Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quần chúng và vận động quần chúng
Thứ ba, 31 Tháng 5 2016 09:12
15538 Lượt xem

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về quần chúng và vận động quần chúng

(LLCT) - Xuất phát từ quan điểm quần chúng nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng phải là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, ngay từ khi xây dựng học thuyết cách mạng, đã đặt trọng tâm vào công tác nghiên cứu, xây dựng, phát triển lý luận về công tác vận động quần chúng. Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Mácxít luôn trung thành và lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động đã vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận vận động quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Công tác dân vận của Đảng là toàn bộ những hoạt động nghiên cứu lý luận, tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục, hướng dẫn, tập hợp và tổ chức quần chúng nhân dân nhằm thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng của Đảng. Công tác vậnđộngquần chúng của Đảng ta ngày càng tự giác, chủ động và đạt nhiều kết quả, góp phần xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động lực to lớn của cách mạng, của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

Trước yêu cầu của thời kỳ mới, để công tác vận động quần chúng đạt nhiều thành công hơn nữa, cần thiết phảinhận thức, thực hiện và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về công tác vận động quần chúng. Những quan điểm cơ bản về công tác vận động quần chúng của chủ nghĩa Mác - Lênin là:

Một là, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo nên lịch sử

Lịch sử cho thấy, quần chúng nhân dân là chủ thể tạo ra mọi của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã khẳng định, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, chính quần chúng là người làm nên lịch sử.Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843), Mác đã viết: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân…”(1); “không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra chế độ nhà nước”(2). Trong tác phẩm Gia đình thần thánh (1844), C.Mác và Ph.Ăngghen nhận xét vai trò của quần chúng nhân dân đặc biệt thể hiện rõ trong thời kỳ cách mạng:“Hoạt động lịch sử càng lớn lao thì do đó, quần chúng, mà hoạt động lịch sử đó là sự nghiệp của mình, cũng sẽ lớn lên theo”(3).

Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen trong điều kiện mới, VI.Lênin, trong tác phẩm Chào mừng những người cộng sản Ý, Pháp và Đức (1919), đã khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được…”(4).

Hai là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của  Đảng Cộng sản

Là chủ thể của lịch sử, nhưng quần chúng nhân dân chỉ có thể phát huy tối đa sức mạnh và vai trò sáng tạo một khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng một cách khoa học về vai trò của Đảng Cộng sản như một điều kiện chủ quan có ý nghĩa quyết định đối với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong tiến trình cách mạng XHCN. Để đảm bảo cho cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân (GCCN) và nhân dân lao động giành thắng lợi,GCCNphải tự tổ chức ra được chính đảng độc lập, các đảng đó phải biết thuyết phục, giác ngộ và tập hợp đông đảo quần chúng, huấn luyện quần chúng và đưa quần chúng ra đấu tranh; mặt khác bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào cuộc cách mạng ấy. Trong Lời nói đầu tác phẩm Đấu tranh giai cấp ở Pháp từ 1848 đến 1850, C.Mác viết: “Ở nơi nào mà vấn đề đặt ra là phải cải tạo hoàn toàn chế độ xã hội, thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia công cuộc cải tạo ấy, phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao mình phải đổ máu và hy sinh tính mạng”(5). Nhưng muốn cho quần chúng hiểu rõ phải làm gì và làm như thế nào một cách tự giác thì “cần phải tiến hành một công tác lâu dài và kiên nhẫn”, tức là phải tiến hành công tácvận động quần chúng.

VI.Lênin, trong tác phẩm Làm gì (1901) đã cho rằng “1) Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được nếu không có một tổ chức ổn định và duy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo; 2) Càng có đông đảo quần chúng được thu hút tự phát vào cuộc đấu tranh, tạo thành cơ sở cho phong trào và tham gia phong trào, thì càng cấp thiết phải có một tổ chức như thế và tổ chức ấy lại càng phải vững chắc”(6). Hơn nữa, VI.Lênin còn khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc về vai trò lãnh đạo và mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng: “Về nguyên tắc, đảng cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn nghi ngờ gì được nữa”(7), “Chúng ta cần những đảng có liên hệ thực tế thường xuyên với quần chúng và biết lãnh đạo những quần chúng đó”(8), “một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(9).

Đảng Cộng sản ra đời chính là đáp ứng nhu cầu cấp thiết của sự nghiệp đấu tranh khách quan của GCCN, nhân tố quyết định thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN, bởi vậy, theo VI.Lênin, Đảng Cộng sản phải “Sống trong lòng quần chúng/Biết tâm trạng quần chúng/Biết tất cả/Hiểu quần chúng/Biết đến với quần chúng/Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”(10).

Ba là, công tác vận động quần chúng phải xuất phát từ nhu cầu, lợi ích nhằm tạo sự thống nhất hành động của quần chúng

Nhu cầu chính là sự tự ý thức được giá trị của sự vật, hiện tượng, quá trình để từ đó thôi thúc con người hành động. Theo C.Mác, tất cả cái gì mà con người đấu tranh để giành lấy, đều dính liền với lợi ích của họ. Ph.Ăngghen cho rằng, không phải là ở những lý tưởng, những chân lý mà chính là lợi ích kinh tế, động lực thúc đẩy con người hành động: “rõ ràng và cụ thể rằng nguồn gốc và sự phát triển của hai giai cấp lớn đó là những nguyên nhân thuần túy kinh tế. Và, cũng rõ ràng là trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp chiếm hữu ruộng đất và giai cấp tư sản, cũng như trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, thì trước hết, vấn đề là ở những lợi ích kinh tế - để thỏa mãn những lợi ích kinh tế thì quyền lực chính trị chỉ được sử dụng làm một phương tiện đơn thuần”(11).

 Nghiên cứu nguyên nhân của sự phân chia chính trị của nước Đức thành hơn 30 quốc gia lớn nhỏ và sự hỗn tạp của các thành phần dân tộc, Ph.Ăngghen trong bài Cách mạng và phản cách mạng ở Đức đã chỉ rõ: “Ở đâu không có lợi ích chung thì ở đó không thể có sự thống nhất về mục đích và càng không thể có sự thống nhất về hành động được”(12).Công tác vận động quần chúng trong cách mạng vô sản là một nhiệm vụ có tính chiến lược của cuộc đấu tranh giai cấp lâu dài, khó khăn, gian khổ, cuộc đấu tranh ấy chưa kết thúc ngay cả khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, mà còn phải tiếp tục trong quá trình xây dựng CNXHvà chủ nghĩa cộng sản vì lợi ích thiết thân của tuyệt đại đa số nhân dân và của toàn xã hội. Lênin cũng chỉ rõ: “những lý tưởng cao cả nhất cũng không đáng giá một xu nhỏ, chừng nào mà người ta không biết kết hợp chặt chẽ những lý tưởng đó với lợi ích của chính ngay những người đang tham gia cuộc đấu tranh kinh tế”(13). Vì vậy, vận động quần chúng muốn thành công phải xuất phát từ lợi ích thiết thân của chính quần chúng nhân dân. Lãnh đạo công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga còn lạc hậu, V.I.Lênin đặc biệt quan tâm đến vấn đề lợi ích kinh tế, nhất là lợi ích cá nhân,nếu không sẽ không tiến lên chủ nghĩa cộng sản được; sẽ không dẫn được hàng chục triệu người đến chủ nghĩa cộng sản. Phải lấy lợi ích kinh tế thiết thân của người lao động làm cơ sở để xây dựng nền kinh tế. Người viết: Chúng ta nói rằng phải xây dựng mọi ngành kinh tế quốc dân quan trọng trên cơ sở sự quan tâm thiết thân của cá nhân”(14). “Sự quan tâm thiết thân của cá nhân có tác dụng nâng cao sản xuất”(15).

Bốn là, công tác vận động phải biết đoàn kết, tổ chức quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị

Muốn vận động quần chúng thì phải đoàn kết và tập hợp quần chúng trong một tổ chức. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức (1845) C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra đặc điểm nổi bật của giai cấp công nhân mang bản chất quốc tế, đây chính là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết quốc tế của GCCNtrong quá trình đấu tranh chống lại giai cấp tư sản.  Khi viếtTuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen kêu gọi: “Những người lao động trên toàn thế giới đoàn kết lại”. Nhờ đoàn kết, GCCNcó thêm sức mạnh và động lực trong đấu tranh chống giai cấp tư sản. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn thể Hội liên hợp họp ở La Hay ngày 2-9-1872 đã khẳng định sự thống nhất các lực lượng của GCCNđã đạt được kết quả qua đấu tranh kinh tế. Sau Đại hội La Hay, tại Amxtécđam, C.Mác đã đọc bài diễn văn, trong đó nhấn mạnh: “…chúng ta hãy nhớ một nguyên tắc cơ bản của Quốc tế: sự đoàn kết. Chúng ta sẽ đạt được mục đích vĩ đại mà chúng ta đang hướng tới, nếu chúng ta củng cố vững chắc nguyên tắc đầy sức sống ấy trong tất cả các công nhân ở tất cả các nước. Cách mạng phải là đoàn kết, kinh nghiệm lớn lao của Công xã Pari đã dạy chúng ta như thế”(16).

Sự đoàn kết của GCCNđược tập hợp trong một tổ chức chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là điều kiện cho sự thắng lợi của cách mạng vô sản. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản  C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”(17). Ph.Ăngghen viết bài Vấn đề quân sự ở Phổ và Đảng công nhân Đức khẳng định: “…giai cấp vô sản trở thành một sức mạnh từ khi nó thành lập một đảng công nhân độc lập, mà với sức mạnh thì người ta phải chú ý đến”(18).

Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng về đoàn kết GCCNtrong thời đại đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, Người kêu gọi: “Vô sản tất cả các nước, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”; và khẳng định: “Không có lực lượng nào trên trái đất lại có thể đánh gục được hàng triệu những công nhân ngày càng trở nên giác ngộ, ngày càng trở nên đoàn kết và có tổ chức”(19). Ở nước Nga, sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, giai cấp vô sản nắm chính quyền, V.I.Lênin khẳng định: “Chúng ta phải suy nghĩ kỹ rằng muốn quản lý được tốt, thì ngoài cái tài biết thuyết phục, biết chiến thắng trong cuộc nội chiến, còn cần phải biết tổ chức trong lĩnh vực thực tiễn”(20). Trong xây dựng CNXH, trên cơ sở ý thức sâu sắc tầm quan trọng của tổ chức, “hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ làm đảo ngược nước Nga lên!”(21), Lênin luôn quan tâm đến việc tổ chức công đoàn trong GCCN:“giai cấp vô sản ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng chỉ phát triển và chỉ có thể phát triển bằng con đường công đoàn, bằng sự tác động qua lại giữa công đoàn và đảng của giai cấp công nhân, chứ không thể bằng con đường nào khác... đảng phải giáo dục, lãnh đạo công đoàn”(22).

Vậy là đoàn kết và tổ chức quần chúng lại là nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng tạo sức mạnh, động lực trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giành chính quyền và xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN.

Năm là, vận động quần chúng phải có phương pháp phù hợp, đặc biệt làphương pháp nêu gương và giúp đỡ

Trong công tác vận động quần chúng,Ph.Ăngghen căn dặn, phải có phương pháp, đặc biệt là phương pháp nêu gương và giúp đỡ, không được dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt. 

Phương pháp nêu gương đặc biệt có giá trị trong công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng. Trong tác phẩm  Những người bạn dânlà thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ-xã hội ra sao? V.I. Lênin chỉ rõ rằng: chỉ khi nào CNXHkhoa học được truyền bá sâu rộng trong giai cấp công nhân thì lúc đó mới lật đổ được nền chuyên chế, dọn đường đi lên CNXH. V.I.Lênin rất coi trọng phương pháp thuyết phục, giáo dục và nêu gương đối với quần chúng nhân dân. Người đề ra nhiệm vụ hàng đầu cho các Đảng Cộng sản là phải “thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”(23).V.I.Lênin cho đây là nhiệm vụ chiến lược quan trọng cả trong thời kỳ chưa giành được chính quyềncũng như thời kỳ đã giành được chính quyền, xây dựng CNXH.Thực hiện vai trò lãnh đạo, chính đảng của GCCNphải luôn giáo dục cho GCCN biết được vị trí, vai trò và sứ mệnh lịch sử thế giới để tự giác thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy: “chúng ta chỉ có thể hoàn thành được vai trò người chiến sĩ tiên phong đấu tranh cho tự do khi nào giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của đảng chiến đấu cách mạng, không phút nào lãng quên vị trí đặc biệt của họ trong xã hội hiện tại, không lãng quên những nhiệm vụ đặc biệt có tính chất lịch sử toàn thế giới của họ là giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ về kinh tế, đồng thời giương cao được ngọn cờ của toàn dân đấu tranh cho tự do”(24).

Để đạt được hiệu quả trong việc giáo dục ý thức chính trị cho GCCNđòi hỏi Đảng phải có phương pháp tuyên truyền, giáo dục quần chúng để đưa quần chúng lên địa vị của những người tự giác trong đấu tranh cho tự do: “Phải sử dụng vào việc tuyên truyền và cổ động chính trị, tất cả những hiện tượng và biến cố trong đời sống xã hội và chính trị có quan hệ đến giai cấp vô sản, hoặc một cách trực tiếp như đối với một giai cấp riêng biệt, hoặc như đối với đội tiền phong của tất cả các lực lượng cách mạng đang đấu tranh cho tự do”(25).

V.I.Lênin phê phán những đảng viên, cán bộ, tổ chức đảng không gương mẫu, không dũng cảm hoặc “rất ít dùng những điển hình, những tấm gương cụ thể, sinh động, lấy trong mọi lĩnh vực của đời sống, để giáo dục quần chúng”(26). Người yêu cầu thực hành phương pháp lấy kinh nghiệm lâu dài, lấy ví dụ thực tế để chứng minh cho quần chúng thấy rõ sự cần thiết của công việc. V.I.Lênin khuyến khích mở rộng dân chủ, công khai làm cho mọi người dân biết công việc của Đảng, của Nhà nước. Đó là một phương pháp công tác quần chúng có tác dụng nâng cao tính chủ động, tính tích cực sáng tạo cách mạng của quần chúng. Người viết: “…một nước mạnh là nhờ ở sự giác ngộ của quần chúng. Nước mạnh là khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể phán đoán được về mọi cái và đi vào hành động một cách có
ý thức”(27).

Tôn trọng ý kiến của quần chúng nhân dân, quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, V.I.Lênin lắng nghe và tiếp thu những tâm nguyện của quần chúng và yêu cầu Đảng của giai cấp công nhân phải tập hợp, tổng kết những ý kiến của quần chúng làm cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, chính sách. V.I.Lênin cũng đề nghị tìm mọi cách để duy trì, phát triển và mở rộng những hội nghị công nhân, nông dân ngoài Đảng, vì thông qua những hội nghị như thế, Đảng có thể: “… nhận xét tâm trạng của quần chúng, gần gũi họ, giải quyết những nhu cầu của họ, giao cho những phần tử tốt nhất trong số họ đảm nhận những những chức vụ trong bộ máy nhà nước v.v..”(8).

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, muốn tập hợp và phát huy vai trò của quần chúng phải biết tổ chức thi đua XHCNvà áp dụng triệt để nguyên tắc phân phối theo lao động, đây là một trong những phương pháp có ý nghĩa khơi dạy tính sáng tạo của quần chúng trong phát triển kinh tế.  Trong tác phẩm Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xôviết, V.I Lênin cho rằng việc tổ chức thi đua phải chiếm vị trí quan trọng trong xây dựng kinh tế của nhà nước chuyên chính vô sản. Chỉ có trên những cơ sở quan hệ sản xuất XHCN, quyền làm chủ của người lao động được xác lập thì việc tổ chức thi đua theo nguyên tắc XHCNvới nhiều hình thức phong phú của nó mới có tác dụng quan trọng trong việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới và việc tổ chức thi đua giữa các đơn vị sản xuất, giữa các địa phương, giữa các cá nhân mới có ý nghĩa chân chính. Và vì vậy, tất cả phương tiện tuyên truyền phải nêu gương những cơ sở làm ăn tốt và phê bình những cơ sở làm ăn tồi. Vận động quần chúng phải phát huy được tính tự giác của quần chúng. Trong tác Sáng kiến vĩ đại, V.I.Lênin đánh giá cao tinh thần sáng tạo của quần chúng, vai trò của quần chúng trong việc nâng cao năng suất lao động. Người cho rằng, xây dựng một phong trào quần chúng tự giác tham gia vào sự kiến thiết chủ nghĩa cộng sản không phải chỉ bằng bàn tay pháp luật mà phải bằng cả sự vận động quần chúng tham gia tự giác vào công việc cụ thể. Kích thích tính tự giác sáng tạo ra năng suất lao động cao, đồng thời quan tâm đầy đủ đến đời sống mọi mặt của người lao động, làm cho năng suất lao động ấy phải là tài sản của GCCNvà công dân lao động.  Quan tâm đến lực lượng sản xuất cơ bản nhất là con người, V.I.Lênin cho rằng, phải quan tâm đến họ, phải giáo dục thuyết phục họ, xây dựng cho họ tính chủ động sáng tạo với kỷ luật tự giác và tinh thần làm chủ cao, quan tâm đến đời sống văn hóa của quần chúng một cách thiết thực và có hiệu quả chứ không phải chỉ bằng lời nói.

Trong điều kiện hiện nay, trước xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng không ít những khó khăn, thách thức, để công tác vận động quần chúng tạo động lực cho công cuộc đổi mới, bên cạnh việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, đòi hỏi chúng ta phải trở về với những quan điểm gốc của chủ nghĩa Mác- Lênin, để từ đó vận dụng và phát triển sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể, góp phần tạo sự đồng thuận trong xã hội, phát huy mạnh mẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ  Tổ quốc XHCN.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị điện tử số 9-2015

(1), (2), (3) C.Mác và Ph.Ăngghen:Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.347, 350, 123.

(4) V.I.Lênin:Toàn tập, t.39, NxbTiến bộ,Mátxcơva, 1979, tr.251.

(5)C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd,t.22, tr.775.

(6), (21), (25) V.I.Lênin:Toàn tập, Sđd, t.6, tr.158-159, 162, 106.

(7), (8), (12), (19), (20), (22), (23), (26), (28) Sđd, t.41, tr.479, 285-286, 21, 211, 42, 39, 210, 208, 109.

(9), (10), (14), (15) Sđd, t.44, tr. 426, 608, 207, 190.

(11) C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd,t.21, tr.439.

(13), (17) V.I.Lênin:Toàn tập, Sđd, t.4, tr.510-511, 615.

(16)C.Mác và Ph.Ăngghen, Sđd, t.18, tr.220.

(18) Sđd, t.16, tr.99.

(24) V.I.Lênin: Toàn tập, Sđd, t.5,tr.411-412.

(27) Sđd, t.35, tr.423.

 

ThS Đặng Thanh Phương

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác