Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Tiếp nối, phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại 30 năm đổi mới
Thứ năm, 16 Tháng 3 2017 12:42
1897 Lượt xem

Tiếp nối, phát triển tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và đường lối đối ngoại 30 năm đổi mới

(LLCT) - Đường lối đối ngoại của Đại hội XII là sự kế thừa, phát triển tư tưởng ngoại gia Hồ Chí Minh, thể hiện ở mục tiêu của hoạt động đối ngoại, trong đó bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc là mục tiêu tối thượng; tư tưởng hòa bình và hợp tác hữu nghị, “dĩ bất biến ứng vạn biến”, thêm bạn bớt thù. Đồng thời, Đại hội XII là sự tiếp nối đường lối đối ngoại 30 năm đổi mới và bổ sung thêm những nhận thức mới: lần đầu tiên nhiệm vụ ngoại giao là một thành tố trong chủ đề Đại hội; kết quả hoạt động đối ngoại được đánh giá kỹ hơn; nêu rõ phương châm, định hướng lớn; ngoại giao nhân dân được tiếp cận theo phương cách mới. 

1. Đường lối đối ngoại của Đại hội XII - sự kế thừa tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh không chỉ là Anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là Nhà ngoại giao thiên tài, người tạo dựng và dẫn dắt nền ngoại giao cách mạng non trẻ. Toàn bộ những tư tưởng ngoại giao toàn diện và sâu sắc của Người về mục tiêu, chiến lược, sách lược, phương hướng và phương thức ngoại giao, cách xác định bạn - thù... là kim chỉ nam hành động, “là lực lượng vật chất” của nền ngoại giao cách mạng. Cùng với việc nhận thức ngày càng rõ những giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong 30 năm đổi mới vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức nỗ lực kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao của Người. Kết quả là ngoại giao Việt Nam thời kỳ đổi mới đạt được những thành tựu hết sức to lớn.

Đường lối đối ngoại của Đảng do Đại hội XII đề ra đã thể hiện sự kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh mới.

Trước hết, Đại hội vừa quán triệt, vừa phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu của hoạt động đối ngoại. Hồ Chí Minh cho rằng, ngoại giao ra đời không vì mục đích tự thân mà luôn hướng tới và phục vụ cho mục tiêu chính trị. Tại Hội nghị ngoại giao năm 1962, Hồ Chí Minh nêu rõ: mục đích của ngoại giao là “nâng cao địa vị quốc tế của nước mình,... góp phần bảo vệ hòa bình thế giới”(1). Lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế được Hồ Chí Minh coi là mục tiêu của hoạt động ngoại giao nhưng lợi ích dân tộc được Người đặt lên hàng đầu dù Người không tuyên bố trực tiếp về điều đó. Sự lựa chọn này là hoàn toàn đúng vì con người trước khi thuộc về nhân loại thì phải thuộc về dân tộc; con người không thể là vĩ đại đối với nhân loại nếu không vĩ đại trước dân tộc mình. Kế thừa tư tưởng của Người, Đại hội XII của Đảng cũng nhấn mạnh mục tiêu dân tộc và nghĩa vụ quốc tế của hoạt động đối ngoại khi xác định “hoạt động đối ngoại nhằm mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước...; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc..., nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(2). Trong bối cảnh chiến tranh lạnh đã kết thúc, các nước  trên thế giới tập hợp lực lượng trên cơ sở lợi ích chứ không trên cơ sở ý thức hệ như trước, việc Đại hội XII thẳng thắn tuyên bố “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”(3) là mục tiêu tối thượng của hoạt động ngoại giao là hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại và yêu cầu của cách mạng Việt Nam.

Thứ hai, kế thừa tư tưởng hòa bình và hợp tác hữu nghị của Hồ Chí Minh với mong muốn Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(4), Đại hội XII tiếp tục tuyên bố chủ trương “đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; ...là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”(5). Vẫn giữ vững tinh thần hòa hữu và tấm lòng bè bạn nhưng bối cảnh hội nhập và sự lớn mạnh về tiềm lực đất nước sau 30 năm đổi mới cho phép Đảng ta khẳng định vai trò đối tác và thành viên có trách nhiệm của Việt Nam đối với cộng đồng thế giới. Từ mong muốn “làm bạn” đến thực sự  “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm” là bước phát triển lớn trong tư duy ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng tư tưởng hòa bình, hợp tác hữu nghị của Hồ Chí Minh.   

Thứ ba, đường lối đối ngoại do Đại hội XII đề ra đã kế thừa tư tưởng “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh. Trong “bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, rất phức tạp, khó lường”(6), sáng tạo và linh hoạt về phương pháp, kiên định và nhất quán về mục tiêu độc lập dân tộc là những yêu cầu hàng đầu đặt ra cho nền ngoại giao cách mạng. Tiếp thu tinh thần “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh, Đại hội XII đề ra nhiệm vụ cho ngoại giao Việt Nam là phải góp phần giữ vững độc lập dân tộc; ngoại giao phải “kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị đất nước”(7). Mặt khác, Đại hội thể hiện sự linh hoạt của Đảng khi đề ra các phương thức khác nhau để thực hiện chủ trương “tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu”(8). Mặc dù Việt Nam đang có quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước và quan hệ đối tác toàn diện với 10 nước, với nước nào thì phương châm ngoại giao vẫn là “vừa hợp tác vừa đấu tranh” nhưng ngoại giao vẫn phải xác định phương thức hợp tác cụ thể với từng đối tác vì mỗi nước có thế mạnh và nhu cầu lợi ích khác nhau. Với nước này ta khai thác tiềm lực thương mại, với nước khác ta hợp tác về khoa học, công nghệ; có nước ta thiết lập quan hệ chặt chẽ về giáo dục, đào tạo... Ngay cả trong quan hệ với một nước thì ngoại giao cũng phải “xử lý linh hoạt mọi tình huống” vì trong đối tác có đối tượng, trong đối tượng có đối tác. Lúc nào họ là đối tác thì ta ứng xử trọng thị như với đối tác, lúc nào họ là đối tượng thì ta xử lý nghiêm khắc như với đối tượng. Thí dụ như trong quan hệ với Trung Quốc - nước đang có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, ngoại giao phải “Dĩ bất biến ứng vạn biến” vì Trung Quốc vừa là bạn hàng lớn nhất của nước ta về kinh tế và thương mại nhưng Trung Quốc cũng lại là nước có xung đột gay gắt với ta về chủ quyền ở Biển Đông. Vì vậy, ngoại giao cần kiên quyết, kiên trì và khôn khéo để cuộc đấu tranh vì chủ quyền chính đáng của dân tộc không dẫn đến sự phá vỡ hợp tác giữa hai nước. Nguyên tắc “Dĩ bất biến ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh được Đảng ta giữ vững và cụ thể hóa trong các điều kiện xác định như thế.  

Thứ tư, Đại hội XII của Đảng tiếp tục phát triển tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, tư tưởng đoàn kết quốc tế trên nguyên tắc độc lập, tự chủ của Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn muốn “thêm bạn, bớt thù”, luôn  coi trọng chiến lược đoàn kết quốc tế nhưng do hoàn cảnh lịch sử, trên thực tế, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới chỉ thiết lập được quan hệ ngoại giao với các nước XHCN và các nước trong phong trào giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Đại hội XII của Đảng đã khẳng định chủ trương tiếp tục “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại” song song với việc đưa các mối quan hệ quốc tế đã thiết lập tiếp tục đi vào chiều sâu. Mở rộng quan hệ quốc tế theo cả chiều rộng lẫn chiều sâu chính là sự cụ thể hóa tư tưởng “Thêm bạn, bớt thù” và chiến lược đoàn kết quốc tế rộng rãi của Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh mới.

Là người có tư duy hội nhập từ rất sớm, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh chủ trương thực hiện chiến lược đoàn kết quốc tế rộng rãi nhưng điều ấy không có nghĩa là Người chủ trương hợp tác, đoàn kết bằng mọi giá. Nguyên tắc cao nhất trong đoàn kết và hợp tác của Người là nguyên tắc độc lập, tự chủ trên tinh thần “dựa vào sức mình là chính”, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của bạn và không để vấn đề viện trợ, hợp tác làm tổn hại đến lợi ích tối cao của dân tộc. Quan điểm đúng đắn này được khẳng định rõ tại Đại hội XII khi Đảng ta khẳng định Việt Nam “thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ”; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ; “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương”(9)... Hồ Chí Minh thực hiện nguyên tắc độc lập, tự chủ thông qua sự vận dụng sáng tạo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh nghiệm của các nước anh em và chủ động trong việc hoạch định đường lối cách mạng, nay trong bối cảnh hội nhập quốc tế đã tạo những tiền đề để Đảng ta khẳng định tinh thần độc lập tự chủ thông qua việc lựa chọn phương thức hội nhập và chủ động phát huy vai trò trong các tổ chức đa phương như ASEAN và Liên Hợp quốc. 

Thứ năm, đường lối đối ngoại của Đại hội XII đã kế thừa những quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về mặt trận ngoại giao. Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác tuyên truyền đối ngoại, luôn chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ ngoại giao đủ đức đủ tài, luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải phối hợp giữa ngoại giao với chính trị, ngoại giao với an ninh, quốc phòng. Đại hội Đảng XII đã khẳng định những nội dung đó, đồng thời đưa những yêu cầu đó lên quy mô mới khi chuyên môn hóa các lĩnh vực ngoại giao và yêu cầu “phối hợp chặt chẽ... giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa, giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”(10)

Như vậy, Đại hội XII đã kế thừa tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đồng thời bổ sung, phát triển thêm những nội dung mới cho phù hợp với tình hình mới của đất nước và thế giới. Những điểm mới trong đường lối đối ngoại của Đại hội XII chính là biểu hiện chân xác cho sự trung thành và năng lực sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc kế thừa di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. 

2. Đường lối đối ngoại của Đại hội XII - sự tiếp nối đường lối đối ngoại 30 năm đổi mới

Đại hội VI (năm 1986) đã khởi xướng sự nghiệp đổi mới mà trước hết là đổi mới tư duy trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh. Trải qua 6 kỳ Đại hội của thời kỳ đổi mới, đường lối đối ngoại của Đảng ngày càng phát triển, ngày càng hoàn thiện, với sự thống nhất cao độ về những quan điểm mang tính nguyên tắc vì đều lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động.  Kết thúc chặng đường 25 năm đổi mới, Đường lối đối ngoại của Đảng được đúc kết trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng như sau: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(11).

Trên cơ sở tổng kết thành tựu và hạn chế của hoạt động đối ngoại 5 năm vừa qua, Đại hội XII ngoài việc khẳng định lại hầu hết những định hướng lớn, những vấn đề nguyên tắc trong đường lối đối ngoại của Đại hội XI đã bổ sung thêm những nhận thức mới của Đảng về lĩnh vực đối ngoại.

Thứ nhất, lần đầu tiên, nhiệm vụ đối ngoại được nêu như một thành tố của chủ đề Đại hội. Chủ đề Đại hội luôn thể hiện nhận thức của Đảng về những nhiệm vụ trọng yếu nhất trong nhiệm kỳ 5 năm. Chủ đề Đại hội và tiêu đề Báo cáo chính trị Đại hội XII của Đảng là: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”(12). Như vậy, bên cạnh việc giữ vững 4 thành tố mà Đại hội XI đã đề ra (xây dựng Đảng; phát huy sức mạnh dân tộc; đẩy mạnh công cuộc đổi mới; đẩy mạnh công nghiệp hóa), Đại hội XII bổ sung thêm thành tố thứ 5 là “bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định” - những nhiệm vụ căn cốt của mặt trận ngoại giao. Việc bổ sung các nhiệm vụ của hoạt động đối ngoại vào chủ đề Đại hội thể hiện: Đảng ta đánh giá rất cao tầm quan trọng của đối ngoại trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ hai, Đại hội đánh giá kỹ hơn kết quả công tác đối ngoại của nhiệm kỳ 2011 - 2016. Các Đại hội trước, kết quả công tác đối ngoại được đánh giá rất ngắn gọn và nằm trong phần đánh giá chung về kết quả của các hoạt động quốc phòng - an ninh - đối ngoại thì lần này, Báo cáo Chính trị của Đảng đã xem xét hoạt động đối ngoại trong một nội dung độc lập. Thành tựu và hạn chế của hoạt động đối ngoại cùng với nguyên nhân của nó đã được phân định kỹ lưỡng(13). Điều này chứng tỏ sự quan tâm lớn của Đảng tới lĩnh vực đối ngoại.

Thứ ba, mục tiêu vì lợi ích dân tộc trong hoạt động đối ngoại được nhấn mạnh, rõ hơn. Mặc dù nước nào và thời kỳ nào thì hoạt động ngoại giao cũng hướng tới việc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc nhưng phải đến Đại hội XI, mục tiêu “vì lợi ích quốc gia, dân tộc”(14) mới lần đầu tiên được nêu rõ trong văn kiện. Văn kiện Đại hội XII nhấn mạnh đối ngoại phải “đảm bảo lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”(15). Đại hội XII đã bổ sung thêm từ “tối cao” vì lợi ích dân tộc thì rất nhiều nhưng lợi ích tối cao của dân tộc thì chỉ có một: Độc lập dân tộc. Như vậy, Đại hội XII đã xác định rõ: Giữa lợi ích dân tộc và lợi ích nhân loại thì phải đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu và trong lợi ích dân tộc thì độc lập dân tộc phải là mục tiêu tối thượng. Nhờ xác định rõ như vậy, hoạt động đối ngoại có cơ sở để hướng đích tốt hơn.  

Thứ tư, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được nhấn mạnh và mở rộng nội hàm. So với Văn kiện Đại hội XI khi bàn về nhiệm vụ của đối ngoại là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ”(16), Đại hội XII nêu rõ hơn, đó là “kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”(17). Tức là Đảng ta khẳng định mạnh mẽ hơn quyết tâm bảo vệ nền độc lập của dân tộc, đồng thời chỉ ra phương cách đấu tranh là “kiên trì”, tức là không được nóng vội, phải luôn luôn tận dụng mọi biện pháp hòa bình để đấu tranh. Mặt khác, trong khi kiên trì các biện pháp hòa bình, chúng ta không loại trừ bất kỳ biện pháp nào để bảo vệ đến cùng nền độc lập dân tộc. Ngoài ra, Văn kiện lần này còn mở rộng đối tượng mà ngoại giao cần bảo vệ: Không chỉ là độc lập và chủ quyền dân tộc mà ngoại giao còn phải “bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”(18)... Tất cả những đối tượng đó đều nằm trong khái niệm lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ năm, Văn kiện Đại hội XII nêu rõ phương châm hoạt động đối ngoại là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Trên thực tế, từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã sử dụng phương châm ngoại giao “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” nhưng ở tầm Văn kiện Đại hội toàn quốc của Đảng, lần đầu tiên phương châm này được nêu ra(19). Điều đó thể hiện Đảng ta nhận thức sâu sắc về tính hai mặt trong quan hệ quốc tế. Khẳng định phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” là Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu ngoại giao phải xử lý linh hoạt mọi tình huống để không bỏ lỡ bất kỳ cơ hội hợp tác nào nhưng cũng không lơ là mất cảnh giác trước bất cứ đối tác nào. 

Thứ sáu, các định hướng lớn trong quá trình hội nhập toàn diện đã được xác định rõ hơn. Đại hội XI đã đề ra chủ trương hội nhập quốc tế chứ không chỉ đơn thuần là hội nhập kinh tế quốc tế như chủ trương của Đảng từ Đại hội X trở về trước. Hội nhập quốc tế tức là hội nhập toàn diện, về mọi phương diện như kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự,... Tuy nhiên, nội dung hội nhập của từng lĩnh vực thì Đại hội XI vẫn chưa xác định.

Đến Đại hội XII, Đảng ta đã nêu các định hướng lớn cho việc hội nhập trên từng lĩnh vực. Theo đó, trong các năm tới, hội nhập kinh tế tập trung vào việc triển khai các cam kết đã ký kết. Hội nhập chính trị tập trung vào việc đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác chiến lược và các nước lớn. Hội nhập trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, tham gia các hình thức diễn tập và các hoạt động khác... 

Thứ  bảy, hoạt động ngoại giao đa phương được nhấn mạnh. Căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia hoạt động ngoại giao mà khái niệm ngoại giao song phương và đa phương xuất hiện. Trong thế giới hội nhập ngày nay, ngoại giao đa phương ngày càng phát triển với tốc độ vượt bậc ở các quy mô khác nhau như quốc tế, châu lục, khu vực, liên khu vực. Vì thế, tất yếu Việt Nam phải chú trọng ngoại giao đa phương, phải tích cực tham gia vào việc tạo lập các thiết chế quốc tế để nâng cao khả năng bảo vệ lợi ích dân tộc. Tuy nhiên, ta chỉ có thể tham gia các tổ chức quốc tế trọng yếu nhất vì nguồn lực của chúng ta có hạn. Trên cơ sở những tính toán kỹ lưỡng, Đại hội XII yêu cầu ngoại giao phải “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên Hợp quốc”(21). So với chủ trương  “tham gia” các cơ chế hợp tác song phương và đa phương do Đại hội XI đề ra, chủ trương  “chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương” quan trọng nhất khu vực và thế giới của Đại hội XII thể hiện Đảng ta đã có nhận thức mới về phương hướng và phương thức hoạt động của ngoại giao.

Thứ tám, công tác đối ngoại nhân dân được tiếp cận theo phương cách mới. Văn kiện Đại hội XII chuyển thuật ngữ “ngoại giao nhân dân” sang “đối ngoại nhân dân”(22). Với nội hàm mới này, phạm vi hoạt động của đối ngoại nhân dân bao hàm tất cả các hoạt động đối ngoại của các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể. Cách tiếp cận này cũng đề cao vai trò của đối ngoại nhân dân trong tổng thể các hoạt động đối ngoại của đất nước.

Với những nội dung mới nêu trên, rõ ràng đường lối đối ngoại của Đại hội XII đã phát triển theo hướng ngày càng rộng mở trong quan hệ đối ngoại và ngày càng chủ động, tích cực trong việc hội nhập quốc tế. Nhận thức sâu sắc những điểm mới trong đường lối đối ngoại của Đảng để nắm bắt kịp thời định hướng phát triển của đất nước và giải quyết các vấn đề đối nội cho “ăn khớp” là một yêu cầu cấp thiết đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn hiện nay.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2016

(1) Mai Văn Bộ: Chúng tôi học làm ngoại giao với Bác Hồ,Nxb Trẻ, Tp.Hồ Chí Minh, tr.11.

(2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (12), (13), (15), (17), (18), (19), (20), (21) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII,Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.153, 153, 256, 153, 56, 154, 153, 154, 154, 11, 151-152, 153, 153, 153, 153, 155, 155.

(11), (13), (16) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.236, 83, 236.

 

TS Trần Thị Minh Tuyết

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác