Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Những thắng lợi của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam
Thứ hai, 21 Tháng 12 2015 11:23
4205 Lượt xem

Những thắng lợi của sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam

(LLCT) - Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua gần ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng CNXH từng bước định hình và đã thu được những kết quả tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

 
 

1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản là quá trình đế quốc xâm lược, vơ vét, bóc lột thuộc địa, mở rộng thị trường. Sự thống trị của đế quốc làm cho đời sống nhân dân thuộc địa ngày càng cùng cực, tạo nên mâu thuẫn gay gắt giữa nhân dân thuộc địa với đế quốc xâm lược, dẫn đến các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ. Cùng với nó là các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân diễn ra liên tục, từ tự phát đến tự giác. Với thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 vĩ đại, chủ nghĩa Mác - Lênin từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới trong lịch sử nhân loại - thời đại cách mạng chống đế quốc, giải phóng dân tộc, trở thành ngọn đèn soi sáng cho nhiều dân tộc thuộc địa noi theo.

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đặc biệt là chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn đã làm cho xã hội Việt Nam biến chuyển sâu sắc. Ngoài mâu thuẫn vốn có giữa nông dân với địa chủ phong kiến (mâu thuẫn giai cấp), thì bao trùm trên hết vẫn là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược (mâu thuẫn dân tộc).

Giữa lúc dân tộc ta đang đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, ngày
5-6-1911, Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước theo hướng mới. Từ chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đến với lý luận Mác - Lênin, đánh dấu bước chuyển quan trọng của con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước, giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản.

Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ đối với phong trào cộng sản quốc tế, Nguyễn Ái Quốc xúc tiến truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện về lý luận, tổ chức và cán bộ tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi điều kiện chín muồi, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất Đảng tại Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc) từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930(1). Hội nghị thảo luận và thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắtcủa Đảng do Người soạn thảo. Nguyễn Ái Quốc cũng thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng. Những văn kiện được Hội nghị thông qua là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra bước ngoặt vĩ đại cho cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị, mở ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước. Chính đường lối này là cơ sở bảo đảm cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển của cách mạng Việt Nam trong suốt 85 năm qua. Đồng thời, việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, nên đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới. Còn cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

2. Những thắng lợi vĩ đại, đánh dấu những mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc

Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Đảng ta vừa mới ra đời đã nhanh chóng lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ, đưa đất nước đi theo con đường CNXH. Quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền 1930 - 1945 đem đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chấm dứt hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và gần 5 năm của phát xít Nhật; xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến; mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập dân tộc và CNXH, mở ra thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công dẫn đến sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác - Lênin ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”(2).

Từ thực tiễn 15 năm lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cách mạng (1930 - 1945), Đảng ta trưởng thành và phát triển về mọi mặt, không ngừng hoàn thiện đường lối; giải quyết thành công nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cơ bản của cách mạng. Đó là quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến, giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu dân chủ, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp; giữa khởi nghĩa từng phần giành thắng lợi từng bước đến tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn; quan hệ giữa Đảng và nhân dân, giữa xây dựng Đảng và phát triển lực lượng cách mạng quần chúng được tập hợp trong Mặt trận Dân tộc thống nhất; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, độc lập, tự chủ và sáng tạo với tranh thủ điều kiện, thời cơ thuận lợi do tình hình quốc tế đem lại, nhất là vấn đề chớp thời cơ giành chính quyền... Đó chính là cơ sở, là tiền đề để Đảng ta tiếp tục vững bước lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo.

Đảng lãnh đạo nhân dân bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Năm 1945 - 1946, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân vượt qua những khó khăn, thách thức nặng nề, diệt giặc đói và giặc dốt, chống thù trong, giặc ngoài, kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ chính quyền và thành quả Cách mạng Tháng Tám; thực hành sách lược khôn khéo, lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để đánh thực dân Pháp xâm lược, lúc thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng, thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc để triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo.

Tháng 12-1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của bạn bè quốc tế. Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên CNXH, làm hậu phương vững chắc cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Từ năm 1954 đến năm 1975, Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đây là đặc điểm mang tính đặc thù của cách mạng nước ta, là thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam.

Công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc trong điều kiện từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua chiến tranh kéo dài và miền Nam chưa được giải phóng, đòi hỏi Đảng ta phải vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng kinh nghiệm các nước XHCN. Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tập trung giải quyết tốt các mối quan hệ cơ bản: giữa tiến hành chiến tranh cách mạng với xây dựng CNXH; giữa hậu phương lớn với tiền tuyến lớn; giữa thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; giữa quy luật chiến tranh và quy luật xây dựng phát triển kinh tế; giữa đẩy mạnh chiến tranh cách mạng ở nước ta với bảo vệ hòa bình thế giới; giữa lợi ích dân tộc với thực hiện nghĩa vụ quốc tế…

Trải qua 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng ta vừa lãnh đạo miền Bắc giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng CNXH, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, làm nghĩa vụ hậu phương, ra sức chi viện cho miền Nam. Trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đánh tan các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ cùng tay sai và đồng minh, làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là trang sử vàng chói lọi của dân tộc và là sự kiện có tầm quốc tế, mang tính chất thời đại sâu sắc.

Đảng lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ CNXH với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước tiến lên CNXH với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Giai đoạn 1975 - 1986,Đảng lãnh đạo nhân dân ra sức khôi phục kinh tế, vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu bao cấp không còn phù hợp, đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên CNXH. Đảng ta đã tổng kết sáng kiến từ thực tiễn của nhân dân, Đại hội VI của Đảng (12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.

Trước bối cảnh CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Đại hội VII của Đảng (6-1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng XHCN. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, xác định quan điểm, phương hướng phát triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Từ đó đến nay, qua các kỳ Đại hội VIII, IX, X và XI, Đảng ta tiếp tục phát triển tư duy lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; không ngừng hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về đổi mới toàn diện đất nước, xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, về xây dựng phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới… Đó cũng chính là sự phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua gần ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã giành được những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế thị trường định hướng CNXH từng bước định hình và đã thu được những kết quả tích cực. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, vượt qua ngưỡng nước nghèo chậm phát triển. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Chính trị, xã hội ổn định, an ninh, quốc phòng được giữ vững. Vai trò và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.

3. Phát huy truyền thống quý báu, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo đất nước phát triển bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội

Hiện nay, tình hình thế giới diễn biến phức tạp, mau lẹ, khó lường. Quan hệ giữa các nước lớn trên thế giới theo chiều hướng vừa hợp tác vừa cạnh tranh quyết liệt, đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bố, tranh chấp chủ quyền biển đảo và lợi ích giữa các nước lớn ngày một gia tăng, phức tạp, nhất là xung đột chính trị ở Ucraina kéo dài, khoét sâu bất đồng giữa Nga và Mỹ, giữa các nước trong EU. Tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc đe dọa đến hòa bình, ổn định khu vực, làm tổn hại đến mối quan hệ hòa bình, hữu nghị Việt -Trung… Ở trong nước, sau gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu lớn về kinh tế - xã hội. Vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Tuy vậy, kinh tế vĩ mô và cân đối lớn của nền kinh tế vẫn chưa vững chắc. Đời sống, việc làm của người dân vẫn còn nhiều khó khăn. Tham nhũng, lãng phí vẫn chưa được đẩy lùi. Các thế lực thù địch ngày càng ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa.

Tình hình đó đang đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn, nặng nề hơn, đòi hỏi Đảng ta tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới, làm cho Đảng luôn “là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí”(3) như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn luôn là yêu cầu vừa có tính cấp thiết, vừa mang tính chiến lược của toàn thể cán bộ, đảng viên hôm nay.

Một là, tiếp tục phát huy những kinh nghiệm quý báu mà Đảng ta đã đúc kết qua thực tiễn 85 năm lãnh đạo cách mạng. Đó là: (1) Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau; (2) Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ XHCN và của Đảng; (3) Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công; (4) Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng kiên định ý chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại; (5) Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Hai là, ra sức xây dựng, củng cố tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh; thực hiện nghiêm túcNghị quyết Trung ương 4 khóa XI một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay gắn với thực hiện Chỉ thị số 03 về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Là Đảng cầm quyền duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong suốt 85 năm qua, Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm quý báu trong công tác xây dựng Đảng, đó là: Thường xuyên tự đổi mới, chỉnh đốn và không ngừng nâng cao tầm tư tưởng và trí tuệ để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt phương châm nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, không đa nguyên, đa đảng. Đảng phải được xây dựng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đổi mới công tác xây dựng Đảng, phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc khác, giữ vững kỷ cương, kỷ luật. Chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Đảng phải đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nhất là phương thức lãnh đạo Nhà nước, bảo đảm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Ba là, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống lý luận, cung cấp những luận cứ khoa học, những dự báo cho quá trình phát triển đất nước, đi lên CNXH ở Việt Nam. Phát hiện những mâu thuẫn, những vấn đề thực tiễn đang đặt ra, phân tích, chỉ rõ những xu hướng, tìm kiếm những bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, đồng thời tiếp thu những thành tựu lý luận mới, tìm ra những cơ sở lý luận để giải thích một cách khoa học những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Kiên quyết đấu tranh, vạch trần và bác bỏ những luận điểm sai trái, xuyên tạc về mô hình CNXH, về con đường đi lên CNXH và những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước.

_________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2015

(1) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng đã quyết nghị lấy ngày 3 tháng 2 hằng năm làm ngày Kỷ niệm thành lập Đảng.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.159.

(3) Nhân dân ta thật anh hùng, Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, tr.15.

 

PGS, TS Phạm Văn Linh

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương

Các bài viết khác

Thông tin tuyên truyền