Trang chủ    Diễn đàn    Những sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc
Thứ hai, 13 Tháng 12 2021 10:50
528 Lượt xem

Những sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc

(LLCT) - Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thắng lợi của quá trình đổi mới nhận thức và sáng tạo trong thực tiễn của Đảng ta về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Bài viết làm rõ những sáng tạo của Đảng, từ đó phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về Cách mạng Tháng Tám năm 1945. 

Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Ảnh: vinhphuc.gov.v

1. Xác định con đường giải phóng dân tộc, sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, năm 1884, triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước đầu hàng, xã hội Việt Nam có sự chuyển biến mới, từ một nước độc lập, có chủ quyền trở thành một nước thuộc địa, phụ thuộc. Ngay từ đầu, mâu thuẫn giữa chế độ thực dân với dân tộc trở nên gay gắt. Mâu thuẫn đó biểu hiện thành hai mâu thuẫn cơ bản trong xã hội là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, mâu thuẫn giữa nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến. Giải quyết hai mâu thuẫn này mới tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội Việt Nam phát triển.

Để giải phóng dân tộc, tìm đường cho sự phát triển của đất nước, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, nhiều cương lĩnh của các lực lượng yêu nước, các đảng phái ở Việt Nam được đưa ra, nhưng “các phong trào cứu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”(1). Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có một giai cấp tiền phong lãnh đạo, chưa có lý luận cách mạng soi đường, cũng như chưa có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, đủ sức giành thắng lợi trước kẻ thù là chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích đúng tính chất xã hội Việt Nam, đề ra đường lối chính trị đúng đắn: trước hết làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi đến xã hội cộng sản. Điều đó toát lên tư tưởng lớn là cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu phải đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Việc đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam vào phạm trù cách mạng vô sản là sáng tạo lớn đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta

Đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với CNXH đã quyết định lực lượng lãnh đạo, lực lượng tham gia và phương pháp của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

Để nhận thức đúng đắn tính chất của cách mạng Việt Nam, Đảng ta phải trải qua một quá trình đấu tranh tư tưởng đầy phức tạp. Bởi lẽ, sáng tạo, đổi mới thường phải vượt qua những khuôn mẫu giáo điều, đòi hỏi sự dũng cảm và quyết tâm vượt lên, thậm chí trải qua cuộc đấu tranh nội bộ về quan điểm vận dụng lý luận và nhận thức thực tiễn có lúc gay gắt. Điều đó thể hiện tính chất và bản lĩnh chính trị của một chính đảng tiền phong.

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và dân chủ là sáng tạo thứ hai của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc; nhờ đó, đoàn kết tất cả mọi lực lượng toàn dân tộc chống đế quốc và giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cương lĩnh đầu tiên của Đảng xác định hai nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là chống đế quốc và chống phong kiến và hai nhiệm vụ đó có mối quan hệ khăng khít, thúc đẩy và làm tiền đề cho nhau cùng phát triển. đến Hội nghị tháng 10-1936, trong văn kiện “Chung quanh vấn  đề chính sách mới”, Đảng ta sớm nhận thức các hình thức phổ biến và đặc thù của cách mạng vô sản, từ đó Đảng ta khẳng định: “Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa”(2).

Khi Chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc và tay sai của chúng nổi lên hàng đầu, trở thành mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải giải quyết cấp bách, nhưng phải trải qua ba Hội nghị Trung ương (Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11-1939), Hội nghị Trung ương 7 (tháng 11-1940) và Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), Đảng ta mới hoàn chỉnh nhận thức về vấn đề dân tộc. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể dân tộc phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”(3). Từ đó, Đảng ta xác định tính chất của cách mạng Đông Dương là: “cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(4).

Với chủ trương đúng đắn, sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, nhiệm vụ chống phong kiến phải rải từng bước để phục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, khi chủ trương tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức, Đảng ta đã tập hợp lực lượng đông đảo của cả dân tộc: công nhân, nông dân, dân nghèo thành thị, tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc, địa chủ vừa, nhỏ và cả tầng lớp trên trong bộ máy chính quyền phong kiến, tạo nên sức mạnh vĩ đại. Vì vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả trong cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ của nhân dân ta do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo vì độc lập dân tộc.

Thắng  lợi của Cách mạng Tháng Tám đưa đến một hình thức nhà nước kiểu mới - Nhà nước dân chủ nhân dân, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có sự sáng tạo vĩ đại trong nhận thức về con đường phát triển của cách mạng trong xu thế mới của thời đại, sáng tạo trong việc giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra cho mỗi thời kỳ. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám, lật nhào ách đô hộ gần 80 năm của chủ nghĩa thực dân, lật nhào chế độ phong kiến thống trị hàng nghìn năm, lập nên chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở đường cho dân tộc Việt Nam phát triển theo định hướng XHCN.

2. Sáng tạo trong xác định phương pháp cách mạng, xây dựng lực lượng, dự đoán thời cơ

Việc lựa chọn phương pháp tiến hành cách mạng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của đường lối chính trị. Đây là vấn đề do sự quy định của những yếu tố khách quan và chủ quan. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm lịch sử của dân tộc không chỉ trong việc xác định đường lối phát triển đất nước, mà còn trong xác định phương pháp cách mạng giành chính quyền và giải quyết đúng đắn phương thức giành chính quyền. Đề ra tư tưởng bạo lực cách mạng, Đảng ta nhận thức rằng, sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp cách mạng của quần chúng, vì vậy phải tổ chức lực lượng quần chúng tiến hành các hình thức đấu tranh từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị.

Là một dân tộc phải thường xuyên đương đầu với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh và hung bạo, để bảo vệ đất nước, cha ông ta phải luôn dùng biện pháp đấu tranh vũ trang. Điều này trở thành một truyền thống của dân tộc, là phương pháp của một nước nhỏ chống lại những kẻ thù xâm lược hung bạo. Hơn nữa, xâm lược nước ta, đế quốc Pháp cấu kết với bè lũ phong kiến để đàn áp, bóc lột nhân dân ta, mọi phản kháng dù nhỏ của nhân dân ta đều bị chúng đàn áp. Để lật đổ chế độ thực dân phong kiến không thể không dùng sức mạnh của quần chúng.

Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam không tuyệt đối hóa đấu tranh vũ trang. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn phân tích đúng sự phát triển của tình hình thế giới và trong nước, đề ra những mục tiêu trước mắt, cũng như phương pháp cách mạng phong phú, đa dạng, kể cả đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Những người cộng sản không bao giờ đùa với khởi nghĩa. Việc quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền những năm 1930-1931 ở Nghệ Tĩnh là do sự phát triển của phong trào cách mạng dưới sự chỉ đạo của đảng bộ địa phương, chứ không phải là chủ trương chung của Đảng. Tuy nhiên, khi khởi nghĩa đã nổ ra, Đảng ta có thái độ đúng đắn: đánh giá cao sự ra đời của Xô viết Nghệ Tĩnh, đồng thời tìm mọi cách để hạn chế thiệt hại do sự đàn áp của kẻ thù, củng cố ảnh hưởng của Xô viết trong quần chúng. Đảng ta đã quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (năm 1940) khi chưa có thời cơ và hoãn việc phát động chiến tranh du kích ở Cao - Bắc - Lạng (năm 1944). Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là kết quả của đấu tranh vũ trang đơn thuần, mà là sự kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang.

Quán triệt quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, ngay từ khi mới ra đời, Đảng ta đã chủ động chuẩn bị lực lượng từ thấp đến cao qua ba cao trào cách mạng: cao trào 1930-1931, đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh; cao trào vận động dân chủ 1936-1939 và cao trào vận động giải phóng dân tộc 1939-1945. Từ thực tiễn, Đảng đã sáng tạo ra những hình thức đấu tranh mới phong phú, đa dạng để tập hợp lực lượng quần chúng, nhờ đó khi thời cơ đến, nhanh chóng phát động khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định. Thành công của Cách mạng Tháng Tám là kết quả trực tiếp của 15 năm đấu tranh anh dũng, kiên cường của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, là kết quả của quá trình chuẩn bị lực lượng từ thấp đến cao, là quá trình giành thắng lợi từng bước tiến lên tổng khởi nghĩa thắng lợi trong cả nước.

Quá trình chuẩn bị lực lượng cũng là quá trình Đảng ta sáng tạo ra hình thức Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội phù hợp với từng thời kỳ. Năm 1930, Đảng ta chủ trương thành lập Hội phản đế đồng minh; đến thời kỳ 1936-1939, lúc đầu chủ trương thành lập Mặt trận nhân dân phản đế, đến năm 1938 đổi thành Mặt trận Dân chủ; thời kỳ 1939-1940 là Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế và từ tháng 5-1941 là Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc.

Cùng với quá trình xây dựng lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến, Đảng ta sáng tạo ra nghệ thuật tạo thời cơ, chớp thời cơ và kiên quyết hành động đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân, chứ không phải là giành thắng lợi nhờ “khoảng trống quyền lực” như quan điểm của một số học giả nước ngoài. Điều đó góp phần làm phong phú thêm quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp cách mạng giành chính quyền ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến.

Như vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả của quá trình nhận thức và giải quyết một cách sáng tạo vấn đề xây dựng lực lượng và phương pháp cách mạng.

3. Sáng tạo trong xây dựng Đảng ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển

Luận cương chính trị xác định sự lãnh đạo của Đảng có vai trò quyết định đối với thành bại của phong trào cách mạng: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải đấu tranh mà trưởng thành. Đảng là đội tiền phong của vô sản giai cấp, lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm gốc mà đại biểu quyền lợi chánh và lâu dài, chung cho cả giai cấp vô sản ở Đông Dương, và lãnh đạo giai cấp vô sản Đông Dương ra tranh đấu để đạt được mục đích cuối cùng của vô sản là chủ nghĩa cộng sản”(5).

Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập là sự sáng tạo, phản ánh rõ quy luật tất yếu của thời đại và mang đặc sắc riêng của hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Đó là sự kết hợp giữa phong trào công nhân, phong trào yêu nước giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Đảng không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mà còn là đội tiền phong của dân tộc. Việc thành lập Đảng là thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định nhất, khẳng định quyền lãnh đạo của Đảng trong đời sống chính trị - xã hội Việt Nam. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền.

Thực tiễn phong trào cách mạng thời kỳ này cho phép Đảng ta rút ra kết luận: muốn lãnh đạo và chỉ đạo tốt phong trào cách mạng của quần chúng phải tăng cường công tác xây dựng Đảng. Đó là nhiệm vụ trung tâm và vô cùng cấp bách lúc bấy giờ, nhằm đáp ứng sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình phát triển của phong trào cách mạng.

Qua thực tiễn chỉ đạo phong trào cách mạng, Đảng ta đã trưởng thành một bước cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là người tổ chức, là bộ tham mưu chiến đấu của cách mạng Việt Nam. Cùng với quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng ta thực hiện sáng tạo công tác xây dựng Đảng, thể hiện ở một số mặt sau:

Một là, luôn luôn khẳng định và không ngừng đấu tranh để bảo vệ tính chất giai cấp công nhân của Đảng

Ra đời ở một nước nông nghiệp lạc hậu, ngay từ đầu, Đảng ta luôn luôn khẳng định và đấu tranh bảo vệ tính chất giai cấp công nhân của Đảng, nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân đối với cách mạng dân tộc dân chủ, không ngừng nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng. Điều đó cũng nhằm phân biệt rạch ròi ranh giới lập trường giai cấp công nhân với lập trường giai cấp tư sản, làm cho quyền lãnh đạo cách mạng không bị rơi vào tay giai cấp tư sản. Đảng phê phán nhận thức không đúng, hạ thấp tính chất giai cấp công nhân của Đảng. Những nhận thức không đúng về tính chất giai cấp công nhân của Đảng, về sự lãnh đạo của giai cấp công nhân bị phê phán một cách nghiêm túc, kịp thời, góp phần khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hai là, chú trọng xây dựng Đảng về chính trị, bảo đảm quyền lãnh đạo cách mạng của Đảng

Nhờ xây dựng được một đường lối chính trị đúng đắn trên cơ sở vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nên ngay khi mới ra đời, Đảng ta giành được quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Qua thực tiễn tổ chức và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã thể hiện nắm vững, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, vận dụng khoa học trong những giai đoạn cụ thể khi cách mạng đi lên hay những lúc gặp khó khăn; trong việc đề ra đường lối, chính sách và chỉ đạo thực tiễn đấu tranh; trong cụ thể hóa đường lối cách mạng thành nhiệm vụ cho từng thời kỳ.

Ba là, thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh với những tư tưởng phi vô sản, bảo đảm sự thống nhất tư tưởng trong Đảng

Để giữ vững tính chất giai cấp công nhân, Đảng luôn coi trọng công tác tư tưởng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin thấm sâu vào đảng viên, đường lối của Đảng thấm sâu vào quần chúng nhân dân, giác ngộ tư tưởng cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc. Thông qua phong trào đấu tranh, qua nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng đấu tranh mà làm tốt công tác tư tưởng. Thông qua đấu tranh, nhận thức của cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, về đường lối, chính sách của Đảng sâu sắc thêm. Đồng thời, qua chỉ đạo phong trào quần chúng, những biểu hiện lệch lạc sẽ bộc lộ, từ đó kịp thời uốn nắn, góp phần nâng cao nhận thức mọi mặt của cán bộ, đảng viên. Thực tiễn đấu tranh sẽ góp phần bồi dưỡng phẩm chất cách mạng và năng lực lãnh đạo của cán bộ, đảng viên.

Trong công tác tư tưởng, Đảng ta coi trọng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin để hiểu và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên trên vị trí công tác của mình có hành động đúng. Để bảo đảm thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta đặc biệt chú trọng đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, bảo đảm sự thống nhất trong Đảng và sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với cách mạng.

Bốn là, coi trọng xây dựng Đảng về tổ chức theo những nguyên tắc tổ chức của một đảng vô sản kiểu mới

Xây dựng Đảng về tổ chức là xây dựng sự thống nhất nội bộ Đảng và luôn luôn bảo vệ, giữ gìn sự thống nhất trên cơ sở đường lối đúng đắn và nguyên tắc tổ chức căn bản của Đảng. Nhờ có sự đoàn kết trong Đảng mà trong khó khăn gian khổ, trước sự đàn áp, khủng bố ác liệt của kẻ thù, cán bộ, đảng viên đã vượt qua được mọi thử thách.

Đảng phê phán và kịp thời uốn nắn những lệch lạc, vi phạm nguyên tắc trong công tác xây dựng tổ chức, tách biệt xây dựng tổ chức với việc tổ chức phong trào đấu tranh.

Để bảo đảm tính chất giai cấp công nhân, Đảng chú ý xây dựng tổ chức trong các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp tập trung, phát triển đảng viên trong công nhân. Tuy nhiên, Đảng ta cũng cho rằng: thành phần xuất thân của đảng viên không phải là yếu tố duy nhất hoặc yếu tố chủ yếu quyết định tính chất giai cấp công nhân của Đảng, mà thành phần giai cấp công nhân chỉ phản ánh một mặt của tính chất giai cấp. Tính chất giai cấp công nhân của Đảng thể hiện ở chỗ Đảng đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm thế giới quan và phương pháp luận để giải quyết mọi vấn đề vì lợi ích của giai cấp công nhân. Tính chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện một cách sinh động trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng, tổ chức, được phát triển và nâng cao không ngừng, phù hợp với vai trò và sứ mệnh mà Đảng phải gánh vác trong từng giai đoạn của cách mạng. Vì vậy, tập trung phát triển đảng viên trong công nhân, nhưng Đảng ta không tuyệt đối hóa thành phần công nhân trong Đảng, mà chủ trương phát triển đảng viên trong phong trào quần chúng của nông dân, trong tiểu tư sản, trí thức.

Trong hoàn cảnh hoạt động bất hợp pháp, kẻ thù đàn áp dã man, cần làm tốt công tác bảo vệ Đảng. Đảng ta ngay từ đầu đã có chủ trương đúng đắn là giữ vững nguyên tắc hoạt động bí mật, khi có điều kiện đấu tranh công khai vẫn giữ tổ chức bí mật, tổ chức bí mật phải lãnh đạo tổ chức công khai.

Công tác xây dựng Đảng về tổ chức ngày càng tiến bộ, có chủ trương đúng đắn và kịp thời chỉ đạo uốn nắn những khuyết điểm, lệch lạc của các đảng bộ địa phương; do vậy, mặc dù bị địch khủng bố gắt gao, nhưng đảng viên vẫn vững vàng, kiên định, kịp thời móc nối xây dựng lại tổ chức, Đảng vẫn lớn mạnh không ngừng và vượt qua được những thử thách hiểm nghèo.

Năm là, chú ý xây dựng các đoàn thể quần chúng cách mạng thích hợp với từng thời kỳ, luôn giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân

Nhờ gắn bó với quần chúng mà Đảng vượt qua được thử thách sinh mệnh của Đảng, đó là sự khủng bố quyết liệt của kẻ thù. Trong khó khăn, quần chúng cách mạng chở che, đùm bọc, cưu mang, giúp cán bộ, đảng viên vượt qua khó khăn. Qua phong trào cách mạng của quần chúng mà Đảng lớn mạnh về mọi mặt, ngày càng tỏ ra xứng đáng là lực lượng lãnh đạo, là lực lượng chiến đấu, xung kích dẫn đầu và là người tổ chức các phong trào.

Qua lãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo của mình, từng bước hoàn chỉnh đường lối, đồng thời kịp thời uốn nắn những sai lầm, lệch lạc trong công tác hằng ngày.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 9-2021

Ngày nhận bài: 08-7-2021; Ngày phản biện: 26-8-2021; Ngày duyệt đăng: 16-9-2021.

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 109.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2000, tr.152.

(3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.7, Sđd, tr.113, 119.

(5) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 100.

PGS, TS TRƯƠNG MINH DỤC

Học viện Chính trị khu vực III

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền