Trang chủ    Diễn đàn    Chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 và một số kiến nghị bảo đảm thực hiện
Thứ hai, 26 Tháng 6 2017 10:31
1340 Lượt xem

Chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 và một số kiến nghị bảo đảm thực hiện

(LLCT) - Kể từ khi bộ máy nhà nước Việt Nam được tổ chức theo mô hình XHCN (từ Hiến pháp năm 1959 tới nay), Quốc hội luôn được quy định ba chức năng gồm: lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Ba chức năng này của Quốc hội được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013 và một số văn bản pháp luật hiện hành. Điều 69 Hiến pháp năm 2013 viết Quốc hội “thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của nhà nước”.

1. Chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013

a, Thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp của Quốc hội

Về vị trí của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi rõ: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Hiến pháp năm 1992. Tuy vậy,  khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 không ghi Quốc hội là cơ quan “duy nhất” có quyền lập hiến.

Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định về chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc hội như sau: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”.Trong khi đó Điều 83 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”.Như vậy, theo Hiến pháp năm 1992 thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền thông qua, sửa đổi Hiến pháp và pháp luật.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy định trình tự sáu bước: (i) đưa vào chương trình xây dựng luật; (ii) soạn thảo luật; (iii) thẩm tra dự án luật; (iv) Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến; (v) thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý, thông qua; (vi) công bố luật. Trong đó, thao tác trực tiếp chủ yếu ở ba bước (iii), (iv), (v). Trong các chủ thể trình dự án luật, Chính phủ có khoảng 90% dự án luật được trình ra Quốc hội. Như vậy, trên thực tế, không chỉ có Quốc hội tham gia vào quá trình xây dựng Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Chính vì vậy, Hiến pháp năm 2013 đã mở đường cho việc Quốc hội có thể ủy quyền cho Chính phủ cùng tham gia vào công tác lập pháp. Điều này cũng được thể hiện tại Điều 100 Hiến pháp năm 2013: “Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành văn bản pháp luật để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó và xử lý các văn bản trái pháp luật theo quy định của luật”.Ngoài ra, Hiến pháp năm 2013 đã phân biệt rõ giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp, thay thuật ngữ “quyền lập hiến và lập pháp”bằng quy định “quyền lập hiến, quyền lập pháp”.

b, Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

Trong những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách ngắn gọn và bao quát, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các vấn đề thuộc về kinh tế - xã hội được quy định tại Khoản 4 Điều 70: Quốc hội có thẩm quyền “Quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế, quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ Chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước”.Với việc tập trung vào quyết định các chính sách cơ bản, minh bạch, cụ thể một số nội dung nhất định đã thể hiện thẩm quyền của Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất về mặt nhà nước đối với các vấn đề tài chính, tiền tệ, kinh tế nói riêng và các vấn đề quan trọng khác của quốc gia nói chung. Đó chính là cơ sở thực hiện việc phân cấp, phân quyền hợp lý hơn giữa các cơ quan ở trung ương và cơ quan địa phương, phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong những vấn đề có liên quan đến kinh tế - xã hội nói chung của quốc gia.

Đối với các vấn đề liên quan tới đối ngoại, chủ quyền quốc gia, Hiến pháp năm 2013, tại Khoản 14 Điều 70, bên cạnh việc tiếp tục duy trì thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định các chính sách cơ bản về đối ngoại, đã có sự điều chỉnh cụ thể, hợp lý hơn thông qua việc quy định thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan tới chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội. Sự minh bạch này là nền tảng hiến định cho việc tạo lập hành lang pháp lý theo hướng chuẩn mực, hoàn thiện hơn cho việc bảo đảm, thực thi chủ quyền quốc gia, thực thi chính sách đối ngoại trong thời gian tới.

c, Thực hiện giám sát tối cao

Hiến pháp năm 2013 không quy định Quốc hội giám sát tối cao đối với “toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (đoạn 4 Điều 83) mà thu hẹp phạm vi của quyền giám sát tối cao của Quốc hội.

Theo Hiến pháp năm 1992, Quốc hội có quyền giám sát bất cứ hoạt động nào của các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, kể cả cấp cơ sở. Tại Hiến pháp năm 2013, phạm vi đó đã được giới hạn trong các hoạt động của cơ quan nhà nước ở cấp cao nhất, những cơ quan do Quốc hội thành lập, phê chuẩn như Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (Điều 70 Hiến pháp năm 2013). Phạm vi này phù hợp với chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, đồng thời phù hợp với thực tiễn thực hiện chức năng giám sát này.

Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các thiết chế độc lập như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập.

Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 quy định về các chủ thể thuộc quyền giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng thêm phạm vi thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với các thiết chế như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập. Quy định này là phù hợp với tính chất hoạt động giám sát của Quốc hội. Sở dĩ có sự thay đổi này là do Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung hai thiết chế hiến định độc lập (cơ quan) là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước (Chương X). Vì các cơ quan này thuộc thẩm quyền thành lập của Quốc hội nên phải đưa vào nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Hơn nữa, việc hiến định các cơ quan độc lập trên góp phần làm rõ chủ quyền nhân dân, làm rõ hơn cơ chế phân công, phối hợp trong việc kiểm soát quyền lực và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Quy định mang tính chất khái quát hóa để các văn bản luật có điều kiện cụ thể hóa những hoạt động nào của nhà nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội

Việc quy định mang tính chất khái quát về những hoạt động của Nhà nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội tại Khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 là cơ sở vững chắc để các văn bản pháp luật ban hành sau này được xây dựng có hệ thống, chi tiết, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các lĩnh vực pháp luật.

2. Một số vấn đề đặt ra

Như trên đã phân tích, để phù hợp với đường lối chính trị, tăng quyền làm chủ của nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Quốc hội không phải là chủ thể “duy nhất”có quyền lập hiến, quyền lập pháp mà đã mở rộng và hiến định quyền này của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (tại Điều 100, Hiến pháp 2013). Quy định này đặt trong mối tương quan với tổ chức bộ máy nhà nước cũng chỉ ra một số điểm hạn chế trong cách thức lập pháp và thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Hiến pháp cho phép Chính phủ được ban hành văn bản pháp luật để thi hành luật (sắc lệnh hoặc nghị định). Các văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn luật và đều có thể bị phán quyết thay đổi, hủy bỏ và có chế tài áp dụng bởi một cơ quan tòa án về tính hợp hiến và hợp pháp. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghị định và thông tư được xếp trong cùng một loại là văn bản quy phạm pháp luật, cùng có hiệu lực bắt buộc thi hành và không được khiếu nại hay khởi kiện. Việt Nam cũng chưa có tòa án hiến pháp - nơi trực tiếp thẩm định tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật và xử lý trong trường hợp có sai phạm trong khi tòa án hành chính hiện nay cũng không có thẩm quyền xử lý những nghị định, thông tư có nội dung vi hiến. Hiện nay, thẩm quyền “đình chỉ” và “bãi bỏ”các văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội mới chỉ trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, khi hậu quả của việc áp dụng những văn bản pháp luật vi hiến đã xảy ra trên thực tế thì chủ thể nào sẽ có trách nhiệm xử lý?

Theo số liệu của Bộ Tư pháp tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác tư pháp năm 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2015(1), có đến hơn 9 nghìn văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp hiến, hợp pháp; trong đó có hơn 1.500 văn bản pháp luật vi phạm về thẩm quyền ban hành. Cùng với đó là tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn, những văn bản sai cả về hình thức lẫn nội dung, thậm chí vừa ban hành đã gặp phải những phản ứng của dư luận về thiếu tính khả thi. Với những nghị định, thông tư có nội dung vi hiến, thiếu tính khả thi nhưng người dân và doanh nghiệp cũng không có quyền khiếu nại hay khởi kiện bồi thường. Như vậy, về hình thức, sự thay đổi này của Hiến pháp năm 2013 là tiến bộ nhưng đặt trong thể chế chính trị và cách thức tổ chức, vận hành bộ máy quyền lực hiện nay, quy định này dường như đã tiệm quyền của Quốc hội.

Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Về mặt lý luận, Quốc hội được giao rất nhiều trọng trách nhưng trên thực tế quyền năng này lại bị hạn chế khá nhiều.

Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có quyền “trình dự án ngân sách nhà nước trước Quốc hội”(Khoản 2 Điều 96). Theo đó, Chính phủ lập dự toán ngân sách quốc gia trình Quốc hội trong đó các khoản chi ngoài dự toán cũng phải giải trình và lập báo cáo. Tuy nhiên, hiện nay do thành phần đại biểu Quốc hội có nhiều cá nhân hoạt động với chức năng hành pháp kiêm nhiệm nên ảnh hưởng của Chính phủ tới Quốc hội tương đối lớn. Hơn nữa, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội thực hiện chưa thực sự hiệu quả nên tình trạng thất thoát, tham nhũng và lãng phí còn diễn biến phức tạp. Liên tục trong nhiều năm qua Chính phủ chi vượt quá dự toán ngân sách. Bội chi ngân sách năm 2015 là 6,11% GDP vượt qua số bội chi dự định là 5,0% GDP(2).

Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia. Nhưng chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể. Các vấn đề như điều chỉnh lãi suất tiền gửi ngân hàng, phát hành trái phiếu chính phủ, khoản 30.000 tỷ đồng cứu trợ thị trường bất động sản(3), việc cho phép độc quyền sản xuất vàng miếng hay cấm mua bán vàng miếng có phải là chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hay không? Hay việc Chính phủ bảo lãnh khoản vay 750 triệu USD cho tập đoàn Vinashin(4) có phải là một quyết định về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hay không? Nếu có thì đây rõ ràng là sự vượt quá thẩm quyền được Hiến pháp và pháp luật trao cho của Chính phủ và sự buông lơi thẩm quyền, chức năng của Quốc hội.

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định chức năng của Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo hướng bao quát và hợp lý hơn. Tuy nhiên, quyền năng được trao cho là vậy, nhưng quy định về cơ chế để đảm bảo thực hiện những chức năng đó còn chưa minh bạch và rõ ràng, dẫn tới hoạt động của Quốc hội vẫn còn mang tính hình thức, chưa công khai và quyết liệt.

Giám sát tối cao là một trong những chức năng đặc thù của Quốc hội tương xứng với vị trí là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước. Điều 1 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003 nêu rõ: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kì họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”.Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có một quy định rõ ràng về chức năng này mà mới chỉ dừng lại ở định nghĩa về hoạt động giám sát.

Về bản chất, hoạt động giám sát nói chung và giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng đều là hoạt động: “theo dõi, xem xét và đánh giá”.Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã chỉ ra các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội với 7 hoạt động cụ thể nhưng có đến 6 hoạt động là “xem xét”. Trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, những hạn chế vẫn chưa được giải quyết thấu đáo nhằm tăng cường tính khả thi trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội để giám sát tiến gần hơn với thực tiễn. Chính từ sự không rõ ràng về khái niệm giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội dẫn đến việc chưa giới hạn được phạm vi và mục đích giám sát.

Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng giám sát bằng các hình thức: nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước tại các kỳ họp; các đại biểu thực hiện quyền chất vấn tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp; các đoàn kiểm tra, thường là đoàn kiểm tra của các Ủy ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội. Tuy nhiên, chất lượng chất vấn tại các kì họp của Quốc hội chưa thực sự hiệu quả do thiếu thông tin, thiếu cơ chế bắt buộc đối với người bị chất vấn. Các đoàn giám sát còn chưa có cơ chế phối hợp với nhau, mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận ý kiến của địa phương.

Đối tượng của giám sát chưa thực sự phù hợp. Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định về thẩm quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều khẳng định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Như vậy, đối tượng giám sát quá rộng, nội dung không quy định rõ nên chưa xác định được đối tượng nào là trọng tâm, việc nào cần được ưu tiên dẫn đến giám sát còn dàn trải và thiếu hiệu quả. Trong khi ở các nước phát triển, hoạt động giám sát của Quốc hội chỉ tập trung vào Chính phủ và các cơ quan hành pháp; còn ở Việt Nam, hoạt động giám sát của Quốc hội bao quát không chỉ Chính phủ mà còn cả “Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập”(Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014). Công việc này quá tải với Quốc hội, nhất là khi Quốc hội có tới nhiều nhất 65% đại biểu kiêm nhiệm.

3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013

Thứ nhất, cần tạo điều kiện tối đa cho Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội trình sáng kiến dự án luật; tăng cường hoạt động tham vấn cộng đồng trong quá trình xây dựng pháp luật để tăng tính khả thi và văn bản pháp luật ban hành nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân.

Thứ hai, cần hình thành cơ chế tài phán Hiến pháp. Bảo hiến - theo nghĩa rộng được hiểu là hoạt động phòng ngừa vi phạm Hiến pháp; nghĩa hẹp đồng nghĩa với tài phán Hiến pháp. Ở Việt Nam, việc bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật mới chỉ đặt ra trong quá trình soạn thảo văn bản, và một khi dự thảo luật được Quốc hội thông qua; nghị định, thông tư được Chính phủ, các bộ trưởng thông qua thì mặc định được hiểu là đã đảm bảo tính hợp hiến. Bởi vậy, nhu cầu thành lập tài phán Hiến pháp thông qua Hội đồng bảo hiến là hết sức cần thiết.

Về tổ chức bộ máy, Chủ tịch Hội đồng bảo hiến nên giao cho Chủ tịch nước và các thành viên còn lại được Quốc hội bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước. Có thể thấy, vai trò của Chủ tịch nước hiện nay không phải là người đứng đầu hành pháp trong khi việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có vi phạm hiến pháp chủ yếu là các cơ quan hành pháp. Do vậy, việc trao quyền cho Chủ tịch nước làm Chủ tịch Hội đồng bảo hiến sẽ phát huy tối đa “quyền phủ quyết”này. Hội đồng bảo hiến cần được phân công rõ ràng các chức năng nhiệm vụ sau:

Kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật: bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.

Đình chỉ việc thi hành văn bản pháp luật trái với Hiến pháp và trình Quốc hội bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất: bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Bãi bỏ các văn bản pháp luật của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Yêu cầu cơ quan Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét việc bồi thường thiệt hại (nếu có) của các tổ chức, cá nhân phát sinh từ việc thi hành các văn bản pháp luật của các cơ quan trên gây ra thiệt hại.

Kiểm tra tính hợp hiến của các điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

Thực hiện nhiệm vụ giải thích Hiến pháp và luật. Hiện nay, nhiệm vụ này được giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan này thực hiện nhiệm vụ giải thích Hiến pháp và luật còn rất hạn chế.

Khi được giao quyền lực mạnh mẽ và quyết liệt như vậy, Hội đồng bảo hiến mới có thể phát huy được vai trò của một cơ quan bảo vệ Hiến pháp. Việc thượng tôn pháp luật của các cơ quan nhà nước sẽ có một trật tự rõ ràng, minh bạch và chặt chẽ hơn.

Thứ ba, cần có một kế hoạch nâng cao năng lực quyền hạn cho Quốc hội bằng việc giảm bớt dần những đại biểu Quốc hội thuộc bộ máy hành pháp kiêm nhiệm. Đồng thời, cần tạo ra cơ chế phối hợp, ràng buộc rõ ràng giữa Chính phủ và Quốc hội; quy định rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc can thiệp vào những vấn đề quan trọng thuộc chức năng của Quốc hội. Đặc biệt đối với các vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định tại Điều 70 Hiến pháp, trong mỗi hoạt động của Chính phủ cần phải có sự xem xét, kiểm tra, đánh giá của Quốc hội.

Điều 94 Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.Như vậy Hiến pháp năm 2013 đã không trực tiếp khẳng định Chính phủ là cơ quan hành pháp mà chỉ thực hiện quyền hành pháp. Sở dĩ nếu khẳng định Chính phủ là cơ quan hành pháp thì sẽ tạo nhận định Chính phủ ngang bằng, đối trọng và phân quyền với các cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp, xác lập vị thế Chính phủ cao hơn so với việc chỉ quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.

Thứ tư, cần xác định cụ thể hoạt động “giám sát” và “giám sát tối cao”, tăng cường các hình thức giám sát

Hoạt động giám sát nói chung và giám sát tối cao nói riêng không chỉ dừng ở mức độ xem xét, theo dõi, đánh giá mà cần quy định theo hướng xác định rõ mục đích của giám sát, giám sát tối cao và các biện pháp, chế tài thích hợp trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát. Bên cạnh đó, cần mở rộng hình thức giám sát không chỉ giới hạn thông qua các phiên họp mà cần có những khảo sát thực tế, trao đổi, lắng nghe ý kiến của cử tri để hoạt động giám sát có hiệu quả, giảm bớt tính hình thức, nặng về báo cáo.

Thứ năm, hoạt động giám sát của Quốc hội cần được tiến hành có trọng tâm, tránh quy định dàn trải

Như trên đã phân tích, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giám sát của Quốc hội là giám sát hành pháp của Chính phủ. Đơn cử như vấn đề trách nhiệm của Quốc hội trong quản lí, giám sát ngân sách. Quốc hội có trách nhiệm ban hành Luật Ngân sách nhà nước, thông qua và quyết toán ngân sách hằng năm, quyết định những khoản thu chi đặc biệt cũng như những vấn đề quan trọng của đất nước và thực thi việc giám sát ngân sách thường xuyên. “Chính phủ chỉ là người được giao chi tiêu theo luật và chịu sự giám sát của Quốc hội. Cho nên trách nhiệm trong việc sử dụng hiệu quả  ngân sách trước tiên thuộc về Quốc hội”(5). Bởi vậy, Quốc hội phải coi những đề nghị của Chính phủ như một dự án tính toán chi li trên cơ sở Chính phủ phải cam kết sử dụng số tiền này một cách hiệu quả, hợp lý. Số tiền này phải được thể hiện bằng những con số cụ thể chứ không bằng những chỉ số như 5,3% GDP mức bội chi ngân sách, giới hạn trần công nợ... Có như vậy Quốc hội mới giám sát được hiệu quả ngay từ chính giai đoạn ban hành chính sách, tránh tình trạng thất thoát và lãng phí nguồn ngân sách.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2016

(1)  http://tuoitre.vn.

(2) http://www.sggp.org.vn. Kết quả được công bố tại phiên họp thứ 46 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khai mạc ngày 7-3-2016 theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2015.

(3) http://www.fdvn.vn.

(4) http://www.thesaigontimes.vn.

(5) http://www.baodatviet.vn.

 

TS Lưu Ngọc Tố Tâm

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác