Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
Thứ hai, 21 Tháng 12 2015 10:57
2740 Lượt xem

Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

(LLCT) - Ngày 28-11-2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013). Đây là sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta. Hiến pháp năm 2013 vừa kế thừa được những giá trị to lớn của các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992, vừa thể chế hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm, phương hướng phát triển đất nước đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), phản ánh được ý chí, nguyện vọng, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, tạo nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới.

 

Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa đầy đủ và sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ XHCN và bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Đây là quan điểm nền tảng xuyên suốt nội dung Hiến pháp năm 2013, chỉ rõ nguồn gốc, bản chất, mục đích, sức mạnh của quyền lực nhà nước ta là ở nhân dân, thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước; khẳng định mạnh mẽ “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều điểm đổi mới quan trọng liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân. Những thay đổi này nhằm tăng cường việc bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, quyền con người, quyền công dân; tăng cường hệ thống tư pháp để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và bảo đảm vị trí “tối thượng” của pháp luật.

Trong xã hội pháp quyền, Toà án là nơi mà mọi người tìm đến lẽ phải, tìm đến công lý, Toà án cung cấp cho xã hội phương thức hữu hiệu để xác định sự thật và công bằng trong hành động của các chủ thể. Sự phát triển kinh tế với mục đích làm cho xã hội trở nên phồn thịnh cũng cần có những thiết chế để giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể, đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, công bằng; thiết chế đó không gì khác chính là Toà án. Việc quyết định cho tư pháp có quyền phán xét các hành vi, quyết định của cơ quan công quyền là một bước tiến vượt bậc của dân chủ và văn minh nhân loại. Không thể có dân chủ nếu hệ thống tư pháp đối xử không công bằng và không bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.

Chân lý khách quan bao giờ cũng được xác định thông qua hoạt động xét xử của Toà án. Quá trình xét xử đối với bất kỳ vụ việc nào, cho dù là dân sự, hình sự, hành chính, lao động..., thực chất đều là quá trình đi tìm công lý của các bên: người dân tìm đến Toà án để hy vọng và mong muốn, hy vọng công lý sẽ đến với mình; Toà án có nhiệm vụ tìm ra và mang lại công lý cho người dân và khẳng định cho toàn xã hội biết rằng công lý được thực thi.

Thực tiễn gần 30 năm đổi mới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án ngày càng nhiều về số lượng và phức tạp về tính chất. Trước yêu cầu đó, ngành Tòa án trong cả nước cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp... đã tập trung giải quyết một số lượng lớn các vụ việc, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các tổ chức và công dân. Tuy nhiên, thực tế vẫn còn tồn tại những hạn chế trong hoạt động xét xử các vụ việc dẫn đến nhiều bản án, quyết định của Tòa án bị hủy, sửa theo quy định pháp luật. Do vậy, việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Tòa án là một yêu cầu cấp thiết đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân ở nước ta hiện nay. 

Điều 126 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân”. Như vậy, Hiến pháp năm 1992 đồng nhất nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. Theo Hiến pháp năm 2013, chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân được xác định cụ thể, rõ ràng hơn, tách biệt với chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân. Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ: “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (Khoản 3, Điều 102 Hiến pháp năm 2013). Như vậy, nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” đã được ghi nhận là nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án nhân dân. Theo đó, công lý, quyền con người, quyền công dân là mục đích của việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, bao gồm cả quyền tư pháp.

Điều 3 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Quy định này nhấn mạnh bốn trách nhiệm của Nhà nước: “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, quy định này đặt ra trách nhiệm hết sức to lớn và nặng nề đối với hệ thống tư pháp, trong đó có trách nhiệm cực kỳ quan trọng của Tòa án nhân dân các cấp trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” (Khoản 2, Điều 103 của Hiến pháp 2013). Đây là nguyên tắc quan trọng, có giá trị phổ biến đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án trên thế giới, phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Việc “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” sẽ làm cho quyền hạn và tính độc lập của Thẩm phán, Hội thẩm được tăng lên. Để đáp ứng nguyên tắc quan trọng này, đòi hỏi Thẩm phán vừa phải có trình độ hiểu biết pháp luật sâu sắc, vừa phải có bản lĩnh và tinh thần tôn trọng công lý. Để bảo đảm được nguyên tắc “xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, cần phải bảo đảm sự độc lập của Thẩm phán với lãnh đạo cơ quan Tòa án; độc lập của Tòa án cấp dưới với Tòa án cấp trên; độc lập của Tòa án với Viện kiểm sát và cơ quan điều tra... Sự độc lập của Thẩm phán là hạt nhân của Tòa án. Điều này đặt ra yêu cầu:

- Thẩm phán phải đủ năng lực và điều kiện làm việc;

- Nhiệm kỳ vững chắc và lâu dài;

- Chế độ đãi ngộ cho Thẩm phán phải được bảo đảm;

- Thẩm phán có lợi ích liên quan tới vụ án thì không được xét xử;

- Thẩm phán phải chịu trách nhiệm về phán quyết của mình...

Bên cạnh việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 2013 có điểm mới quan trọng thể hiện ở việc bổ sung quy định về hoạt động của Toà án, đó là: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo” (Khoản 5, Điều 103). Quy định này khẳng định mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam không còn theo mô hình thẩm vấn truyền thống mà ghi nhận mô hình tố tụng hình sự theo hướng thẩm vấn kết hợp với tranh tụng; theo đó, các chứng cứ, tình tiết của vụ án được những người tham gia tố tụng trình bày khách quan tại phiên toà và trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử ra các phán quyết nhằm bảo đảm các phán quyết đó chính xác, khách quan, đúng luật. Quy định này đã thể chế hóa kịp thời quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác tư pháp, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã đề ra yêu cầu: “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất lượng tranh tụng tại tất cả phiên toà xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các cơ quan tư pháp”.

Nghị quyết 49 đặt ra yêu cầu hệ thống tư pháp phải được hoàn thiện để hướng tới mục tiêu bảo vệ công lý, lẽ phải, lẽ công bằng: “Các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của người dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”, “Xây dựng nền tư pháp vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý...”. Như vậy, trước yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, công lý và bảo vệ công lý đã trở thành một trong những mục tiêu cơ bản, xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta và là một giá trị tiến bộ xã hội nhân văn, bền vững được toàn xã hội thừa nhận và hướng tới.

Theo quy định của Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, tư pháp có nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ chế độ, lợi ích của Nhà nước. Nội hàm của hai lĩnh vực bảo vệ chế độ và bảo vệ công lý có những giao thoa nhất định, nhưng không trùng nhau. Vì vậy, cách thức tổ chức và nguyên tắc hoạt động của Tòa án nước ta có những điểm khác biệt so với một số nước trên thế giới.

Những năm qua, việc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; công cuộc cải cách tư pháp được tiến hành và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, sự tiến bộ của tư pháp vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới. Việc ghi nhận chức năng, nhiệm vụ của Tòa án: “Tòa án thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân là nhiệm vụ hàng đầu” và đề cao “nguyên tắc tranh tụng và quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm” trong Hiến pháp năm 2013 là tiền đề quan trọng. Để Tòa án thực sự thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp 2013 thì việc cải cách, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân phải tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện theo hướng đề cao hơn nữa mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân.

_______________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2015

GS, TS Nguyễn Đăng Dung,

ThS Đặng Phương Hải

Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền