Trang chủ    Giới thiệu    Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng    Định hướng tổ chức thực hiện các đột phá chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
Thứ sáu, 15 Tháng 10 2021 15:57
1507 Lượt xem

Định hướng tổ chức thực hiện các đột phá chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

(LLCT) - Để thực hiện được những mục tiêu do Đại hội XIII của Đảng đề ra, vấn đề có tính quyết định là tổ chức thực hiện ba đột phá chiến lược nhằm tạo sự bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tổ chức thực hiện ba đột phá chiến lược đòi hỏi phải thống nhất nhận thức, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội; đổi mới tư duy, thực hiện thắng lợi các trọng tâm.

Tranh cổ động Đại hội XIII. Nguồn: hcmcpv.org.vn

Ba đột phá chiến lược của Đại hội XIII vừa kế thừa ba đột phá chiến lược do Đại hội XI, XII đề ra, vừa bổ sung, cụ thể hóa cho phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Vì vậy, cần tập trung đầu tư nguồn lực và đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, tạo sự chuyển biến về chất trong việc thực hiện ba đột phá chiến lược.

1. Đổi mới tư duy trong thực hiện các trọng tâm của ba đột phá chiến lược

Thực hiện ba đột phá chiến lược là nhiệm vụ hết sức khó khăn, phức tạp. Tính chất “chiến lược” của ba đột phá này, một mặt, thể hiện tầm cỡ của nhiệm vụ mà khi thực hiện có hiệu quả sẽ “làm chuyển động mạnh mẽ toàn bộ tình hình kinh tế- xã hội của đất nước theo hướng đã định”; mặt khác, nhiệm vụ này không phải được thực hiện trong ngắn hạn, mà bao quát cả thời kỳ chiến lược theo một lộ trình nhất định. Việc thực hiện ba đột phá chiến lược còn phải đặt trong sự kết hợp chặt chẽ với thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng...

Ngoài việc bảo đảm các nguồn lực cần thiết và có một tổ chức đủ năng lực, cần phải đổi mới tư duy, trong đó có cả những đột phá về tư duy, được coi là điều kiện tiền đề tạo nền tảng cơ bản để thực hiện có kết quả các trọng tâm của ba đột phá chiến lược:

Việc thực hiện các trọng tâm của ba đột phá chiến lược chỉ có thể mang lại kết quả mong muốn khi các phương hướng, giải pháp và tổ chức thực hiện dựa trên nền tảng tư duy mới, thoát khỏi ảnh hưởng và ràng buộc của tư duy cũ.

Trong đột phá về hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trước hết là hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, việc đặt trọng tâm vào “ưu tiên hoàn thiện đồng bộ, có chất lượng và tổ chức thực hiện tốt hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, lành mạnh, công bằng cho mọi thành phần kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo...” là hợp lý, không phải chỉ vì yêu cầu bức xúc giải quyết tình trạng bất bình đẳng trong cạnh tranh đã tồn tại từ nhiều năm nay, mà chủ yếu là vì, để thực hiện điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi căn bản trong cơ chế, chính sách của Nhà nước và trong hành xử của các cơ quan quản lý nhà nước theo hướng xóa bỏ những ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước, xóa bỏ cơ chế xin - cho, thực sự công khai, minh bạch, công bằng về các nguồn lực phát triển, về các yếu tố sản xuất...

Tư duy về cải cách hành chính phải dựa trên nền tảng cơ bản về đổi mới vai trò và chức năng của Nhà nước hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Xử lý tốt mối quan hệ Nhà nước - thị trường - doanh nghiệp - công dân, trong đó Nhà nước phải chuyển từ vai trò Nhà nước điều hành trực tiếp các hoạt động kinh tế - xã hội sang vai trò Nhà nước kiến tạo phát triển, phục vụ nhân dân, doanh nghiệp. Theo đó, chức năng của Nhà nước là: định hướng phát triển kinh tế - xã hội; tạo lập đồng bộ thể chế phát triển, tạo môi trường thuận lợi nhất để huy động các nguồn lực vào phát triển kinh tế - xã hội; kiểm tra và giám sát hoạt động của các chủ thể, điều chỉnh sai lệch, hướng sự nỗ lực của cả cộng đồng xã hội để thực hiện phát triển bền vững đất nước. Nền hành chính nhà nước đó phải là nền hành chính phục vụ và điều cơ bản cần thay đổi là thực sự định hướng phục vụ công dân và cộng đồng doanh nghiệp, lấy mức độ hài lòng của họ làm cơ sở đánh giá hiệu quả của cải cách hành chính.

Tư duy trong đột phá phát triển nguồn nhân lực phải bắt đầu từ nhận thức vai trò của nguồnnhân lực không phải chỉ trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung, mà trực tiếp trong mối quan hệ với hai đột phá còn lại. Trong mối quan hệ ấy, có thể khẳng định rằng, đột phá về phát triển nguồn nhân lực có vai trò chi phối việc thực hiện các đột phá chiến lược khác, vì chính con người thiết lập và thực thi thể chế phát triển đất nước, thể chế kinh tế, tạo lập môi trường, xây dựng và vận hành bộ máy quản lý, quy hoạch và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Do vậy, đối tượng ưu tiên trong phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng với việc thực hiện chính đột phá này. Với vai trò “chi phối” trong mối quan hệ với hai đột phá chiến lược nêu trên, đối tượng nhân lực cần được dành ưu tiên phải là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và cấp hoạch định đường lối, chính sách - đội ngũ đóng vai trò đầu tàu và chi phối các loại nhân lực khác...

Nền tảng đổi mới tư duy trong việc thực hiện trọng tâm “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục” không phải chỉ với các nhà hoạch địnhđường lối và chính sách, trong đó có các nhà quản lý giáo dục, mà là với toàn xã hội về sứ mệnh của nền giáo dục và đào tạo. Bốn trụ cột của giáo dục trong thế kỷ XXI của UNESCO(1)cần được vận dụng như cơ sở trọng yếu để xác định triết lý và mục tiêu của phát triển giáo dục Việt Nam. Ở Việt Nam, cản trở lớn nhất với việc đưa nguyên lý này vào cuộc sống là tư tưởng “trọng bằng cấp” còn chi phối nặng nề trong toàn xã hội. Tư tưởng này cũng lại bắt nguồn từ việc chưa nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa “bằng cấp và giáo dục”: nói đến giáo dục - đào tạo là nói đến nhà trường; bằng cấp là chứng chỉ về trình độ giáo dục - đào tạo đã nhận được.

Thật ra, giáo dục là quá trình tiếp thu kiến thức và kỹ năng bằng những hình thức khác nhau, ở những môi trường khác nhau, với những người khác nhau. Kiến thức và kỹ năng ấy sẽ giúp mỗi người cải thiện cuộc sống của chính mình và của cộng đồng theo những cách nhất định. Giáo dục, do đó, là cái diễn ra trong đầu mỗi người, chứ không phải chỉ trong lớp học. Theo đó, giáo dục là dài hạn, là một hành trình học hỏi trọn đời, thì bằng cấp là chứng chỉ minh chứng việc hoàn thành một khóa đào tạo trong một thời gian xác định của mỗi người. Theo tinh thần ấy, “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân” không phải chỉ là giải quyết các vấn đề của nhà trường và trong nhà trường, mà quan trọng hơn là xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập và làm cho mọi người nhận thức rõ mục tiêu của học tập không chỉ là đạt tới một bằng cấp nào đó, mà với mục tiêu tiếp thu kiến thức, nâng cao năng lực và kỹ năng để làm việc có hiệu quả hơn.

Với đột phá xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội, khó khăn lớn chính là mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo đảm “đồng bộ, hiện đại” với nguồn lực đang rất hạn chế. Giải quyết mâu thuẫn này phải có sự thay đổi về tư duy từ khâu quy hoạch, lựa chọn các ưu tiên, đến phương thức huy động các nguồn lực và triển khai thực hiện các dự án đầu tư.

Việc đổi mới tư duy trong xây dựng quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần tránh hai khuynh hướng: đưa ra những nội dung thể hiện “mong muốn” thoát ly thực tế (nguyên nhân của nhiều quy hoạch treo); tư tưởng cục bộ địa phương (một dạng của lợi ích nhóm). Chẳng hạn, trong điều kiện nguồn lực có hạn, xây dựng quy hoạch hệ thống giao thông thì không thể dàn trải cho tất cả các loại giao thông và cho tất cả các vùng (các địa phương), mà phải tập trung vào những trọng tâm nhất định và dành ưu tiên cần thiết cho những trọng tâm ấy để có thể phát huy tác động mạnh và nhanh nhất đến giải tỏa điểm nghẽn vận tải...

Đa dạng hóa các kênh huy động vốn cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay là hiện thực hóa tư duy này trong việc xây dựng từng cơ chế, chính sách, thể chế cụ thể và bảo đảm môi trường ổn định để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.

2. Chọn khâu đột phá của các đột phá chiến lược giai đoạn 2021 - 2025 để thực hiện

Việc lựa chọn đúng và trúng khâu đột phá trong thực hiện từng đột phá chiến lược giai đoạn 2021 - 2025 để tập trung cao độ nguồn lực thực hiện cho bằng được, nhằm tạo “đột phá” để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề quan trọng hàng đầu. Vấn đề là cần lựa chọn khâu đột phá như thế nào để kinh tế - xã hội đất nước trong những năm 2021-2025 thực sự bứt phá, đạt được mục tiêu: đến năm 2025 nước ta là nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đó là câu hỏi chiến lược phải được trả lời cấp thiết.

Theo chúng tôi, về đột phá thứ nhất, chọn khâu đột phá là tạo lập đồng bộ thể chế phát triển, tạo ra môi trường pháp lý, môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi nhất, dựa trên cơ chế thịtrường để mọi chủ thể kinh tế và cả nền kinh tế huy động tối đa, phân bổ hợp lý, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực xã hội vào sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của từng mặt hàng, từng doanh nghiệp và cả nền kinh tế. Dứt khoát xóa bỏ cơ chế xin - cho, thực sự công khai, minh bạch, công bằng và trách nhiệm trong phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ chế thông thoáng, cạnh tranh công bằng, bình đẳng, lành mạnh giữa các chủ thể kinh tế.

Về đột phá thứ hai, chọn khâu đột phá nhân lực chất lượng cao: ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và nhân lực đáp ứng công cuộc chuyển đổi số quốc gia, phát triển nền kinh tế số, xã hội sốcả về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Có cơ chế đặc thù tuyểndụng, sử dụng, đãi ngộ người tài. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo - coi đó là nền tảng, là động lực cho phát triển. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí phấn đấu vươn lên, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Về đột phá thứ ba, chọn khâu đột phá là phát triển đồng bộ, hiện đại một số công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, thích ứng biến đổi khí hậu và hạ tầng thông tin, viễn thông, tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, từng bước phát triển kinh tế số, xã hội số.

3. Định hướng giải pháp tổ chức thực hiện các đột phá chiến lược giai đoạn 2021 - 2025

“Không có thực thi, bất kỳ chính sách, luật pháp, quy định cũng như các khuyến nghị chiến lược nào sẽ vẫn chỉ là một bằng chứng về các ý định tốt. Thực thi cũng là phần thách thức nhất của bất kỳ chiến lược nào”(2). Như vậy, việc tổ chức thực hiện sẽ luôn là một đòi hỏi, một điều kiện có ý nghĩa quyết định việc hiện thực hóa các đường lối, chủ trương, chính sách, trong đó bao gồm cả những đột phá chiến lược đã được lựa chọn. Và để thực thi một cách hiệu quả, cần thiết phải triển khai một số giải pháp chung chủ yếu sau:

Thứ nhất, giải pháp về nhận thức, cần hiểu đúng và đồng thuận

Một trong những nguyên nhân quan trọng hàng đầu khiến công tác tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, ba đột phá chiến lược chưa tốt chính là nhận thức chưa có sự thống nhất trong cách hiểu, cách hành động. Vì vậy, vấn đề đầu tiên cần giải quyết là hiểu đúng vấn đề và sự đồng thuận cao trong xã hội.

Hiểu đúng bản chất của vấn đề là điều kiện tiền đề quan trọng trước tiên. Với các nội hàm của các đột phá chiến lược, thiết nghĩ, đã rất rõ ràng. Điều cần hiểu đúng là ở chỗ, do đây là các đột phá chiến lược, nên một mặt, nhất thiết cần được ưu tiên các nguồn lực để thực hiện. Mặt khác, nội dung của các đột phá được thể hiện ở mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi cấp, nên phải được cụ thể hóa thành các chương trình, dự án ở mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương và được triển khai đồng thời, thống nhất.

Đồng thuận toàn xã hội trong việc triển khai thực hiện các đột phá chiến lược là điều kiện tiền đề quan trọng tiếp theo, bởi nhờ sự đồng thuận mà huy động được tổng lực cho việc thực hiện các đột phá chiến lược.

Để góp phần giúp cho mọi người, nhất là các cơ quan điều hành tổ chức thực hiện, hiểu đúng và đồng thuận, cần tổ chức thật tốt công tác tuyên truyền, cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin cần thiết về đột phá chiến lược.

Thứ hai, giải pháp về tổ chức, tập trung thống nhất và phân quyền, ủy quyền một cách rõ ràng, cụ thể

Trên cơ sở nhận thức đúng bản chất vấn đề và đạt sự đồng thuận xã hội, để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đặt ra, bước quan trọng tiếp theo là công tác tổ chức, điều hành. Công tác tổ chức cần bảo đảm tính tập trung thống nhất, kết hợp với sự phân công phân nhiệm nhiệm vụ, trách nhiệm rõ ràng, bảo đảm vừa phát huy được sức mạnh tổng thể từ sự chỉ huy thống nhất, vừa phát huy được tính năng động, sáng tạo của các cấp, các ngành, các địa phương.

Tập trung thống nhấtlà yêu cầu đầu tiên của công tác tổ chức, điều hành để bảo đảm tính hướng đích, toàn cục. Thực hiện các đột phá chiến lược là nhằm nhanh chóng đạt mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể mà Đại hội XIII của Đảng đề ra. Nếu mọi khâu, mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương tự đánh giá là đã làm tốt các nhiệm vụ, nhưng tổng thể quốc gia đến năm 2030, Việt Nam chưa trở thành “nước công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm nước có mức thu nhập trung bình cao”thì vẫn là chưa đạt yêu cầu, chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Phân quyền và ủy quyềnlà một trong những cách thức thực hiện tập trung thống nhất một cách hiệu quả trong bối cảnh phát huy mạnh mẽ chế độ dân chủ thông qua một cơ chế rõ ràng, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình. Theo nguyên tắc này, Chính phủ có thể phân một số quyền (về ngân sách, nhân sự, tổ chức...) vốn trước đây vẫn làm cho các ngành, các địa phương để họ chủ động căn cứ vào tình hình thực tế mà quyết định, bớt đi những thủ tục hành chính không cần thiết, nhằm đem lại hiệu quả cao hơn. Chính phủ cũng có thể ủy quyền cho các địa phương, ngành thực hiện một số nhiệm vụ với các điều kiện kèm theo và kiểm soát việc thực hiện của cấp dưới về những công việc đã ủy quyền. Vấn đề mấu chốt của việc thực hiện phân quyền và ủy quyền là một cơ chế mang tính pháp lý rõ ràng, minh bạch về trách nhiệm của các bên tham gia.

Thứ ba, giải pháp về huy động nguồn lực cần đầy đủ, kịp thời

Việc thực hiện thành công các đột phá chiến lược phụ thuộc trước hết vào khả năng có được các nguồn lực một cách đầy đủ, kịp thời.

Tính đầy đủ của các nguồn lựcđược hiểu là quy mô các nguồn lực phải tới tầm, các nguồn lực phải toàn diện, bao gồm nhân lực, tài lực, vật lực, thông tin..., và từ nhiều nguồn: trong nước và quốc tế, khu vực kinh tế nhà nước và khu vực ngoài nhà nước.

- Tính kịp thời là yêu cầu đúng thời gian, đúng nơi cần thiết, bảo đảm việc thực hiện được liên tục, thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực.

Thời gian qua, hiện tượng đầu tư dàn trải, nhiều dự án thi công kéo dài, dự án “treo” gây ra tình trạng lãng phí nguồn lực, hiệu quả thấp xảy ra khá phổ biến và đã được nói tới rất nhiều năm, nhưng chậm được khắc phục. Để khai thác và sử dụng được các nguồn lực một các đầy đủ, kịp thời, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp cải cách hành chính và kinh tế (đã được nêu chi tiết trong các Nghị quyết số 01 và 02 hằng năm của Chính phủ), trong đó đặc biệt chú ý các giải pháp huy động nguồn vốn xã hội dưới hình thức hợp tác công tư.

Thứ tư, giải pháp về lộ trình, bước đi: tiếp cận tổng thể, thực hành thứ tự

Xác định đúng lộ trình, bước đi là giải pháp thực thi đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể, toàn diện trong lập chương trình, kế hoạch với các mục tiêu trung gian và các bước triển khai thực hành theo thứ tự công việc, thời gian, địa điểm.

- Tiếp cận tổng thể yêu cầu phải nhìn nhận các nhiệm vụ một cách toàn diện, biện chứng, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố thời đại, trong đó đặc biệt chú ý đến bối cảnh quốc tế, đến thực tiễn của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra nhanh chóng và đặt ra nhiều vấn đề mới, khác hẳn trước đây, trong quá trình thực hiện các đột phá chiến lược.

- Thực hành thứ tự: dễ trước khó sau, đơn giản trước, phức tạp sau, triển khai và tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện.

Thứ năm, giải pháp về “cơ chế, chính sách khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.Đây là vấn đề rất mới và cũng rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Công cuộc đổi mới đang đi vào chiều sâu, nhiều vấn đề mới xuất hiện nhưng những quy định pháp lý hiện hành chưa đầy đủ hoặc chất lượng thấp đã ảnh hưởng không nhỏ, thậm chí gây tắc nghẽn quá trình vận hành của các hoạt động kinh tế - xã hội. Mấy năm gần đây, do tác động của nhiều nguyên nhân, tình hình trì trệ có xu hướng gia tăng (đầu tư công giải ngân chậm, các dự án tiến hành chậm chạp...), đã ảnh hưởng không chỉ đến các hoạt động kinh tế - xã hội mà còn cả tới việc thực hiện các đột phá chiến lược. Vì vậy, đã đến lúc cần xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc trì trệ thực thi công vụ. Đồng thời, cần ban hành chính sách, cơ chế “khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”. Nâng cao hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, làm tốt chức năng hỗ trợ, thúc đẩy phát triển. Không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự.

__________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 7-2021

(1) “Giáo dục phải được tổ chức xoay quanh bốn loại hình cơ bản mà trong một cuộc đời mỗi con người, chúng sẽ là những trụ cột của kiến thức: Học để biết là nắm những công cụ để hiểu; Học để làm là phải có những khả năng hoạt động sáng tạo tác động vào môi trường sống của mình; Học để cùng chung sống là tham gia và hợp tác với những ngườikhác trong mọi hoạt động của con người; Học để làm người là sự tiến triển quan trọng nảy sinh từ baloại hình trên”.

(2) OECD - “Báo cáo đánh giá quốc gia đa chiều của Việt Nam”, tháng 12-2020.

PGS, TS VŨ VĂN PHÚC

Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học các cơ quan Đảng Trung ương

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền