Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Quá trình vận dụng lý luận về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ tư, 16 Tháng 12 2015 16:30
26063 Lượt xem

Quá trình vận dụng lý luận về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ở Việt Nam

(LLCT) - Hơn 60 năm qua kể từ khi miền Bắc Việt Nam hoàn toàn được giải phóng, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH); gần 40 năm đất nước thống nhất, cả nước cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, qua những thăng trầm của cách mạng XHCN với không ít sai lầm, khuyết điểm trong nhận thức, lý luận về CNXH, con đường đi lên CNXH, cùng những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử mà đất nước ta giành được từ năm 1986 đến nay đã cho nhiều cứ liệu để xem xét, đánh giá một cách khách quan về việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, lý luận mácxít về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa nói riêng nhằm hiện thực hóa xã hội XHCN ở Việt Nam.

 

Đi lên CNXH đã được xác định trong Cương lĩnh năm 1930: Cách mạng Việt Nam sẽ trải qua 2 giai đoạn - Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (giành độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho nông dân), sau đó sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là CNXH. Nói cách khác: mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã được xác định nhất quán từ ngày thành lập Đảng đến nay.

Kiên định với mục tiêu đó, sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo miền Bắc đi lên CNXH, đồng thời tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Miền Bắc quá độ lên CNXH làm hậu phương vững chắc cho miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Xây dựng CNXH ở miền Bắc chính là quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng lý luận về cách mạng XHCN, trong đó có lý luận về hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, hiện thực hóa thành chế độ xã hội XHCN.

Ở thời kỳ này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cố gắng vận dụng những quan điểm khái quát nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin về mô hình XHCN với các đặc trưng (tiêu chí) trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng Cộng sản và Nhà nước XHCN.

Về phương diện kinh tế: Vận dụng các quan điểm Mác - Lênin về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH - giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương xây dựng một nền kinh tế quốc dân “có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại; khoa học, kỹ thuật tiên tiến”.

Về phương diện chính trị: Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là luôn luôn gắn độc lập dân tộc với CNXH, coi đó là hai nhiệm vụ chiến lược trong điều kiện Việt Nam còn chia làm 2 miền với các nhiệm vụ chính trị khác nhau. Đây là điểm rất sáng tạo trong thực hiện cách mạng XHCN ở Việt Nam. Hậu phương lớn được xác lập, tạo niềm tin vững chắc vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Về phương diện văn hóa: Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng các quan điểm mácxít về cách mạng tư tưởng và văn hóa để xây dựng nền văn hóa Việt Nam mới: văn hóa XHCN.

Về phương diện xã hội: Đảng Cộng sản Việt Nam đã cố gắng thực hiện, giải quyết các vấn đề công bằng, bình đẳng xã hội; chủ trương lấy phân phối theo lao động làm nguyên tắc chủ yếu. Trong quan hệ tộc người luôn giữ những nguyên tắc bình đẳng, cùng tiến bộ trong quốc gia đa dân tộc.

Về con người: Xây dựng con người mới XHCN với những yêu cầu mới đặt ra ở Việt Nam. Giáo dục tấm gương đạo đức con người mới XHCN được quan tâm.

Về chính sách đối ngoại: Việt Nam chủ trương tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước trong phe XHCN và các lực lượng yêu chuộng hòa bình, dân chủ trên thế giới. Giữ vững các nguyên tắc đối ngoại theo quan điểm chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân.

Tuy nhiên, những nhận thức, vận dụng lý luận mácxít về hình thái kinh tế - xã hội CSCN vào xây dựng CNXH ở Việt Nam thời kỳ này còn nhiều hạn chế, khuyết điểm, thậm chí đã vấp phải những sai lầm trong nắm bắt, kết hợp “cái phổ biến” và “cái đặc thù” của CNXH và con đường đi lên CNXH để hiện thực hóa xã hội XHCN ở Việt Nam. Những khuyết điểm, sai lầm đó chính là nguyên nhân trực tiếp đưa đất nước đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng những năm 80 thế kỷ XX.

Đại hội VI của Đảng (1986) với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” đã nghiêm túc chỉ ra những khuyết điểm sai lầm đó.

Văn kiện Đại hội chỉ rõ: những khuyết điểm trong hoạt động tư tưởng, tổ chức và cán bộ là nguyên nhân của các nguyên nhân, “trước những biến động và thử thách của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoạt động tư tưởng và tổ chức của Đảng đã không theo kịp yêu cầu của cách mạng”. Trong lĩnh vực tư tưởng “đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận và vận dụng các quy luật đang hoạt động trong thời kỳ quá độ: đã mắc bệnh duy ý chí, giản đơn hóa, muốn thực hiện nhanh chóng nhiều mục tiêu của CNXH trong điều kiện nước ta mới ở chặng đường đầu tiên. Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế chưa thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan. Do đó không chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ trương, chính sách kinh tế. Chưa chú ý đến việc tổng kết kinh nghiệm thực hiện của mình và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước anh em”(1).

Đảng Cộng sản Việt Nam còn chỉ ra rất cụ thể những yếu kém, lạc hậu trong nhận thức về CNXH, về công nghiệp hóa, về cải tạo XHCN, về các cơ chế quản lý, phân phối, lưu thông: “Nhiều năm nay, trong nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu, nhất là những quan niệm về công nghiệp hóa, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối, lưu thông, v.v.”(2).

Từ đó, đổi mới, nhận thức về CNXH đã trở thành vấn đề cốt tử của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Đánh giá đúng những khuyết điểm, sai lầm trong nhận thức, vận dụng lý luận Mác - Lênin về CNXH và xây dựng CNXH là tiền đề để đổi mới tư duy, lý luận.

Trước Đổi mới, chúng ta chỉ căn cứ vào mô hình CNXH kiểu Xôviết (mang tính dập khuôn, máy móc, giáo điều và áp đặt bằng mệnh lệnh, hành chính) mà chưa xác định được đâu là mô hình, diện mạo, các tiêu chí cần đạt tới của xã hội XHCN ở Việt Nam.

Ngay cả mục tiêu của CNXH ở Việt Nam cũng không được xác định rõ ràng, cụ thể, thậm chí coi mục tiêu lâu dài như mục tiêu trước mắt, nôn nóng muốn hiện thực hóa lý tưởng CNXH mà không tính đến đặc điểm tình hình đất nước với những khó khăn của quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa... Ở nhiều lĩnh vực (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) đã xa rời các quan điểm Mác - Lênin về sự tồn tại xen kẽ của cái cũ và cái mới, tính chất quá độ phải được nhận thức và vận dụng trong các quy luật kinh tế hàng hóa, nhiều tổ chức kinh tế - xã hội mang tính quá độ. Các nhiệm vụ cần thực hiện trong các chặng đường quá độ, các bước trung gian cần thiết của thời kỳ quá độ đã không được xác định rõ... Chủ trương xóa bỏ ngay các thành phần kinh tế “phi XHCN” cùng với quan niệm duy ý chí, siêu hình: “lấy quan hệ sản xuất tiên tiến mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển” đã kìm hãm, triệt tiêu nhiều động lực để phát triển đất nước.

Với thái độ phủ nhận tuyệt đối những thành quả của nhân loại trong giai đoạn phát triển của CNTB, với tư tưởng đối lập một cách máy móc giữa CNXH và CNTB, đối lập cả khoa học, kỹ thuật của CNTB với khoa học, kỹ thuật của CNXH...

Hạn chế, khuyết điểm lớn nhất trong nhận thức, vận dụng lý luận về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam là không gắn lý luận với thực tiễn, không xuất phát từ thực tiễn của đất nước để xác định rõ mục tiêu, mô hình, bản chất, các nội dung, đặc điểm của CNXH ở Việt Nam và các phương hướng, cách thức, lộ trình đi lên CNXH một cách phù hợp. Nhiều quan điểm Mác - Lênin, nhất là quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển... đã không được tuân thủ mà bị xa rời, thậm chí chệch hướng chỗ này hay chỗ khác.

Những hạn chế, khuyết điểm chung trong nhận thức, vận dụng lý luận về CNXH ở Liên Xô, Đông Âu đã không được phát hiện mà để kéo dài cho đến khi khủng hoảng trầm trọng trong toàn hệ thống CNXH thì Liên Xô và các Đảng Cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam mới chủ trương cải tổ, đổi mới, và với những sai lầm tiếp theo dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống XHCN, Đảng Cộng sản mới có sự nhận thức, vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận mácxít về CNXH và xây dựng CNXH.

Thành quả vận dụng và phát triển lý luận Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam có thể nhận thấy ở những cống hiến của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đổi mới nhận thức, tư duy về các đặc trưng của xã hội XHCN mà Việt Nam xây dựng, về các phương hướng quá độ lên CNXH và các mối quan hệ lớn cần quán triệt và giải quyết trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài để hiện thực hóa các phương hướng đã xác định.

Năm 1991 đã ghi dấu mốc trên tiến trình đổi mới tư duy, nhận thức về CNXH và xây dựng CNXH thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hộiở Việt Nam. Lần đầu tiên Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định được 6 đặc trưng của xã hội XHCN, 7 phương hướng quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Cương lĩnh mở ra tiền đề để bổ sung, phát triển, cụ thể hóa trong các Đại hội Đảng tiếp theo.

Cùng với các đặc trưng, phương hướng để hiện thực hóa các đặc trưng của xã hội XHCN, hàng loạt các vấn đề lý luận khác cũng đã được bổ sung, phát triển, đổi mới cho phù hợp với thực tiễn sinh động của đất nước... Đó là các vấn đề về mục tiêu, động lực của công cuộc xây dựng CNXH; những nhận thức mới về đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, giải quyết các quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; vấn đề đấu tranh giai cấp trong điều kiện hiện nay; về đặc điểm, nội dung của quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam, v.v.

Từ sau Đại hội VII (1991) đến Đại hội XI (2011), các nhiệm kỳ đại hội của Đảng đều cân nhắc, xem xét ở các mức độ khác nhau những vấn đề liên quan đến CNXH và con đường đi lên CNXH  ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới đã giúp Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam từng bước làm sáng tỏ hơn về xã hội XHCN và con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đúc kết bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước.

Đến nay, việc vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận Mác - Lênin về CNXH đã được phản ánh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua. Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng được xác định 8 đặc trưng cơ bản: Là xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Do nhân dân làm chủ; Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng Cộng sản lãnh đạo; Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Tám đặc trưng cơ bản nêu trên là thành quả của sự bổ sung, phát triển, điều chỉnh từ 6 đặc trưng đã xác định từ Cương lĩnh năm 1991, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù trong các đặc trưng của xã hội XHCN mà chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định; tiếp thu, phát triển sáng tạo các quan điểm rất độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam.

Cùng với 8 đặc trưng về xã hội XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định 8 phương hướng quá độ lên CNXH: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường; Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại, độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Tám phương hướng này cũng là thành quả của nhiều năm đổi mới trên cơ sở thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam có kế thừa, điều chỉnh, bổ sung, phát triển các nội dung có từ 7 phương hướng đã được xác định từ Cương lĩnh năm 1991. Đó cũng chính là đường hướng cơ bản để đi lên CNXH ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay.

Một nội dung rất mới, bước tiến của Đảng trong nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là tại Đại hội XI đã xác định các mối quan hệ lớn cần quán triệt và giải quyết trong khi thực hiện các phương hướng quá độ lên CNXH ở Việt Nam.

Tám mối quan hệ lớn đó là: Giữa đổi mới, ổn định và phát triển; Giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; Giữa kinh tế thị trường và định hướng XHCN; Giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; Giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ.

Quán triệt, giải quyết các mối quan hệ lớn là giải pháp cấp bách thể hiện cách thức, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam trên cơ sở vận dụng và phát triển quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam đã và đang đi vào chiều sâu, vừa thể hiện những cống hiến, đóng góp của Đảng Cộng sản Việt Nam về lý luận nhận thức CNXH và về con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đồng thời, thực tiễn sinh động đang đặt ra hàng loạt vấn đề cần tiếp tục có các câu trả lời thỏa đáng, thuyết phục về mô hình xã hội XHCN ở Việt Nam, về cụ thể hóa phương hướng, bước đi, lộ trình quá độ lên CNXH trong những năm trước mắt và những thập kỷ tới...

Hơn lúc nào hết phải nghiêm túc tổng kết thực tiễn, tiếp tục quán triệt các bài học lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đúc kết trên con đường đổi mới, trong đó có các bài học được đúc kết qua gần 30 năm đổi mới. Một bài học luôn có giá trị lý luận và phương pháp luận cho đổi mới tư duy, nhận thức, phát triển lý luận Mác - Lênin về CNXH được Đại hội XI đúc kết là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn.

Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 1-2015

* Nghiên cứu này cùng với các bài của PGS, TS Nguyễn Quốc Phẩm: Lý luận Mác- Lênin về hình thái kinh tế- xã hội và những luận điểm cần bổ sung, phát triển, số 7 - 2014; PGS, TS Nguyễn Chí Dũng: Quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay, số 8 - 2014; PGS, TS Nguyễn Quốc Phẩm: Quan niệm của các học giả Nga về lý luận hình thái kinh tế - xã hội, số 9 - 2014 được tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và công nghệ quốc gia (Nafosted) trong đề tài mã số: L1.1-2012.08.

(1), (2), ĐCSVN:Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.26, 132-133.

PGS, TS Nguyễn Quốc Phẩm

Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền