Trang chủ    Diễn đàn    Sắp xếp lại đội ngũ những người làm việc ở cấp xã - Một yêu cầu bức thiết hiện nay
Thứ tư, 24 Tháng 1 2018 16:58
104 Lượt xem

Sắp xếp lại đội ngũ những người làm việc ở cấp xã - Một yêu cầu bức thiết hiện nay

(LLCT) - Từ khi thực hiện Pháp lệnh Cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003)đến nay, số lượng những người làm việc ở cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)hưởng lương hoặc phụ cấp từ ngân sách nhà nước đã tăng nhanh, là gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước. Tính từ năm 2002 đến năm 2015,cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã đã tăng 264,35%; gấpkhoảng3 lần số lượng cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên.Do đó,cần phải có biện pháp đồng bộ để sắp xếp, bố trí lại đội ngũ những người hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách ở cấp xã nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm gáng nặng đối với xã hội.

1. Tình hình đội ngũ những người làm việc ở cấp xã

Trước năm 2003, những người làm việc ở xã đều gọi chung là cán bộ. Bao gồm:cán bộ được bầu cử theo nhiệm kỳ và cán bộ, nhân viên chuyên môn nghiệp vụ làm việc trực tiếp với nhân dân, vừa công tác, vừa lao động sản xuất. Trong giai đoạn này, cán bộ ở cấp xã không thực hiện tuyển dụng, cho thôi việc, điều động theo quy định như đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước. Cán bộ xã được hưởng phụ cấp sinh hoạt phí hàng tháng, do ngân sách của xã đài thọ; cán bộ của đoàn thể quần chúng do quỹ của các đoàn thể quần chúng đài thọ. Số lượng cán bộ được phụ cấp sinh hoạt phí (gồm cán bộ chuyên trách và cán bộ nửa chuyên trách- sau này gọi là không chuyên trách) căn cứ vào phân hạng xã, phường, thị trấn. Nhưng cộng cả cán bộ chuyên trách và nửa chuyên trách ở xã thì bình quân là 23 người/xã (hiện nay, cả cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách, bình quân là 46người/xã-gấp hơn 2 lần). Thời kỳ này, một số chức danh như: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Bí thư Đoàn Thanh niên, Hội trưởng Hội Phụ nữ, những người làm công tác thống kê, kế hoạch, lao động, giao thông thủy lợi, văn hóa thông tin, thương binh xã hội, tư pháp, đất đai,... đều thuộc cán bộ “nửa chuyên trách”.

Đến năm 2003, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, Nhà nước đã sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Đưa một số chức danh làm việc ở cấp xã (gồm cả chuyên trách và một số nửa chuyên trách) là cán bộ, công chức, nhưng vẫn có sự phân định với cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên và có cơ chế quản lý riêng, gọi chung là cán bộ, công chức cấp xã. Đến năm 2008, Luật Cán bộ, công chức được ban hành, do những đặc thù riêng trong hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã, nên Chính phủ vẫn được giaoquy định chi tiết về số lượng, chức danh và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, có phân cấp một số nội dung quản lý đội ngũ này cho chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, số lượng, chức danh, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố cũng được quy định ở các văn bản pháp luật khác liên quan đến các lĩnh vực bảo hiểm xã hội; dân quân, tự vệ; thú y; công an xã;...

Hiện nay, cán bộ cấp xã có 11 chức danh; công chức cấp xã có 7 chức danh. Nếu kiêm nhiệm thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm. Theo thống kê, số lượng cán bộ, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, làng, khóm, ấp, buôn, phum, sóc, tổ dân phố (sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố)... trong cả nước tính đến 31-12-2015 là 1.156.594 người. Trong đó, cán bộ, công chức cấp xã có 234.061 người, bình quân 21 người/xã (cán bộcấp xã có 116.043người, công chức cấp xã có 118.018người). Tính  từ  năm 2002 đến năm 2015, số lượng cán bộ, công chức cấp xã tăng từ 151.383 người lên 234.061 người (tăng 82.678 người, 54,62%).

Đội ngũ hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố... tăng từ 286.139 người lên 922.533 người (tăng 636.394 người, 222,41%). Trong đó, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là 229.592 người (bình quân 20,57 người/xã); người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phốlà692.941 người, bình quân 5,06 người/thôn, tổ dân phố.Tính bình quânở mỗi đơn vị hành chính cấp xã có 46 người hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước. Trong đó, có 21 cán bộ, công chức cấp xã; 20 người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; 5 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố. So với giai đoạn trước năm 2003, số người làm việc (kể cả chuyên trách và không chuyên trách) ở cấp xã đến nay đã tăng gấp hai lần. Tính đến năm 2015,đã tăng lên 11.162đơn vị hành chính cấp xã. Nếu với mức lương cơ sở là 1.210.000đ/tháng (trước 1-7-2017) thì tổng kinh phí ngân sách nhà nước chi cho cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trong cả nước là khoảng trên 32nghìn tỷ đồng/năm. Trong đó, cán bộ, công chức cấp xã thực hiện chế độ tiền lương gắn với chức danh và theo trình độ đào tạo như cán bộ, công chức. Đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Chính phủđã phân cấp cho địa phương chủ động quy định về số lượng, chức danh, mức phụ cấp và khoán kinh phí hoạt động, chophù hợp với điều kiện của từng địa phương, gắn với phân loại thôn, tổ dân phố. Các chế độ khác như BHXH, BHYT, phụ cấp đặc thù... cũng đã được thực hiện đối với đội ngũ này. Lấy tiêu chí người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và mốc năm 2015 để so sánh thìcó thể thấy: 

- Cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố bằng 291,75% cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên.

- Cán bộ, công chức cấp xã bằng 59,04% cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên.

- Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố bằng 232,71% cán bộ, công chức từ cấp huyện trở lên.

Như vậy, do trước đây những người làm việc ở cấp xã được xác định là vừa công tác, vừa lao động sản xuất nên đã hạn chếđượcsố lượng chuyên trách(chỉ khoảng 7-8 người). Đến năm 2003, Nhà nước đã xác định rõ xã, phường, thị trấn là một đơn vị hành chính, một cấp hành chính trong bộ máy hành chính nhà nước, do đó cần thiết phải có đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp. Vì vậy, một số chức danh làm việc ở cấp xã đã được quy định là cán bộ, công chức với cơ chế quản lý phù hợp với đặc thù của xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố cũng tăng lên nhanh chóng, do thực hiện phân cấp cho HĐND quyết định chức danh, số lượng và chế độ, chính sách đối với các đối tượng này. Tuy nhiên, do việc quản lý chưa chặt chẽ nênsố lượng cán bộ, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách đến nay là quálớn. Đây là vấn đề đang đặt ra cấp bách, đòi hỏi phải tinh gọn lại để vừa nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền cấp xã, bảo đảm được đúng tính tự quản, tự quyết của các tổ chức cộng đồng thuộc phạm vi cấp xã quản lý, vừa giảm bớt gánh nặng ngân sách.

2. Những vấn đề đặt ra trong quản lý cán bộ, công chức cấp xã

Thứ nhất, về thể chế,hệ thống các văn bản pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố chậm được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Nhiều nội dung liên quan đến đội ngũ này được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật khác, nên không bảo đảm tính thống nhất,tính tương quan giữa các ngành, lĩnh vực. Thí dụ, số lượng, chức danh, chế độ chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã chưa được quy định thống nhất ở một văn bản, còn phân tán ở nhiều văn bản không thuộc chuyên ngành tổ chức nhà nước (có tới 4 Luật, 1 Pháp lệnh, 8 Nghị định, 7 Thông tư quy địnhvềvấn đề này).

Thứ hai, về chức danh, số lượng, mặc dù được quy định theo phân loại các đơn vị hành chính cấp xã, nhưng số lượng cán bộ, công chức chưa tính đến những điểm khác biệt giữa đô thị với nông thôn, biên giới, hải đảođể xác định cho phù hợp. Việc phân cấp cho các địa phương được tự quyết định số lượng người theo từng chức danh không chuyên trách, không có những quy định để khống chế số lượng và tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạmlà một trong các nguyên nhân làm tăng số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố. Bên cạnh đó, việc giao HĐND cấp tỉnh quyết định chức danh đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố đã làm ảnh hưởng đến tính thống nhất và tính hiệu quả của quản lý nhà nước về cán bộ, công chức trong phạm vi cả nước. Nảy sinh tình trạng cùng là đơn vị hành chính cấp xã hoặc cùng loại hình tổ chức thôn, tổ dân phố nhưng ở mỗi địa phương việc quy định số lượng chức danh lại khác nhau. Chẳng hạn, tỉnh Quảng Ninh (cấp xã loại I không quá 14, loại II không quá 12, loại III không quá 11), tỉnh Hà Tĩnh (cấp xã loại I không quá 17, loại II không quá 15, loại III không quá 14).

Thứ ba, về chất lượng,đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều bất cập về phẩm chất, trình độ và năng lực, số chưa đạt chuẩn còn cao đã ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Theo thống kê, còn 12,14% chưa đạt trình độ trung học; về chuyên môn, nghiệp vụ còn 13,11% là sơ cấp hoặc chưa qua đào tạo; 21,76% chưa qua bồi dưỡng lý luận chính trị; 56,58% chưa qua bồi dưỡng quản lý nhà nước; 78,32 % chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về tin học.

Thứ tư, về nguồn chi trả và cơ chế khoán phụ cấp,thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc, khóm, khu phố, tổ dân phố...là các hình thức tổ chức mang tính tự quản của cộng đồng dân cư, hoạt động gắn với các hương ước, quy ước; các  hoạt động ở thôn, tổ dân phố chỉ là những hoạt động  được thực hiện bởi cộng đồng dân cư, mang tính tự nguyện, tự quản, không phải là hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước. Nhưng phụ cấp chonhững người này lại được chi trả từ ngân sách nhà nước, mà đúng ra việc giải quyết các vấn đề bồi dưỡng, thù lao đối với họ phải được thực hiện từ các quỹ do cộng đồng dân cư đóng góp.

Cơ chế khoán phụ cấp hiện nay đã tạo ra sự chênh lệch lớn về mức phụ cấp đối với từng chức danh không chuyên trách giữa các địa phương. Thí dụ đối với chức danh bí thư chi bộ thôn, tổ dân phố (tính theo mức lương cơ sở): Hà Nội 1,0; Bạc Liêu 0,8; Đà Nẵng 0,6; Ninh Thuận 0,5;...Việc khoán phụ cấp hiện nay chưa phân biệt được tính đặc thù, chưa phân biệt được mức độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các địa phương (đô thị, nông thôn, hải đảo, miền núi, vùng xa,...), dẫn đến tình trạng bình quân, cào bằng trong việc thực hiện chế độ phụ cấp đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố.

Thứ năm, về chế độ làm việc,chưa quy định rõ các nhiệm vụ và chế độ làm việc của người hoạt động không chuyên trách (chỉ làm việc một phần thời gian) ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố. Quy định “một phần thời gian” của người làm việc không chuyên trách không rõ là bao nhiêu thời gian trong một ngày, một tuần, một tháng dẫn tới tình trạng đùn đẩy trong công việc hoặc so bì chế độ chính sách giữa các chức danh chuyên trách và không chuyên trách. Chính sách đối với việc kiêm nhiệm các chức danh còn thấp (20%) nên chưa khuyến khích cán bộ, công chức nhận kiêm nhiệm để giảm số lượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập nêu trên là:

- Quan điểm và nhận thức về tính chất và đặc điểm công việc của cán bộ, công chức cấp xã với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố chưa rõ ràng, chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động.          

- Việc thực hiện “công chức hóa” mạnh mẽ ở cấp xã cùng với tình trạng “hành chính hóa” các hoạt động của thôn, tổ dân phố với diện quá rộng và thực hiện phân cấp đã dẫn đến số lượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách tăng nhanh.

- Chưa phân biệt rõ ràng về chế độ làm việc, nhiệm vụ và trách nhiệm giữa cán bộ, công chức cấp xã với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; giữa cán bộ, công chức ở cấp xã với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.

- Việc phân cấp giữa Trung ương và địa phương về số lượng, chức danh và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố còn có điểm chưa đáp ứng yêu cầu của phân cấp, đó là phải vừa bảo đảm thống nhất quản lý trong phạm vi cả nước, vừa phát huy tính chủ động của địa phương.

- Việc chia tách các đơn vị hành chính cấp xã, chia tách thôn, tổ dân phốtrong thời gian qua chưa được quản lý chặt chẽ đã làm tăng nhanh số lượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố.

3. Một số công việc cần làm để tinh gọn, nâng cao chất lượng đội ngũ làm việc cấp xã

a) Nghiên cứu sửa đổi các quy định của pháp luật đểhoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã. Quy định rõ mối quan hệ giữa chính quyền cấp xã với tổ chức cộng đồng dân cư. Sửa đổi, bổ sung các tiêu chí, điều kiện thành lập thôn, tổ dân phố để quản lý chặt chẽ việc thành lập mới thôn, tổ dân phố. Các thôn, tổ dân phố không đạt tiêu chí, điều kiện quy định thì thực hiện hợp nhất.

b) Thống nhất nhận thức và quy định rõ trong pháp luật về các hoạt động ở thôn, tổ dân phố là hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư, không phải là một cấp hành chính, nên không được hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước. Trừ các nhiệm vụ do chính quyền cấp xã yêu cầu thìbố tríkinh phí để trả thù lao cho những người thực hiện ở thôn, tổ dân phố.Ở thôn, tổ dân phố thực hiện việc bí thư chi bộ kiêm trưởng ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố.

c) Nghiên cứu quy định lại các chức danh cán bộ cấp xã theo hướng giảm bớt và xác định các vị trí việc làm để bố trí công chức theo các chức danh cụ thể gắn với các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo. Chuyển 2 chức danh chỉ huy trưởng quân sự và trưởng công an xã về thuộc lực lượng vũ trang chính quy ở cấp huyện.

d) Thực hiện nhất thể hóa chức danh bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch HĐND; phó bí thư cấp ủy kiêm chủ tịch UBND; Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc và người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội cấp xã kiêm nhiệm một trong các chức danh: phó chủ tịch HĐND, các trưởng ban của HĐND cấp xã,...Quy định việc kiêm nhiệm các chức danh hoạt động không chuyên trách ở cấp xã như: trưởng ban tổ chức, trưởng ban tuyên giáo, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và phó các tổ chức chính trị - xã hội.

đ) Tiếp tục quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo phân loại đơn vị hành chính. Cần sửa Luật Cán bộ, công chức để không phân biệt công chức cấp xã với công chức từ cấp huyện trở lên. Sốlượng biên chế công chức được quy định trên cơ sở xác định các vị trí việc làm trong các cơ quan nhà nước từ cấp xã trở lên và biên chế công chức ở cấp xã đưa về thuộc biên chế của công chức cấp huyện để UBND cấp huyện quản lý, sử dụng phân công và luân chuyển về làm việc ở các xã. Tiếptục nghiên cứu đổimới phương thức tuyển dụng công chức để lựa chọn được những người đủ phẩm chất, năng lực bố trí về làm việc ở cấp xã và 3 năm một lần thực hiện luân chuyển, định kỳ chuyển đổi những người này giữa các xã với nhau.

Chính phủ quy định mức trần về số lượng các chức danh cán bộ, công chức và số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Trên cơ sở đó, phân cấp cho UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định số lượng cán bộ cấp xã và số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã phù hợp với tình hình cụ thể của từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.

e) Cán bộ cấp xã hoạt động theo nhiệm kỳ, được hưởng chế độ theo quy định;hết nhiệm kỳ nếu không ứng cử và được tái cử, nếu đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì được xem xét để tuyển dụng vào công chức theo quy định, nếu không đủ tiêu chuẩn, điều kiện thì được nghỉ công tác, hưởng chế độ trợ cấp một lần và đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.

g) Chỉ thực hiện chế độ phụ cấp hàng tháng đối với 2 chức danh ở thôn, tổ dân phố cộng với phụ cấp kiêm nhiệm(nếu có) trong 2 năm, sau đó thực hiện theo cơ chế tự quản của cộng đồng dân cư. Tăng mức phụ cấp kiêm nhiệm từ mức 20% như hiện nay lên mức 50% đối với cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố để khuyến khích việc kiêm nhiệm các chức danh.

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2017

 

TS Trần Anh Tuấn

   Thứ trưởng Bộ Nội vụ

Các bài viết khác