Trang chủ    Diễn đàn    Nhận diện và đấu tranh phê phán quan điểm “muốn Việt Nam thực sự dân chủ và phát triển cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”
Thứ hai, 24 Tháng 7 2017 17:57
470 Lượt xem

Nhận diện và đấu tranh phê phán quan điểm “muốn Việt Nam thực sự dân chủ và phát triển cần thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”

(LLCT) - Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, cả trong thời kỳ giành, giữ chính quyền và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam XHCN hiện nay. Để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam, hướng Việt Nam đi theo quỹ đạo TBCN, các thế lực thù địch đã nhận thức vấn đề đó và chú trọng tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. 

Bên cạnh những hoạt động như tác động, chuyển hóa; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ Đảng thì một mũi tấn công trọng yếu, thường xuyên mà các thế lực thù địch tiến hành thời gian qua đó là đẩy mạnh hoạt động phá hoại tư tưởng với nhiều luận điệu “tấn công trực diện” vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Mục đích của các thế lực thù địch là thông qua hoạt động phá hoại tư tưởng để tác động thay đổi nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên vào vai trò lãnh đạo của Đảng, vào tính tất yếu về sự ra đời và lãnh đạo cách mạng của Đảng, từ đó lôi kéo các tầng lớp nhân dân vào con đường chống đối Đảng, hình thành nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập tại Việt Nam, tiến tới thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Với mục đích đó, các thế lực thù địch đã tung ra hàng trăm, hàng ngàn các luận điệu khác nhau tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do sự tác động từ hoạt động phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, cộng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện, không tích cực học tập, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nhận thức chính trị non kém nên trong nội bộ Đảng cũng đã xuất hiện một số cán bộ, đảng viên “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị. Đáng chú ý, có một số người tỏ ra đồng tình, ủng hộ, thậm chí là cổ súy cho một luận điểm phá hoại tư tưởng rất phổ biến đó là chỉ có thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì Việt Nam mới có dân chủ, xã hội Việt Nam mới có thể phát triển sánh kịp với các quốc gia khác trên thế giới. Và ngược lại nếu vẫn duy trì chế độ một đảng thì sẽ đồng nghĩa với độc tài, sẽ cản trở quá trình phát triển của đất nước.

Có thể thấy rằng, đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm bởi nó cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với dân chủ và phát triển. Với những người có nhận thức chính trị không vững vàng có thể dễ dàng bị đánh lừa bởi luận điệu này, từ đó cổ súy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Chính vì lẽ đó, việc nhận diện đầy đủ và đấu tranh phản bác thuyết phục, vạch rõ những điểm giả dối, phản cách mạng, phản khoa học trong luận điệu “đa nguyên, đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là vô cùng quan trọng trong cuộc đấu tranh tư tưởng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của chế độ hiện nay.

Xoay quanh vấn đề này, thiết nghĩ cần làm rõ một số điểm lớn sau: Thứ nhất, Việt Nam có cần thiết phải thực hiện đa nguyên, đa đảng không? Thứ hai, cơ sở lý luận cho việc thực hiện thể chế đa nguyên, đa đảng có thực sự cách mạng và khoa học? Thứ ba, thực chất âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch trong việc thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam là gì? Trả lời được những câu hỏi này sẽ cho chúng ta nhìn nhận, đánh giá rõ về sự sai trái trong luận điểm nêu trên.

1. Việt Nam hiện nay có cần thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không?

Câu trả lời là không. Xuất phát từ mấy điểm sau:

Một là, sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam đã cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử, là ý nguyện của toàn thể nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam, giải quyết được cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cả nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, Yên Bái nhưng lần lượt thất bại. Việc tìm kiếm con đường cứu nước của các chí sĩ tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh... hoàn toàn rơi vào bế tắc. Trong bối cảnh đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam, chuẩn bị điều kiện tiền đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc ra đời của Đảng Cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản sau hội nghị hợp nhất đầu năm 1930 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là một tất yếu của lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt thời kỳ cách mạng Việt Nam khủng hoảng về đường lối, mở ra một thời đại mới cho lịch sử đất nước.

15 năm sau đó, giai đoạn 1930-1945, lịch sử Việt Nam chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản chứ không có bất kỳ tổ chức, đảng phái chính trị nào lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là công lao của Đảng Cộng sản. Đến năm 1946, do bối cảnh tình hình chính trị lúc đó, tại Việt Nam ngoài Đảng Cộng sản đã xuất hiện nhiều đảng phái, trong đó nổi lên hai đảng là Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tuy nhiên, về thực chất, lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc.  Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự xuất hiện và rút lui của hai đảng Việt Cách và Việt Quốc cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản là được nhân dân và lịch sử Việt Nam lựa chọn, còn những đảng phái không đứng về nhân dân đã bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sau đó tuyên bố tự giải tán.

Như vậy, có thể thấy, Việt Nam đã từng có tiền lệ về chế độ đa đảng nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ nhận chế độ đó. Trong bối cảnh tình hình lịch sử của Việt Nam, việc Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội là hoàn toàn phù hợp với thực tế. Đây là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam. Thực tế đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ và không bao giờ tự ban cho mình quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, mà vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội chính là nhiệm vụ cao cả mà nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó cho Đảng Cộng sản Việt Nam.Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay luôn là đội tiên phong; đại diện cho ý chí, nguyện vọng, trung thành với lợi ích của toàn thể nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

Hai là, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đủ để đưa đất nước phát triển, không cần thiết phải thực hiện đa nguyên, đa đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng với một đường lối lãnh đạo hết sức đúng đắn đã đưa Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Điều này đã được lịch sử chứng minh. Năm 1945, chỉ sau 15 năm thành lập với chỉ khoảng 5 nghìn đảng viên, Đảng đã lãnh đạo toàn thể nhân dân làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám lịch sử, lật đổ ách áp bức thực dân phong kiến, lập ra Nhà nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập, tự do. Tiếp sau đó, Đảng lại lãnh đạo nhân dân làm nên hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, tạo ra những chiến thắng vang dội địa cầu và bảo vệ vững chắc độc lập, thống nhất của đất nước. Với đường lối đổi mới đúng đắn, Đảng đang lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước từ một nước nghèo nàn lạc hậu bị tàn phá bởi chiến tranh trở thành một quốc gia đang phát triển hết sức năng động, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đang không ngừng được cải thiện, vị thế Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam cũng là điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư nước ngoài. An ninh - quốc phòng được giữ vững, văn hóa - xã hội có nhiều bước phát triển. Có thể khẳng định, dưới vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam vẫn đang trên đà phát triển hết sức mạnh mẽ, vì thế không cần thiết phải thực hiện đa nguyên, đa đảng.

Ba là, tiêu chí cao nhất của hoạt động chính trị đó là ổn định xã hội vững bền và sự tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, một đảng hay đa đảng, đa nguyên hay không đa nguyên cũng đều phải vì vấn đề cốt lõi này

Vậy thì Việt Nam hiện nay, dưới vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản đang đáp ứng rất tốt vấn đề này. Với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam có điều kiện để giữ vững ổn định chính trị. Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có sự ổn định chính trị hàng đầu thế giới. Đây là một điểm sáng của Việt Nam và là một yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Việt Nam hiếm khi xảy ra bất ổn chính trị hay khủng bố, bạo loạn đường phố quy mô lớn, một điều thường xảy ra với các quốc gia đa đảng do sự cạnh tranh quyền lực. Chính trị ổn định, an ninh giữ vững, thu hút được đầu tư nước ngoài nên Chính phủ có điều kiện để cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân cũng như nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Nếu hiện nay Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đất nước sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất ổn định chính trị do sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái. Thực tiễn nhiều nước trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với sự bất ổn nghiêm trọng về chính trị do sự cạnh tranh quyền lực giữa các đảng phái từ đó dẫn tới kinh tế suy giảm, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn. Đây là bài học đã từng diễn ra ở nhiều quốc gia như Ucraina, Ai cập...

Bốn là, dân chủ, phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với dân chủ và phát triển 

Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi nhà nước xuất hiện và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, ở pháp luật nhất định quy định về quyền công dân, nó tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong giai đoạn lịch sử tương ứng. Trong Phê phán cương lĩnh Gôta, Mác viết: “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa xã hội do chế độ kinh tế đó quyết định”. Mỗi nước có những đặc thù và trình độ phát triển về chính trị, lịch sử, kinh tế... khác nhau, do đó có nền dân chủ khác nhau. Chính những yếu tố đó quy định dân chủ chứ không phải là cơ chế đa nguyên, đa đảng hay một đảng.

Quan điểm cho rằng đa đảng thì có dân chủ và một đảng thì mất dân chủ thực ra là một trò “lập lờ đánh lận con đen” nhằm cổ vũ cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi trong cương vị Chủ tịch Quốc hội, trong chuyến thăm Ấn Độ năm 2010, trả lời câu hỏi của phóng viên báo Express Ấn Độ về việc liệu đã đến lúc chín muồi để Việt Nam có một hệ thống đa đảng, hoặc có các đảng khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam để có thể tính tới các quan điểm của nhiều nhóm sắc tộc, nhiều dân tộc khác nhau, đồng chí đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất. Và cũng không nhất thiết cứ kinh tế thị trường thì phải đa đảng và ở Việt Nam chưa thấy sự cần thiết khách quan phải có chế độ đa đảng, ít nhất cho đến bây giờ”(1).

Câu trả lời của đồng chí Tổng Bí thư là lời giải đáp thuyết phục cho vấn đề đa đảng, một đảng và dân chủ.

Về mặt thực tiễn thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ, không đồng nghĩa với việc sẽ đưa đất nước phát triển. Thực tiễn nhiều nước đã chứng minh rằng, có những nước đa đảng nhưng vẫn thuộc loại nghèo nhất trên thế giới. Tuy nhiên, cũng có những nước chỉ một đảng lãnh đạo nhưng vẫn là một nước rất phát triển với đời sống nhân dân sung túc. Điều đó có nghĩa là đa nguyên, đa đảng không phải là cứu cánh cho sự phát triển. Thực hiện đa đảng không đồng nghĩa với việc đất nước sẽ phát triển. Vấn đề quan trọng nằm ở chỗ không phải là đa đảng hay một đảng lãnh đạo mà quan trọng nhất đó là đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cầm quyền. Và như đã khẳng định, tại Việt Nam hiện nay, với đường lối lãnh đạo sáng suốt, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang đưa đất nước liên tục phát triển, người dân cả nước đều được hưởng thành quả của sự nghiệp đổi mới, dân chủ vẫn đang không ngừng được mở rộng và nhân quyền của người dân vẫn luôn được đảm bảo. Việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc là một trong những minh chứng điển hình cho vấn đề Việt Nam có dân chủ, nhân quyền hay là không.

Hơn nữa, cần phân biệt rõ giữa vấn đề đa đảng, đa nguyên với đa đảng, nhất nguyên. Một số người, kể cả cán bộ, đảng viên mơ hồ vẫn thường lấy thể chế chính trị của Mỹ để ca ngợi cho tính ưu việt của mô hình đa nguyên, đa đảng. Ấy thế nhưng, nếu tìm hiểu kỹ thấy rõ một điều rằng, ở Mỹ chỉ có hai đảng thay nhau lãnh đạo xã hội Mỹ đó là Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa. Về bản chất, đây đều là Đảng của giai cấp tư sản. Vậy thực chất nền chính trị Mỹ là đa đảng nhưng nhất nguyên chứ không phải đa đảng, đa nguyên như nhiều người nhầm tưởng. Tương tự như thế, ở một số nước tư bản phương Tây khác, mặc dù Đảng Cộng sản có thể được cho tồn tại nhưng nếu giai cấp tư sản cảm nhận thấy sự tồn tại đó có khả năng uy hiếp, đe dọa đến sự lãnh đạo, thống trị xã hội của họ thì ngay lập tức, Đảng Cộng sản đó sẽ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Thứ dân chủ mà họ thường khoe khoang đó chỉ là thứ dân chủ giả hiệu. Vậy nên, đừng ảo tưởng quá nhiều vào thể chế đa nguyên, đa đảng mà phương Tây coi như một phép màu nhiệm duy nhất.

2. Cơ sở lý luận cho việc thực hiện thể chế đa nguyên, đa đảng là gì và nó thực sự có tính khoa học, cách mạng không?

Cần khẳng định, cơ sở lý luận cho việc thực hiện đa nguyên, đa đảng chính là chủ nghĩa đa nguyên và đây là một học thuyết phi mácxít. Chủ nghĩa đa nguyên là một trường phái triết học xã hội tư sản do nhà triết học Đức Wolf Chiristian Von (1679 - 1754) đề xuất vào đầu thế kỷ XVIII. Thế giới quan của chủ nghĩa đa nguyên là phủ nhận tính thống nhất của thế giới, cho thế giới là sự kết hợp các nguyên thể, các yếu tố cường điệu thổi phồng cái riêng. Chủ nghĩa đa nguyên lấy xã hội tư sản trên chế độ tả hữu làm mẫu, họ cho rằng xã hội luôn được chia nhỏ thành cơ số các cá thể, nhóm, tầng lớp, tập đoàn, phân biệt bằng tài sản và thu nhập, tín ngưỡng, tôn giáo, đảng phái, nghề nghiệp, che đậy tính đối kháng trong mối quan hệ xã hội và đặc biệt là phủ nhận sự phân chia xã hội thành giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa đa nguyên chủ trương xây dựng một cơ chế quản lý xã hội theo nguyên tắc đa lực lượng, đa đảng phái và các tổ chức đảng phái này quan hệ với nhau theo nguyên tắc hiệp thương. Quan điểm này của chủ nghĩa đa nguyên nếu được áp dụng vào chủ nghĩa xã hội thì sẽ dẫn đến nguy cơ phủ định vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, hạ thấp đảng thành một tổ chức xã hội bình thường. Nó đối lập hoàn toàn với lý luận đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Có thể thấy rằng, chủ nghĩa đa nguyên là sản phẩm của giai cấp tư sản với thế giới quan phi khoa học, trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Nó là một trong những công cụ lý luận cho sự tồn tại của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch CNXH. Chính vì bản chất chính trị, thù địch của chủ nghĩa đa nguyên như thế cho nên nếu chúng ta chấp nhận thứ học thuyết này, chấp nhận đa nguyên, đa đảng thì chẳng khác nào một sự thỏa hiệp với giai cấp tư sản trên lĩnh vực tư tưởng. Mà ai cũng biết, thỏa hiệp trên lĩnh vực tư tưởng là sai lầm nghiêm trọng.

3. Âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch trong việc thúc đẩy đa nguyên, đa đảng ở Việt Nam là gì và Việt Nam sẽ như thế nào nếu thực hiện đa nguyên, đa đảng?

Cần khẳng định rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi cách mạng Việt Nam. Chính vì lẽ đó, để chống phá cách mạng Việt Nam, để chặn con đường tiến lên CNXH của đất nước, các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Đòi hỏi phải thực hiện đa nguyên, đa đảng, về bản chất là để nhằm tạo điều kiện tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng. Những gì đã diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chứng minh rất rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Dưới sự tác động của các thế lực thù địch và sự “phản bội” của một số ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, đặc biệt là Góocbachốp, ngày 15-3-1990 tại Đại hội bất thường của các đại biểu nhân dân, Điều 6 Hiến pháp của Liên Xô (quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản) đã bị xóa bỏ. Đây là “dấu mốc” quan trọng dẫn đến hình thành cơ chế đa nguyên, đa đảng ở Liên Xô với việc ra đời của nhiều tổ chức, đảng phái chính trị đối lập cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Đã có tới 153 tổ chức đảng phải khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản Liên Xô. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên Xô và tháng 8-1991 là một tất yếu khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Vậy nếu Việt Nam chấp nhận đa nguyên, đa đảng chắc chắn sẽ “mắc mưu” các thế lực thù địch và đi theo “vết xe đổ” của Liên Xô, bao nhiêu thành quả cách mạng sẽ tiêu tan.

Ngoài ra, cũng cần khẳng định thêm rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nghiêm khắc và trách nhiệm cao với sứ mệnh lãnh đạo của mình. Đảng không hề bảo thủ, xa rời quần chúng mà ngược lại Đảng luôn đề cao phê bình và tự phê bình, luôn coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, luôn biết tự đổi mới và gắn bó mật thiết với nhân dân. Chính điều này đã giúp Đảng nâng cao được năng lực lãnh đạo và dìu dắt cách mạng Việt Nam vượt qua biết bao thác ghềnh bão tố. Có những thời điểm, tình thế cách mạng rơi vào thế vô cùng hiểm nguy “ngàn cân treo sợi tóc” như thời điểm năm 1945 - 1946, thời điểm khó khăn những năm 80 của thế kỷ XX hay sau khi Liên Xô sụp đổ. Tuy nhiên, Đảng với bản lĩnh, trí tuệ và sự sáng tạo đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua và tiếp tục tạo đà phát triển. Hiện nay, Đảng cũng đang rất quyết liệt trong công cuộc chống suy thoái, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để nâng cao năng lực lãnh đạo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới.

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 17-12-1998 của Bộ Chính trị về“Chiến lược An ninh quốc gia” khẳng định “Bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; không chấp nhận đa nguyên chính trị; không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước”(2).Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ chính trị “Về tăng cường công tác lãnh đạo đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới” ngày 14-10-2006 một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Không để xảy ra khủng bố, phá hoại, bạo loạn chính trị, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự; kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập trong nội địa; không để kẻ xấu lợi dụng tự do báo chí để vu khống, bôi đen Đảng và Nhà nước ta”(3). Điều này cho thấy quan điểm nhất quán của Đảng ta là không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Như vậy, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cho thấy, luận điểm muốn mở rộng dân chủ và phát triển xã hội, Việt Nam phải thực hiện đa nguyên, đa đảng là một luận điểm sai trái. Việt Nam hiện nay không cần thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Với sự cố gắng nỗ lực của toàn dân, toàn quân, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản, chắc chắn Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển nhanh và bền vững trên con đường tiến lên CNXH.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017

(1) Theo Thông tấn xã Việt Nam ngày 28-10-2010.

(2)  ĐCSVN (1998), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 17-12-1998 của Bộ Chính trị vềChiến lược An ninh quốc gia,Hà Nội.

(3) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ chính trị Về tăng cường công tác lãnh đạo đảm bảo an ninh quốc gia trong tình hình mới, ngày 14-10-2006.

 

GS, TS Nguyễn Văn Ngọc

 Giám đốc Học viện An ninh nhân dân  

Các bài viết khác