiên cứu thể chế hóa quyền tư vấn, giám sát và phản biện xã hội của hội; bảo đảm quyền tham gia xây dựng các cơ chế, chính sách có liên quan đến nội dung hoạt động của hội và quyền tham gia một số hoạt động quản lý nhà nước, cung ứng dịch vụ công cho các hội (không chỉ có các hội được xếp vào loại đặc thù).               

-  Quy định cụ thể quyền xây dựng quỹ hội trên cơ sở hội phí của hội viên, các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ và các nguồn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân (trong và ngoài nước) theo quy định của pháp luật cũng như kinh phí hỗ trợ của Nhà nước đối với những hoạt động gắn với nhiệm vụ được Nhà nước giao.

- Cùng với việc xác định các hội đặc thù theo Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, cần nghiên cứu bổ sung phân loại hội thành hai loại hình: hội “vì lợi ích hội viên” và hội “vì lợi ích cộng đồng”. Theo đó, các hội xã hội, nhân đạo, từ thiện...  do cá nhân hoặc cộng đồng có cùng mối quan tâm tự nguyện thành lập, hoạt động phi lợi nhuận (non-profit) nhằm nâng cao điều kiện sống của những người bị thiệt thòi hoặc vì những vấn đề chung của cộng đồng như giải quyết các vấn đề xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường... thuộc loại hình hội “vì lợi ích cộng đồng”, cần được hưởng các ưu đãi như miễn thuế, được nhận tài trợ từ các cá nhân, tổ chức hảo tâm và kể cả từ tổ chức nhà nước. Đối với các hội thuộc loại hình “vì lợi ích hội viên”, nếu có hoạt động kinh doanh thì phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền và nộp thuế nhưng với mức ưu đãi; các cá nhân làm việc trong các tổ chức này có thể được xem xét miễn thuế thu nhập.

- Quy định rõ nội dung và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việcthanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hội; kiểm tra việc tuân thủ tôn chỉ, mục đích đã được phê duyệt và việc quản lý và sử dụng tài sản, tài chính, nhất là đối với việc sử dụng nguồn tài trợ của nước ngoài và tổ chức quốc tế đối với các hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về hội.

Hai là, tăng cường tính tự chủ, tự quản và phát huy vai trò của hội trong phát triển kinh tế - xã hội

Tạo điều kiện để các hội hoàn chỉnh điều lệ, quy chế hoạt động của mỗi tổ chức phù hợp với thể chế luật pháp chung; hướng dẫn các hội xây dựng quy chế hoạt động, quy chế quản lý tài sản, tài chính, bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và đúng pháp luật trong hoạt động nội bộ hội; cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động của hội. Nghiên cứu cơ chế khuyến khích các tổ chức, cá nhân hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động của các hội, như khấu trừ thuế cho những doanh nghiệp tài trợ cho các hoạt động xã hội của hội.

Ba là, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về hội

Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hội; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ, các bộ và chính quyền địa phương trong quản lý đối với hội. Các cấp ủy đảng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hướng dẫn, tạo điều kiện để các hội tiến hành thảo luận, sửa đổi, bổ sung điều lệ, bảo đảm các tổ chức này hoạt động ngày càng sát hơn với cuộc sống, đóng góp thiết thực đối với phát triển kinh tế - xã hội trong khuôn khổ pháp luật hiện hành.

Bốn là, tăng cường công tác thanh, kiểm tra về tổ chức, hoạt động của các hội

Các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra việc thực hiện điều lệ của các hội đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; kịp thời xử lý vi phạm. Chính quyền các cấp kiểm tra, rà soát lại tình hình hoạt động của các hội do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành cấp phép. Đối với các hội có chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực và hoạt động thực tế trùng lắp, cần xử lý theo hai h­ướng: 1) Một số hội tham gia vào Liên hiệp hội, cơ cấu lại tổ chức và đổi mới hoạt động để hội thêm mạnh. 2) Nếu có nhu cầu sáp nhập, chính quyền cùng với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp xúc tiến và giúp đỡ để các hội hiệp thương sáp nhập.

Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Namvà các tổ chức chính trị - xã hộiđối với hội

Xây dựng và ban hành quy định về tổ chức, hoạt động của tổ chức Đảng trong các hội nhằm tăng cường hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với hội. Phát huy vai trò và nâng cao trách nhiệm của cấp ủy Đảng các cấp đối với tổ chức, hoạt động của hội; lãnh đạo việc phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội với các hội. Tăng cường vai trò hạt nhân gương mẫu của đảng viên là thành viên, hội viên trong các hội.                                        

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ đạo và phối hợp với các tổ chức thành viên rà soát, đánh giá kết quả tham gia của hội trong các hoạt động của Mặt trận, từ đó có cơ sở đề xuất kiến nghị hoàn chỉnh Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật về hội, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Trưng cầu ý dân,... cùng với việc xây dựng các quy chế làm việc, quy chế phối hợp của các tổ chức ngoài nhà nước tạo thành một kênh góp phần hiệu quả hoàn chỉnh thể chế đối với hội.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2016

(1) Nghị quyết 08B/NQ-HNTW ngày 27-3-1990 của Hội nghị Trung ương 8 khóa VI về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.­

(2) Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 28-8-2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hội quần chúng.

PGS, TS Nguyễn Minh Phương

Trường Đại học Nội vụ Hà Nội

Các bài viết khác