Trang chủ    Diễn đàn    Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam: Khảo sát từ tư liệu lịch sử
Thứ sáu, 16 Tháng 8 2013 14:13
2012 Lượt xem

Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam: Khảo sát từ tư liệu lịch sử

(LLCT)- Từ mấy trăm năm nay, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là một bộ phận trong toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Hiện nay, một số nước láng giềng cũng nêu yêu sách chủ quyền đối với bộ phận lãnh thổ này của nước ta. Hơn nữa, các vụ việc xâm phạm chủ quyền đối với hai quần đảo này ngày càng gia tăng. Song dưới góc độ lịch sử và luật pháp quốc tế, chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo này là rõ ràng, không thể bác bỏ.

1. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đến cuối thế kỷ XIX  

Từ  xa xưa, người Việt Nam đã biết đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với cái tên là Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng(*). Quần đảo có khoảng hơn 130 đảo lớn, nhỏ. Đó là những đảo đá, cồn đụn, bãi cạn nổi trên mặt biển hoặc lúc nổi lúc chìm theo mực nước thủy triều lên xuống hằng ngày. Năm 1686, bản đồ Thiên Nam Tứ chí lộ đồ thư trong Hồng Đức bản đồ hay Toàn tập An Nam lộ trong sách Thiên hạ bản đồ đã xác định Hoàng Sa và Trường Sa là vùng biển, quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam. Bản đồ do Đỗ Bá soạn vẽ vào giữa thế kỷ XVII, trong lời chú giải bên trên bản đồ có nói rõ việc khai thác Bãi Cát Vàng của chúa Nguyễn như sau: Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; có gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm vượt biển đến đấy thì phải một ngày rưỡi. Từ cửa Sa Kỳ đến đấy thì phải một ngày rưỡi...

Năm 1687, quần đảo Hoàng Sa (Paracel), với tên gọi Baixos de Chapar ou de Pulls Scir, tức là Bãi đá ngầm nằm trong Vịnh Cochinchine (Golfe de la Cochin Chine), phần phía Đông Bắc của bản đồ khu vực Đông Nam Á do Jean-Baptiste Nolin (1657-1708) vẽ xong năm 1687 đã xác định Hoàng Sa là quần đảo thuộc lãnh thổ và là địa lý hiển nhiên của Việt Nam, mà Việt Nam đã thực thi quyền chủ quyền của mình.     

Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, vào năm 1711, Chúa ra Chiếu dụ, sai các quan văn võ, thiên văn địa lý hội họp quốc sự và sai đo vẽ quần đảo Vạn lý Trường Sa, chính thức xác lập vùng biển đảo Trường Sa và Hoàng Sa vào địa lý Việt Nam(1).

Từ năm 1753, có tư liệu đã xác định rõ ràng rằng Trung Quốc không có ý thức và ý niệm chủ quyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà họ nhìn nhận Việt Nam là quốc gia có chủ quyền trên hai quần đảo này.   

Năm 1776, Hoàng Sa (Bãi Cát Vàng) trong bản đồ của sách Phủ biên tạp lục, do Lê Quý Đôn soạn vẽ, Hoàng Sa là một phần lãnh thổ được vẽ trên bản đồ thuộc Việt Nam.  

 Hoàng Sa được ghi chép trong Lịch triều hiến chương loại chí của nhà sử học Phan Huy Chú với tên Bãi Cát Vàng An Vĩnh, vì thuộc xã An Vĩnh, huyện Bình Dương (tức huyện Bình Sơn), phủ Tư Nghĩa, trấn Quảng Ngãi (nay là tỉnh Quảng Ngãi). Sách viết như sau: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Dương ở gần biển. Ngoài biển, phía Đông Bắc có đảo Hoàng Sa nhiều núi linh tinh, đến hơn 130 ngọn núi. Đi từ núi chính ra biển, tức sang các đảo khác ước chừng một vài ngày hoặc một vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi... Các đời chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 người, người làng An Vĩnh, thay phiên nhau đi lấy hải vật. Hàng năm, cứ đến tháng 3, khi nhận được lệnh sai đi, phải đem đủ 6 tháng lương, chở 5 chiếc thuyền nhỏ ra biển, 3 ngày 3 đêm mới đến đảo ấy (tức Hoàng Sa)... Đến tháng 8 thì đội ấy lại về, vào cửa Yêu Môn (tức cửa Thuận An) đến thành Phú Xuân, đưa nộp)(2).           

Đại Nam Nhất thống toàn đồ  là bản đồ Việt Nam từ năm 1834-1840, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tức Vạn lý Trường Sa) xác định với lời chú thích bên trên bản đồ có ghi hai tên: “Hoàng Sa”“Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam.           

Đến đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn đã cho khảo sát và tổ chức khai thác trên các đảo của Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó, chúa Nguyễn cho lập Hải đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải với nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi hải sản như đánh cá, thu lượm sản vật của đảo hoặc những sản vật lấy được từ những con tàu bị đắm...  

Năm 1816, vua Gia Long cho quân ra đo thuỷ trình để xác định địa lý hai quần đảo và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này. Sự kiện này được Đại Nam thực lục chính biên ghi lại như sau: “Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời Vua Gia Long, tức năm 1816, ra lệnh cho lực lượng hải quân và Đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình”.     

Năm 1835, vua Minh Mệnh cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc và trồng cây. Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và làm nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp có mặt ở Đông Dương. Đến năm 1847-1848, quản lý hành chính các đảo được duy trì nhằm giúp đỡ các cuộc hải trình và cũng để thu thuế của ngư dân trong vùng. Sự kiện này được Ðại Nam thực lục ghi rõ: năm Minh Mệnh thứ 16 (tức năm 1835) sai Cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đưa lính thợ xây cất miếu tại đảo Hoàng Sa; về chuyên môn do Bộ Công (tức là Bộ Xây dựng), như trong Khâm Ðịnh Ðại Nam hội điển sự lệ cho biết chi tiết miếu thuộc loại nào, mấy gian; kích thước bình phong, trồng cây như thế nào... So sánh hai tư liệu thuộc hai nguồn kiểm chứng cho nhau, giúp thấy được độ chính xác của các tư liệu liên quan đến quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1838, bản đồ trong An Nam Đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd (Tabula) soạn, có vẽ một góc quần đảo Hoàng Sa (rìa phía phải bản đồ) và chú thích bằng dòng chữ La tinh: Paracel seu Catvang uốn cong theo lãnh thổ Việt Nam.      

Sách Đại Nam thực lục (gồm Tiền biên và Chính biên), bộ sách thuộc phần “Tiền biên” chép về thời các chúa Nguyễn, gồm 13 quyển, bắt đầu từ Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế (tức Nguyễn Hoàng) năm Mậu Ngọ đời Lê Chính Trị thứ nhất, tức năm 1558, đến Duệ Tông Hiếu Thuận Hoàng đế vào năm Ðinh Dậu đời Lê Cảnh Hưng thứ 38 (tức năm 1777). Phần “Chính biên” chép các sự việc theo thứ tự từng ngày, kể từ vua Gia Long đến vua Ðồng Khánh. Những tư liệu sử liệu liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm một văn bản thuộc Ðại Nam Thực lục chính biên kỷ thứ nhất (đời Gia Long) và 4 văn bản thuộc “Chính biên” kỷ thứ 2 (đời Minh Mệnh). Các tài liệu này lúc đầu được vua đích thân phê duyệt bằng mực son (gọi là Châu phê) nên gọi chung là “Châu bản”, rồi được sao làm 3 bản, trong đó có một bản gửi cho Quốc sử quán làm sử liệu. Sau khi vị vua đương nhiệm mất, các sử thần thuộc cơ quan Quốc sử quán dựa vào tài liệu “Châu bản” để soạn thành sử Việt Nam. Ðây là tài liệu chính xác nhất có được và còn có thể tham khảo lại từ “Châu bản” để khẳng định rằng: quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là một bộ phận trong toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.        

Sách Đại Nam thực lục tiền biênlà chính sử Việt Nam ghi chép về các sự kiện xảy ra từ thời chúa Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần (1558-1777), đã khẳng định: quần đảo Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Quyển 10 của bộ sử này ghi chép về An Vĩnh Hoàng Sa như sau: “Ngoài biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 100 cồn cát... chiều dài kéo dài không biết tới mấy ngàn dặm, tục gọi là Vạn lý Hoàng Sa châu... Hồi quốc sơ đầu triều Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 người lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm cứ đến tháng ba cưỡi thuyền ra đảo, ba đêm thì tới nơi”.        

Trong Phủ biên tạp lục ghi chép về đảo Hoàng Sa với những chứng cứ lịch sử khẳng định Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ rất sớm. Phủ biên tạp lục  là cuốn sách do Lê Quý Đôn (1726 - 1784) - nhà bác học Việt Nam biên soạn năm 1776. Lê Quý Đôn mô tả tỷ mỷ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa cũng như công việc khai thác của chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này(3). Sách viết: Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải... Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào, các thứ chim có hàng nghìn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là trắng bông, giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi xát qua, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.  

Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem số của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân lượm được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc, từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khối, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi.    

Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu và các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được.  

Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 6, ghi chép về tỉnh Quảng Ngãi có đoạn viết: Đảo Hoàng Sa ở phía Đông cù lao Ré (đảo Lý Sơn) huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ ba bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết hàng mấy ngàn dặm, bằng phẳng, rộng rãi, tục gọi là “Vạn lý Trường Sa”, nước rất trong, trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản vật nhiều ốc hoa, hải sâm, đồi mồi, vích... Hồi đầu bản triều có đặt đội Hoàng Sa, có 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào hằng năm, cứ tháng 3 là ra biển tìm kiếm hải vật, đến tháng 8 mang về cửa biển Tư Hiền để nộp, lại đặt đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật của các đảo. Đầu đời Gia Long, phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa. Đầu đời Minh Mệnh, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển. Năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả, hữu và sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn 2.000 cân.       

Qua đây, cho thấy việc khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế kỷ XVII sang đến cuối thế kỷ XVIII. Hoạt động của hai đội này được tổ chức có hệ thống, mỗi năm ra đảo làm công vụ 8 tháng. Các thuỷ thủ do triều đình tuyển dụng, hưởng bổng lộc của triều đình.        

Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có một lời phản đối nào của Trung Hoa và các quốc gia khác thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên các đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn và cũng nhằm xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Rõ ràng đây là những hành động thực thi, hành xử chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.   

Như vậy, chủ quyền của Việt Nam đã được thực hiện: chủ quyền lịch sử bắt nguồn từ việc sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ dưới thời các Chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và XVIII; chủ quyền bắt nguồn từ sự chính thức chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục, hòa bình, dưới thời các vua nhà Nguyễn thế kỷ XIX, không bị nước khác phản đối vào thời điểm tuyên bố và thực thi chủ quyền của Việt Nam.          

2. Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX            

Năm 1920, Công ty Mitsui Busan Kaisha của Nhật Bản xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, nhưng Pháp đã từ chối. Từ đó, Pháp đã kiểm soát quan thuế và thiết lập tuần tiễu trên đảo để quản lý, bảo vệ đảo. Ngày 8-3-1921, Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Đông Dương thuộc Pháp.           

Năm 1925, Toàn quyền Đông Dương đã xúc tiến chương trình nghiên cứu khoa học tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Tiến sĩ A.Krempf, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức thực hiện trên tàu lưới kéo De Lanessan. Tháng 7-1927, Viện Hải dương học Nha Trang tiếp tục tiến hành những thí nghiệm khoa học trên các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.          

Năm 1932, Pháp sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên. Chính quyền Đông Dương thuộc Pháp đã tiến hành nghiên cứu khí tượng và đặt trạm khí tượng trên đảo Phú Lâm mang số hiệu 48859 và một trạm khí tượng trên đảo Hoàng Sa mang số hiệu 48860 để xác định khí hậu, thủy trình và tiến hành đo vẽ bản đồ.  

Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Bà Rịa.            

Năm 1938, Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ quần đảo Hoàng Sa và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Do vậy, ngày 30-3-1938, vua Bảo Đại đã ra đạo dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Ngãi và nhập vào tỉnh Thừa Thiên. Đạo dụ ghi: Các cù lao Hoàng Sa thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy thuộc về địa hạt tỉnh Nam Ngãi. Nay nhập các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên. Đến ngày 15-6-1938, Toàn quyền Đông Dương Brêviê ký và ban hành nghị định thành lập một đại lý hành chính trên quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.          

Từ năm 1939 - 1945, Chính phủ Đông Dương thuộc Pháp và Triều đình Huế đã thiết lập đơn vị đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa, làm nhiệm vụ bảo vệ và quản lý quần đảo.    

Từ năm 1946 - 1950, sau Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Pốtxđam, Pháp tiếp tục gửi quân Pháp - Việt tới đồn trú ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.          

Khi thành lập Chính phủ Bảo Đại, Chính phủ Pháp đã chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Việt Nam.        

Ngày 6-9-1951, tại Hội nghị San Francisco, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Bảo Đại đã tuyên bố rằng, cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị. Tuyên bố này đã khẳng định về mặt pháp lý và lịch sử là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt Nam.      

Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, lập lại hòa bình ở Việt Nam, vĩ tuyến 17 được lấy làm ranh giới tạm thời giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam, bao gồm cả trên đất liền và trên biển, thì quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17 được giao cho Chính quyền Bảo Đại ở miền Nam Việt Nam quản lý.

Từ tháng 4-1956 đến năm 1974, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã quản lý quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng Công ước quốc tế, đã đưa quân ra đồn trú và quản lý hai quần đảo này.

Ngày 14-2-1974, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ra Tuyên cáo ngoại giao, xác định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đầu năm 1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa công bố Sách trắng trình bày những chứng cứ lịch sử và xác định chủ quyền pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.            

Ngày 30-4-1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Quân đội Nhân dân Việt Nam được giao kiểm soát, bảo vệ quần đảo Trường Sa. Ngày 12-11-1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Ngày 12-11-1982, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam và khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.  

Năm 1979, 1981, 1988, Bộ Ngoại giao Việt Nam đều công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.    

Ngày 9-12-1982, Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6-11-1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX đã quyết định tách huyện Hoàng Sa khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương.

Huyện Trường Sa được thành lập theo Quyết định số 193-HĐBT ngày 9-12-1982 của Hội đồng Bộ trưởng, bao gồm toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Phước Tuy cũ, nay huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.    

Từ những chứng cứ tài liệu lịch sử, cơ sở pháp lý trên cho phép khẳng định một cách vững chắc rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVII đến nay.  

Ngày 23-6-1994, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, nêu rõ: Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.     

Ngày 21-6-2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam(4) nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về biển của nước ta, làm cơ sở cho việc quản lý và bảo vệ các vùng biển, hải đảo Việt Nam. Luật biển Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Qua khảo sát các tư liệu lịch sử và pháp lý cho thấy việc  xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XVII hoàn toàn phù hợp với các yêu cầu mà luật pháp quốc tế nêu ra trong vấn đề chủ quyền. Đó là việc thực thi chủ quyền phải là hành động công khai và liên tục của quốc gia được đại diện bởi nhà nước trung ương chứ không chỉ là hành động của cá nhân, lại càng không thể được xác lập bằng hành động xâm chiếm bằng bạo lực hay đe dọa dùng vũ lực.        

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2013

(*) Theo các nguồn tài liệu lịch sử, bản đồ địa lý cổ Việt Nam ghi nhận ngày xưa Hoàng Sa mang tên Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng được dùng để chỉ chung cho quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa - tục gọi là Vạn lý Trường Sa, Vạn lý Hoàng Sa: tức là quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; cả hai quần đảo là bộ phận lãnh thổ Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII cho đến ngày nay. Vì có vô số hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lúc nổi lúc chìm theo mực nước thủy triền lên xuống nên số lượng đảo tùy theo cách đếm, khoảng hơn 130 đảo lớn nhỏ. Theo như tác giả thì cả hai quần đảo có khoảng 130-200 đảo lớn nhỏ.

(1) Trần Đức Liêm: Đóng góp của Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) trong công cuộc xây dựng, phát triển Đàng Trong, và sự nghiệp mở mang bờ cõi, phát triển đất nước, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, số 5-2012.  

(2) Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chí, t.1, Quốc sử quán Triều Nguyễn xuất bản, tr.167.

(3) Lê Quý Đôn: Phủ Biên tạp Lục, dịch giả: Viện Nghiên cứu Hán Nôm, phiên bản điện tử ấn hành bởi Viện Nghiên cứu Hán Nôm.           

(4) Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3; Luật biển Việt Nam, thông qua ngày 21-6-2012. Điều 1 của bộ luật đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.     

 

Trần Đức Liêm

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam

 

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền