Trang chủ    Diễn đàn    Về việc Trung Quốc phân lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam
Thứ ba, 23 Tháng 7 2013 14:12
1743 Lượt xem

Về việc Trung Quốc phân lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam

(LLCT) - Ngày 23-6-2012, Tổng Công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc thông báo chào thầu quốc tế đối với một số khu vực trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Các lô mà phía Trung Quốc mời thầu chồng lên các lô 128-132 và 145-156 mà Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành các hoạt động dầu khí. Tổng diện tích vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bị xâm phạm là hơn 160 nghìn km2.

Việc làm trên của phía Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam ở Biển Đông; việc làm của Trung Quốc cũng vi phạm các quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông ký năm 2002 và Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc năm 2011.            

1. Vi phạm Công ước Luật Biển năm 1982      

Công ước Luật Biển năm 1982 xác định rất rõ quy chế pháp lý của các vùng biển quốc gia như nội thuỷ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Về vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để đo chiều rộng lãnh hải nước mình(1). Trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý mọi tài nguyên thiên nhiên cũng như đối với các hoạt động khác ở đó(2). Quốc gia ven biển cũng có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển(3). Về thềm lục địa, Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rõ thềm lục địa của quốc gia ven biển là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của đất liền cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Nếu mép ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển dưới 200 hải lý kể từ đường cơ sở thì quốc gia đó có thềm lục địa 200 hải lý(4). Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa vượt quá 200 hải lý thì quốc gia ven biển có quyền mở rộng thềm lục địa của mình đến 350 hải lý kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 mét (đường nối các điểm có độ sâu 2.500 mét ở biển). Trong trường hợp này quốc gia ven biển phải trình các báo cáo quốc gia lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc với đầy đủ bằng chứng khoa học, địa chất, địa mạo của vùng thềm lục địa liên quan(5). Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với thềm lục địa của mình. Điều 77 của Công ước Luật Biển năm 1982 nêu rõ, các quyền này mang tính đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ của quốc gia ven biển đó. Tức là chỉ có quốc gia ven biển mới có quyền thăm dò, khai thác tài nguyên ở thềm lục địa của mình.        

Căn cứ theo các quy định liên quan của Công ước Luật Biển năm 1982, Việt Nam có vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và thềm lục địa rộng tối thiểu 200 hải lý ở Biển Đông. Liên quan đến thềm lục địa ngoài phạm vi 200 hải lý, năm 2009, nước ta đã nộp hai báo cáo quốc gia lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc về hai khu vực (một khu vực ta phối hợp với Malaixia và một khu vực nước ta tự trình báo cáo). Thực hiện quyền hợp pháp theo các quy định của Công ước, nước ta đã và đang tiếp tục triển khai các hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Trong phạm vi thềm lục địa của Việt Nam, nước ta đã phân lô dầu khí và đang thực hiện nhiều hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí. Ở nhiều khu vực, nước ta đã cho phép các công ty nước ngoài đầu tư để thăm dò khai thác dầu khí theo Luật khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Phạm vi khu vực mà Tổng Công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc kêu gọi đấu thầu quốc tế chính là các lô dầu khí 128, 129, 130, 131, 132, 145, 146, 147, 148, 149, 150, 151, 152, 153, 154, 155 và một phần các khu vực khác ở gần bờ biển một loạt các tỉnh như Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bình Định, Ninh Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre. Điều cần phải nhấn mạnh là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế các khu vực này hoàn toàn không chồng lấn với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của bất cứ nước nào, do đó, hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp, mà thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam.    

Năm 1982, đại diện Trung Quốc đã ký bản Công ước Luật Biển năm 1982 và đến năm 1996 Trung Quốc chính thức trở thành thành viên của Công ước. Như vậy, với tư cách là thành viên của Công ước, Trung Quốc được hưởng các quyền mà Công ước quy định. Quyền và nghĩa vụ luôn luôn song hành, cho nên Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của Công ước này. Bằng việc mời các công ty nước ngoài tham gia đấu thầu ở các lô dầu khí trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc không những xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền biển, đảo của Việt Nam mà còn vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc với tư cách là một thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982.      

2. Vi phạm Tuyên bố năm 2002 về ứng xử của các bên ở Biển Đông và các thoả thuận song phương Việt Nam - Trung Quốc

a) Sau một quá trình thương lượng, tháng 11-2002, đại diện của Trung Quốc và ASEAN đã cùng nhau ký Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (thường được gọi tắt là Tuyên bố DOC năm 2002). Trong bản Tuyên bố này, Trung Quốc và ASEAN tái khẳng định cam kết tôn trọng mục tiêu và các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Luật Biển năm 1982, Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á, năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình và các nguyên tắc phổ cập khác của pháp luật quốc tế(6). Trong các cam kết cụ thể, cả Trung Quốc và ASEAN cam kết không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp làm ảnh hưởng tới hoà bình và ổn định ở Biển Đông(7). Bằng việc ký Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở Biển Đông, Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ các cam kết nêu trên. Trung Quốc và ASEAN cũng cam kết phấn đấu để tiến tới một văn kiện cao hơn là Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông. Trong các Hội nghị cấp cao giữa ASEAN và Trung Quốc, Hội nghị cấp Ngoại trưởng và nhiều hội nghị liên quan khác, đại diện Trung Quốc ở các cấp đều khẳng định Trung Quốc tuân thủ Tuyên bố DOC năm 2002. Đáng chú ý là Tuyên bố chung của các nguyên thủ và Thủ tướng các nước ASEAN và Trung Quốc về đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc (Bali, Inđônêxia ngày 8-10-2003) không chỉ khẳng định cam kết của các bên mà còn coi việc thực hiện Tuyên bố DOC năm 2002 là một biện pháp trong hợp tác an ninh giữa ASEAN và Trung Quốc.    

Như vậy, việc mời các công ty nước ngoài đấu thầu các lô dầu khí nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Trung Quốc đã đi ngược lại các cam kết của mình trong Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở Biển Đông, đặc biệt là cam kết không có hành động làm cho tình hình phức tạp thêm.        

b) Về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, năm 2000 hai nước đã phân định các vùng biển giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ và năm 2008 hoàn thành việc phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền giữa hai nước. Trong những năm gần đây, cả hai bên đã có nhiều nỗ lực và đạt nhiều thành quả trong việc tăng cường quan hệ hợp tác và hữu nghị giữa hai nước. Tháng 11-2011, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao của nước ta thăm chính thức Trung Quốc. Đó là một bước phát triển mới và có ý nghĩa chính trị to lớn trong quan hệ giữa hai nước. Nhân chuyến thăm này, hai bên ra Tuyên bố chung khẳng định tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” để trân trọng, giữ gìn, phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt - Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài. Trước thực tế hai bên đang có tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hai bên nhất trí khẳng định trong bản Tuyên bố chung là trước khi tranh chấp được giải quyết dứt điểm, hai bên cùng gìn giữ hòa bình, ổn định trên Biển Đông, không có hành động làm phức tạp hóa, mở rộng tranh chấp đó, đồng thời hai bên nỗ lực thực hiện Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc. Cũng trong dịp Tổng Bí thư Đảng ta thăm Trung Quốc, ngày 10-11-2011, Thứ trưởng Ngoại giao, kiêm Trưởng đoàn đàm phán về biên giới lãnh thổ của hai nước đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong Thỏa thuận này, Việt Nam và Trung Quốc cam kết “nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông(8).

Việc Trung Quốc mời các nhà đầu tư thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam vừa qua đã đi ngược lại các cam kết trong Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa hai nước. Việc Trung Quốc tự ý đưa các khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam để mời thầu quốc tế thực chất là để thực hiện ý đồ biến các vùng biển của Việt Nam, mà theo pháp luật quốc tế hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp, thành vùng biển tranh chấp. Việc làm này cũng nhằm ý đồ khác là mở rộng các tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc. Việc làm đó nằm trong một loạt hoạt động gần đây của Trung Quốc để thực thi yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông mà Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra Liên hợp quốc vào tháng 5-2009. Những việc làm trên của Trung Quốc thật sự đang làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp và căng thẳng hơn.       

Việc làm sai trái của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, vi phạm các cam kết quốc tế của Trung Quốc với tư cách là một thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982, một bên ký Tuyên bố năm 2002 về ứng xử của các bên ở Biển Đông cũng như các cam kết trong quan hệ song phương giữa hai nước Việt - Trung. Tham dự Hội thảo bàn về Biển Đông tại thủ đô Oasinhtơn, Thượng nghị sĩ Mỹ Joseph Lieberman đã khẳng định việc làm của Trung Quốc là “chưa có tiền lệ”, “vô căn cứ” và cần phải chấm dứt. Cũng tại Hội thảo này, giáo sư Mỹ Taylor Fravel đánh giá việc mời thầu của Trung Quốc vi phạm Công ước Luật Biển vì khu vực đó không nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc(9).

Hành động ngang ngược này của phía Trung Quốc đã gây sự bất bình của Chính phủ, các tầng lớp nhân dân Việt Nam và lo lắng của dư luận quốc tế. Ngày 26-6-2012, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố phản đối. Ngày 27-6-2012, đại diện Bộ Ngoại giao nước ta gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm phản đối việc Trung Quốc xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam. Cũng trong ngày 27-6-2012, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam họp báo quốc tế phản đối việc làm của Trung Quốc. Ngày 28-6-2012, Hội Luật gia Việt Nam ra Tuyên bố phản đối việc làm của Trung Quốc và ủng hộ tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao. Tiếp đó, ngày 29-6-2012 Hội Dầu khí Việt Nam ra Tuyên bố phản đối việc làm của Trung Quốc. Việt Nam cực lực phản đối và yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ ngay việc mời thầu sai trái nói trên, không có hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Đông và mở rộng tranh chấp, nghiêm túc tuân thủ Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Chỉ có như vậy mới thật sự  góp phần duy trì hoà bình và ổn định ở Biển Đông, biến Biển Đông thành vùng biển hoà bình, hữu nghị và hợp tác, đáp ứng lợi ích chung của toàn khu vực và thế giới.   

___________________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2012

(1) Điều 57 của Công ước Luật Biển năm 1982.       

(2) Khoản 1 Điều 56 của Công ước Luật Biển năm 1982.    

(3) Khoản 2 Điều 56 của Công ước Luật Biển năm 1982.    

(4) Khoản 1, Điều 76 của Công ước Luật Biển năm 1982.   

(5) Khoản 4, 5 và 8 Điều 76 của Công ước Luật Biển năm 1982.    

(6) Điểm 1 của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002.   

(7) Điểm 5 của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002.   

(8) Điểm 3 của Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc. 

(9) Báo Tiền phong, ngày 30-6-2012.

Luật gia Nguyễn Duy Chiến

Phó Chủ nhiệm Ủy ban biên giới quốc gia

 

Các bài viết khác