Trang chủ    Diễn đàn    Phương thức cơ bản bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời bình hiện nay
Thứ năm, 24 Tháng 4 2014 10:33
7863 Lượt xem

Phương thức cơ bản bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong thời bình hiện nay

(LLCT) - Chăm lo bảo vệ Tổ quốc ngay từ thời bình thể hiện quan điểm tích cực, chủ động trong bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước, nhân dân và các lực lượng vũ trang. Đồng thời, là quá trình tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống lại có hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam từ bên ngoài và những nhân tố gây mất ổn định từ bên trong có thể đe dọa đến sự sống còn của chế độ XHCN ngay trên đất nước ta. 

Trong tình hình hiện nay, chăm lo bảo vệ Tổ quốc ngay từ thời bình cần thực hiện tốt những nội dung cơ bản sau:         

Một là, tập trung xây dựng đất nước vững mạnh trên tất cả các mặt, chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố gây mất ổn định từ bên trong. Thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong những năm qua cho thấy, xây dựng đất nước mạnh lên về mọi mặt, kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, văn hóa được giữ gìn, giáo dục và đào tạo, khoa học - công nghệ phát triển, quan hệ đối ngoại được mở rộng, thế và lực được tăng cường là cách thức bảo vệ Tổ quốc chủ động nhất, tích cực và có hiệu quả nhất. Việc chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố gây mất ổn định từ bên trong cũng là một cách thức bảo vệ Tổ quốc tích cực và có hiệu quả.            

Ngay từ trong thời bình chúng ta cần tập trung xây dựng các tiềm lực: kinh tế, chính trị - tinh thần, khoa học - công nghệ, quân sự nhằm tạo ra thế và lực cho đất nước có đủ sức mạnh cần thiết để răn đe, sẵn sàng đối phó với các nguy cơ xâm lược từ bên ngoài; hoặc có đủ sức mạnh để đánh bại các cuộc xung đột vũ trang, xâm lấn lãnh thổ, xâm hại độc lập chủ quyền quốc gia; đánh bại các cuộc bạo loạn lật đổ có vũ trang, bạo loạn ly khai dân tộc, các hình thức khủng bố, sẵn sàng đánh bại những cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của các thế lực thù địch.

Chủ động phòng ngừa, sớm phát hiện và triệt tiêu những nhân tố gây mất ổn định từ bên trong. Muốn triệt tiêu những nhân tố này, trước hết cần khắc phục cho được bốn nguy cơ đã được Đảng xác định: tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình”. Các nguy cơ này tác động đan xen nhau, rất phức tạp, không thể xem nhẹ một nguy cơ nào. Đồng thời, cần khắc phục ngay những yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; những yếu kém trong xây dựng hệ thống chính trị, nhất là hệ thống chính trị ở cơ sở; những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc; các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.     

Thường xuyên bám sát cơ sở, nhất là những địa bàn trọng điểm, nhạy cảm, những “điểm nóng” về chính trị - xã hội. Nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ. Tích cực đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống hoạt động gián điệp của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước. Chủ động phát hiện, đấu tranh, kiểm soát, vô hiệu hóa các âm mưu, hoạt động của các tổ chức phản động người Việt ở nước ngoài khi chúng móc nối, câu kết, hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối ở trong nước.            

Đặc biệt, khi xử lý những vấn đề nảy sinh ở trong nước, cần thận trọng, khôn khéo và kiên quyết. Phải lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật; xử lý nghiêm minh các sai phạm, bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì. Đối với các phần tử chống đối, cần phân hóa, cô lập bọn chủ mưu, đầu sỏ, ngoan cố; xử lý nghiêm minh, kiên quyết. Thực hiện chính sách khoan hồng, giáo dục và vận động những người lầm đường bị lợi dụng, lôi kéo, không để hình thành tổ chức đối lập dưới bất cứ hình thức nào. Xử lý cần dứt điểm, không để lan rộng, kéo dài; không để ta bị đẩy vào thế cô lập, thế đối đầu; không để kẻ địch lợi dụng sơ hở để xuyên tạc, kích động, tập hợp lực lượng chống phá hoặc “tạo cớ” để can thiệp.  

Hai là, “nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị” (1). Chúng ta vừa phải sẵn sàng đối phó với những cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch, vừa đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong; đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ và những tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường. Đây là những thách thức rất lớn đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để đối phó có hiệu quả với những thách thức trên, yêu cầu cấp thiết hiện nay là “cần nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị”.

Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong điều kiện các thế lực thù địch ra sức thực thi chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và những tiêu cực nảy sinh khi thực hiện cơ chế thị trường, thì cách bảo vệ Tổ quốc có hiệu quả nhất lại chính là “tự bảo vệ”. Ở đâu tổ chức, cơ quan, đơn vị biết thường xuyên, tích cực, chủ động, biết tự tổ chức bảo vệ thì ở đó có đủ sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đứng vững và phát triển. Ngược lại, tổ chức, cơ quan, đơn vị nào xem nhẹ, sao nhãng việc chăm lo đến vấn đề “tự bảo vệ”, thì sẽ bị gục ngã trước các thế lực thù địch. Không ít người đã không bị gục ngã trong chiến tranh ác liệt trước đây, mà lại bị gục ngã bởi “viên đạn bọc đường” trong điều kiện hòa bình, dưới tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình” và sự tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, sự cám dỗ của đồng tiền.     

Để góp phần nâng cao “khả năng tự bảo vệ”, cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mỗi chủ thể có nhận thức đúng đắn, ý thức sâu sắc hơn đối với vấn đề “tự bảo vệ” và thực hiện tốt “tự bảo vệ” trong mỗi con người, tổ chức, cơ quan, đơn vị ngay từ thời bình. Từng chủ thể cần chủ động, tích cực phòng, chống lại quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức bảo vệ nội bộ, bảo vệ Tổ quốc trong mọi phạm vi hoạt động.       

Ba là, chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch và “sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu” (2). Hiện nay, Việt Nam vẫn là một mục tiêu trọng điểm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN, lái nước ta đi theo con đường TBCN và lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc. Để thực hiện mục tiêu này, chúng ráo riết đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ bằng những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, tôn giáo - dân tộc, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, các thế lực thù địch rất chú trọng gây dựng và nuôi dưỡng “ngọn cờ lãnh đạo” từ những tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài kết hợp với các phần tử cực đoan, bất mãn ở trong nước để khi có thời cơ đưa ra sử dụng nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị của chúng. Giúp đỡ, tập hợp các phần tử được gọi là “cấp tiến”, tạo điều kiện cho các phần tử này hoạt động, tranh thủ quần chúng, khi có thời cơ thì tổ chức ra các đảng chính trị đối lập, đấu tranh đòi phân chia quyền lực chính trị với Đảng Cộng sản Việt Nam. Kích động các phần tử cực đoan, bất mãn, thoái hóa biến chất gây rối, làm mất ổn định chính trị - xã hội ở một số vùng nhạy cảm như Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ. Lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ, cưỡng ép quần chúng đứng lên biểu tình, đồng thời tìm mọi cách mở rộng phạm vi, quy mô, lực lượng và kêu gọi sự tài trợ tiền của, cung cấp phương tiện, vũ khí từ bên ngoài vào để tăng cường sức mạnh.         

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, chúng ta cần quán triệt tư tưởng cách mạng tiến công, tích cực, chủ động đấu tranh, “kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ”(3) của các thế lực thù địch. Đây là cuộc đấu tranh gay go, phức tạp, quyết liệt, đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm đấu tranh của toàn xã hội đối với chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Trong đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho toàn xã hội, mọi tầng lớp nhân dân, các lực lượng vũ trang nhân dân, nhất là cán bộ, đảng viên, đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào các tôn giáo nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn và tính chất nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hòa bình”.         

Vấn đề cấp thiết hiện nay là xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt; không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân, giải quyết hài hòa các nhóm lợi ích trong xã hội, giữ vững kỷ cương gắn liền với phát huy dân chủ; thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố hệ thống chính trị các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh gắn với đấu tranh phòng, chống tiêu cực và tham nhũng, lãng phí; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, nhất là những khu vực trọng điểm.         

Sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu. Đó là những vấn đề về các loại tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt là tội phạm khủng bố và ma túy đe dọa an ninh khu vực và thế giới, đồng thời nó đã vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu.  

Đồng thời, cần đề cao cảnh giác, tích cực và chủ động chống lại việc lợi dụng vấn đề này để can thiệp nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.    

Bốn là, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường thuận lợi để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kinh nghiệm từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, các triều đại phong kiến Việt Nam rất coi trọng phương thức đấu tranh ngoại giao và hoạt động ngoại giao để phòng ngừa, ngăn chặn chiến tranh xâm lược, “bảo vệ Tổ quốc từ xa”. Khi chưa xảy ra chiến tranh thì tìm mọi cách giữ “hòa hiếu”, không để xảy ra chiến tranh làm tổn hại cho cả hai phía là thượng sách. Khi bắt buộc phải đứng lên chiến đấu để bảo vệ nền độc lập dân tộc thì vừa dùng quân sự, chính trị, vừa dùng ngoại giao để mau chóng kết thúc chiến tranh và tạo điều kiện cho hòa hiếu về sau.            

Trong bối cảnh hiện nay, việc đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập, mở rộng các quan hệ quốc tế cần hướng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu “giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh... vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(4). Thông qua hoạt động đối ngoại góp phần đưa quan hệ giữa nước ta với các nước, nhất là với các nước láng giềng và nước lớn đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững nhằm tạo thế và nâng cao vị thế, uy tín trong quan hệ với các nước, với các tổ chức quốc tế và khu vực trên trường quốc tế. Thông qua hoạt động đối ngoại, tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết tương trợ và tin cậy lẫn nhau, “thêm bạn, bớt thù”; “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, cố gắng gia tăng “đối tác”, giảm “đối tượng”, tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc. Nhạy bén nắm bắt tình hình, dự báo diễn biến, tình huống, nhất là những khía cạnh có liên quan đến quốc phòng, an ninh của quốc gia, để có chủ trương, biện pháp phòng ngừa, bảo vệ Tổ quốc; có điều kiện ngăn ngừa và ngăn chặn từ trước những mối đe dọa, những âm mưu chống phá từ bên ngoài.    

Trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta cần ra sức khai thác và tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các nước, các phong trào cách mạng, các tổ chức quốc tế. Sự ủng hộ và giúp đỡ đó sẽ góp phần thúc đẩy, tăng cường sức mạnh bên trong, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, kết hợp nội lực với các nguồn lực từ bên ngoài nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN thời kỳ mới.

_____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 3-2013

(1),(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.109-110, 109.         

(2),(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.233, 112.       

ThS Nguyễn Khắc Luyện

Trường Đại học Trần Quốc Tuấn, Bộ Quốc phòng

 

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền