Trang chủ    Giới thiệu    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào giảng dạy các chuyên đề triết học Chương trình cao cấp lý luận chính trị
Thứ tư, 14 Tháng 7 2021 09:10
3051 Lượt xem

Quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào giảng dạy các chuyên đề triết học Chương trình cao cấp lý luận chính trị

(LLCT) - Trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử của các nhà kinh điển mácxít, tác giả bài viết cho rằng, để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào việc giảng dạy các chuyên đề triết học (phần chủ nghĩa duy vật lịch sử) thuộc Chương trình cao cấp lý luận chính trị hiện nay.

Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với từng đối tượng theo hướng cụ thể, thiết thực, hiệu quả là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác lý luận của Đảng ta hiện nay.

1. Để góp phần thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, một trong những công việc trước mắt là phải quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào giảng dạy lý luận chính trị, trong đó có giảng dạy các chuyên đề triết học - nhất là các chuyên đề thuộc phần chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong quan niệm duy vật về lịch sử - một trong hai phát minh vĩ đại của C.Mác (từ dùng của Ph.Ăngghen) và là “thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học” (V.I.Lênin) - học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là nền tảng cho mọi sự nghiên cứu về xã hội, là cơ sở phương pháp luận của các khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị. Học thuyết đó đã giúp cho chúng ta tìm ra quy luật vận động và phát triển cơ bản của xã hội loài người: quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Theo V.I.Lênin, chúng ta chỉ “có thể đem những chế độ của các nước khác nhau khái quát lại thành một khái niệm cơ bản duy nhất là: hình thái xã hội. Chỉ có sự khái quát đó mới cho phép chuyển từ việc mô tả (và từ việc đánh giá theo quan điểm lý tưởng) những hiện tượng xã hội sang việc phân tích hiện tượng đó một cách hết sức khoa học”(1) mà thôi.

2. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là một trong những nội dung quan trọng của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội. Nội dung này được biểu hiện tập trung nhất, cô đọng nhất ở biện chứng giữa kinh tế với chính trị. Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen từng khẳng định: “Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng; do đó, là sự biểu hiện của chính ngay những quan hệ làm cho một giai cấp trở thành giai cấp thống trị; do đó, đó là những tư tưởng của sự thống trị của giai cấp ấy”(2).

Luận điểm trên đây cùng với nhiều luận điểm khác của các nhà kinh điển mácxít cho thấy, trong mối quan hệ với chính trị, kinh tế là nền tảng của chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế; “chính trị là cái kinh tế cô đọng lại” (V.I.Lênin) và nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng, là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực. Tuy nhiên “Chính trị có lôgic khách quan của nó, không phụ thuộc vào những dự tính của cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng này hay đảng khác”(3). Do đó, chính trị tác động trở lại kinh tế. Nếu tác động cùng chiều thì chính trị sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là tác động ngược thì sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế. Để làm sâu sắc hơn nội dung các quan điểm trên đây của các nhà kinh điển mácxít đòi hỏi chúng ta phải tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, vận dụng, bổ sung, phát triển lý luận phù hợp với thực tế Việt Nam.

Trong những năm gần đây, mặc dù tình hình thế giới, khu vực trải qua những biến động to lớn, với những diễn biến nhanh, phức tạp, khó dự báo, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN đang đứng trước nhiều thuận lợi, thời cơ và không ít khó khăn, thách thức, nhiều vấn đề mới đặt ra đòi hỏi phải được giải quyết một cách kịp thời v.v.. nhưng nền kinh thị trường định hướng XHCN của chúng ta, như Đại hội XIII đánh giá: “tiếp tục phát triển; kinh tế vĩ mô ổn định, vững chắc hơn, các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm, tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức khá cao; quy mô và tiềm lực nền kinh tế tăng lên, chất lượng tăng trưởng được cải thiện”(4). Thành tựu về kinh tế đã tác động tích cực đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong đó có chính trị. Đại hội XIII khẳng định: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, tổ chức bộ máy nhà nước tiếp tục được hoàn thiện, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(5).

Đặc biệt, những thành tựu đạt được trong việc thực hiện cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước; trong cải cách hành chính; cải cách tư pháp; trong việc kiện toàn tổ chức bộ máy của tòa án, của viện kiểm sát nhân dân, của cơ quan điều tra, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức và cá nhân; tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân v.v.. Cùng với đó là việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương đến cơ sở v.v.. đã có tác động trực tiếp đến việc hoàn thiện thể chế kinh tế; đến đổi mới mô hình tăng trưởng, đến cơ cấu lại nền kinh tế v.v. tất cả sẽ góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay - như Đại hội XIII đánh giá: “Vấn đề đổi mới đồng bộ, phù hợp giữa kinh tế với chính trị, văn hóa, xã hội, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước có một số mặt còn lúng túng. Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện”(6). Cùng với đó là “Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn thấp... Một số tổ chức cơ sở đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu... Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi... Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt còn lúng túng”(7) v.v.. Đây thực sự là những trở lực lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN ở Việt Nam hiện nay.

3. Một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đại hội XIII đề ra là nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn trong đó có quan hệ “giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”(8). Mối quan hệ này phản ánh quy luật vận động và phát triển cơ bản của xã hội loài người. C.Mác đã từng chỉ rõ: “Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn với những quan hệ sở hữu, trong đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội. Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”(9). Yêu cầu của quy luật này là phải tạo ra được sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Về quan hệ sản xuất, Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”(10).

Để bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, phải là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Các doanh nghiệp nhà nước chủ yếu tập trung vào những lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác(11). Trong bối cảnh lực lượng sản xuất của chúng ta chưa phát triển, không đồng đều thì việc sử dụng nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo càng trở nên cần thiết và hoàn toàn phù hợp với quan điểm của V.I.Lênin về sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH.

Cùng với việc xây dựng và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất, Đảng ta hết sức coi trọng việc phát triển lực lượng sản xuất, trong đó phát triển nguồn nhân lực (người lao động - yếu tố hợp thành quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, hay như V.I.Lênin nói công nhân, người lao động là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại”), nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao - được coi là một trong những đột phá chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong nhiệm kỳ Đại hội XIII và cho cả những năm tiếp theo. Đại hội XIII khẳng định: “Ba đột phá chiến lược do Đại hội lần thứ XI và XII của Đảng xác định vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa, giá trị lâu dài và sẽ được cụ thể hóa phù hợp với từng giai đoạn phát triển”(12).

Một nội dung không kém phần quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất cần phải được quán triệt theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng là: “Tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại”(13). Trước mắt cần phải “Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chú trọng một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới”(14). Tại Đại hội XIII, Đảng ta đặc biệt coi trọng việc “phát triển đồng bộ khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học lý luận chính trị”(15), làm cho tri thức khoa học, tri thức xã hội phổ biến (Wissen, knowledge) chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp (C.Mác).

Hiện nay, chúng ta đang sống trong điều kiện của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức, của quá trình chuyển động từ thế giới “tròn” sang thế giới “phẳng”, một thời kỳ mở ra nhiều cơ hội và cũng không ít thách thức đối với tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ mà Việt Nam không là ngoại lệ. Để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc tinh thần của Đại hội XIII của Đảng, thực sự coi khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.

4. Một trong những điểm khác biệt căn bản, khác biệt về chất giữa triết học Mác với “triết học Đức hiện đại” (từ dùng của C.Mác) chính là “điểm xuất phát”. Triết học Mác không xuất phát từ những giáo điều tùy tiện, phi lịch sử như triết học Đức mà xuất phát từ những con người hiện thực, sống động với tất cả các mối quan hệ đan xen chằng chịt vào nhau. Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cũng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ...”(16). Luận điểm này cùng với một số luận điểm khác (như: trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội v.v) cho thấy, trong triết học Mác, con người luôn luôn chiếm vị trí trung tâm, vì vậy trong các giáo trình triết học Mác - Lênin nói chung, giáo trình đào tạo trình độ cao cấp lý luận chính trị nói riêng có chuyên đề “Quan điểm triết học mácxít về con người” là hết sức cần thiết.

Để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới (theo tinh thần Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9-2-2018 của Ban Bí thư Trung ương Đảng) một cách hiệu quả, trong đó có vấn đề con người, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc quan điểm định hướng phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Đại hội XIII của Đảng đề ra: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”(17). Trước mắt cần tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.

Trong xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam, Đại hội XIII chủ trương: tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội. Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại... để con người Việt Nam thực sự là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển.

Sự ra đời, tồn tại và phát triển của con người luôn luôn gắn liền với hoàn cảnh, với môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và môi trường nhân tạo). Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đồng quan điểm với các nhà duy vật Pháp và cho rằng: “con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy”(18). Hai ông còn nhấn mạnh: “Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những phương tiện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có trong cộng đồng, mới có thể có tự do cá nhân”(19).

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng quan niệm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, đòi hỏi chúng ta phải quán triệt các quan điểm của Đảng tại Đại hội XIII về Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải có “Cơ chế, chính sách, giải pháp để xây dựng môi trường văn hóa thật sự trong sạch, lành mạnh, cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân... Chú trọng xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, dân chủ, đoàn kết, nhân văn... Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, doanh nhân và kinh doanh”(20); Tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người... Môi trường văn hóa, môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh là điều kiện cơ bản để góp phần xây dựng, phát triển con người Việt Nam về nhân cách, đạo đức, lối sống, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật...

Cùng với môi trường văn hóa, môi trường xã hội thì môi trường tự nhiên cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người, đến sự phát triển kinh tế, xã hội. C.Mác đã từng nói rằng: con người là một bộ phận của giới tự nhiên; con người sống bằng giới tự nhiên; giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người. “Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại”(21). Với ý nghĩa đó, việc quán triệt tinh thần Đại hội XIII của Đảng về “Quản lý và sử dụng hiệu quả đất đai, tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu” có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển con người và tiến bộ xã hội. Thống nhất cao độ chủ trương của Đại hội XIII về: tập trung xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu; dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường, dịch bệnh. “Có kế hoạch khắc phục căn bản tình trạng hủy hoại, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp, khu đô thị. Cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của nhân dân. Tập trung xử lý chất thải, thúc đẩy tái sử dụng, tái chế và sản xuất thu hồi năng lượng từ chất thải gắn với hình thành chuỗi sản xuất tiếp nối, liên tục. Huy động, ưu tiên các nguồn lực, thực hiện đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình để bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu”(22).

5. Một nội dung cơ bản khác không kém phần quan trọng của quan niệm duy vật lịch sử là vấn đề nhà nước. Các nhà kinh điển mácxít cho rằng, xã hội loài người đã có lúc chưa có nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của nhà nước gắn liền với những giai đoạn phát triển nhất định của sản xuất xã hội và đến một lúc nào đó xã hội cũng không cần đến nhà nước, khi đó người ta sẽ “đem toàn thể bộ máy nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ: vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và cái rìu bằng đồng”(23).

Hiện nay chúng ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, do đó sự tồn tại của nhà nước là một tất yếu. Tuy nhiên, nhà nước chúng ta là nhà nước “không nguyên nghĩa”, là “nửa nhà nước” (V.I.Lênin), trong đó chức năng tổ chức xây dựng, chức năng xã hội đóng vai trò chính, vai trò chủ đạo trên cơ sở bảo đảm sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính nhân dân của nhà nước.

Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định, nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay là: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo... Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”(24).

Đại hội XIII đặc biệt coi trọng việc xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch; xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, Đại hội XIII chủ trương “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, phục vụ nhân dân và sự phát triển của đất nước... Đồng thời, có cơ chế sàng lọc, thay thế kịp thời những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, kỷ luật, đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, bị xử lý kỷ luật, không còn uy tín đối với nhân dân”(25).

Chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng, bên cạnh những kết quả đạt được, hiện nay việc “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và quản lý nhà nước trong tình hình mới”(26). Hạn chế này cần phải sớm khắc phục để góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ và vì sự phát triển bền vững của đất nước.

6. Để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn... đòi hỏi chúng ta phải quán triệt sâu sắc các văn kiện Đại hội XIII của Đảng; đưa việc bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đi vào nền nếp, nhất quán từ Trung ương đến cơ sở, phù hợp với từng đối tượng; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(27) như Nghị quyết Đại hội XIII đề ra phải được coi là một trong những nhiệm vụ cấp bách hiện nay của chúng ta.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2021

(1) V.I.Lênin: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.163.

(2), (16), (18), (19) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.66-67, 37-38, 55, 108.

(3) V.I.Lênin, Toàn tập, t.14, Nxb Tiến Bộ, Mátxcơva, 1981, tr.246.

(4), (5), (6), (7), (8), (10), (11), (12), (13), (14), (15), (17), (20), (22), (24), (25), (26), (27) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.59, 71, 89, 91-93, 119, 129, 129,203, 140, 115, 140, 115-116, 144, 154, 174-175, 178-179, 89, 180-181.

(9) C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, t.13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.15.

 (21) C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, t.42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.135.

 

(23) C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.258.

PGS, TS Trần Sỹ Phán

Viện Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền