Trang chủ    Nghiên cứu lý luận     Vấn đề đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế theo tinh thần Đại hội XII của Đảng
Thứ năm, 16 Tháng 3 2017 12:48
7824 Lượt xem

Vấn đề đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế theo tinh thần Đại hội XII của Đảng

(LLCT) - Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị luôn là mối quan hệ cơ bản, chi phối toàn bộ sự vận hành của đời sống xã hội. Trong suốt 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước nhận thức và giải quyết thành công mối quan hệ này. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn, cả trong nhận thức cũng như trên thực tiễn còn bộc lộ không ít những lúng túng, bất cập. Cần nhận thức và giải quyết thành công vấn đề đổi mới kinh tế đồng bộ với đổi mới chính trị, tạo động lực cho thời kỳ mới.

Đại hội XI của Đảng rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ nhất là:phải chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phải phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo sự nhất trí trong Đảng và đồng thuận xã hội; có quyết tâm chính trị cao với những biện pháp thiết thực, mạnh mẽ, đồng bộ, kiên quyết phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chú trọng đổi mới công tác tổ chức - cán bộ, đẩy mạnh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Đại hội nhấn mạnh quan điểm, nguyên tắc đổi mới nói chung, đổi mới chính trị nói riêng, khẳng định yêu cầu đổi mới chính trị, trong đó khẳng định vị trí đổi mới chính trị so với các lĩnh vực khác. Vị trí, tầm quan trọng của đổi mới chính trị ngày càng được nhận thức đúng hơn.

Tổng kết 30 năm đổi mới, Đảng ta rút ra 5 bài học kinh nghiệm, trong đó bài học thứ ba nêu: Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận.

Về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và chính trị, Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, từ Đại hội VIII đã nêu:Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chínhtrị.Đại hội VIII trong khi khẳng định phải kết hợp đổi mới kinh tế và chính trị ngay từ đầu, Đảng ta nhấn mạnh phải chú trọng đổi mới kinh tế, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Đến Đại hội XII, sau 30 năm đổi mới, vẫn tiếp tục quan điểm đổi mới toàn diện, song Đảng ta đặc biệt chú ý, trước những khó khăn, thách thức trên con đường đổi mới, cần tập trung cao độ cho đổi mới chính trị, trọng tâm làchú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác. Song, Đảng ta đã tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề để giữ vững ổn định chính trị và đổi mới các mặt khác. Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, từng bước thận trọng và vững chắc, bắt đầu từ giải quyết những vấn đề cấp bách nhất và đã chín muồi, với nhận thức đây là việc rất cần thiết nhưng đặc biệt phức tạp, nhạy cảm và nếu vội vã để xảy ra sai lầm sẽ phải trả giá rất đắt. Đảng ta xác định mục tiêu chủ yếu của đổi mới hệ thống chính trị là nhằm thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học lớn là dân chủ nhất thiết phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Khắc phục những hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời chống khuynh hướng dân chủ cực đoan, quá khích. Dứt khoát loại bỏ mọi mưu toan lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” nhằm gây rối về chính trị, chống phá chế độ, hoặc can thiệp vào nội bộ nước ta. Không chấp nhận đa nguyên, đa đảng.

Sự thận trọng trong đổi mới chính trị, đặc biệt trong đổi mới hệ thống chính trị, trong giai đoạn đầu là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn, bởi, những năm đầu đổi mới, chúng ta xác định ổn định chính trị là tiền đề, đổi mới là phương thức và phát triển là mục tiêu. Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sửtrên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đại hội XII tiếp tục xác định những mối quan hệ lớn cần giải quyết trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH, khẳng định, đổi mới là tiền đề, ổn định là điều kiện còn phát triển là mục tiêu(1).

Sau 30 năm đổi mới, chúng ta đã tiến hành đổi mới chính trị và đã thu được những thành tựu đáng khích lệ:

Trước hết, đó là đổi mới tư duy chính trị. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được hoạch định và thực thi đã chứa đựng nhiều nhân tố của đổi mới tư duy chính trị, thể hiện ở nhận thức về CNXH, về thời kỳ quá độ, về mô hình kinh tế, về phát huy dân chủ trong hoạt động kinh tế. Hơn nữa, đổi mới tư duy chính trị còn được thể hiện ở sự đổi mới quan điểm phát triển: xây dựng nền kinh tế mở, mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu là trọng tâm, đồng thời thực hiện một phần chính sách thay thế nhập khẩu... công nghiệp hóa và hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức theo cơ chế thị trường có sự định hướng XHCN. Trong quá trình đổi mới, ý thức chính trị của công dân và của xã hội được nâng cao, những bảo đảm dân chủ về quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm đã được luật hóa và được thực hiện từng bước có kết quả. Điểm mấu chốt và sâu xa là Đảng kiên định con đường đi lên CNXH và được nhân dân ủng hộ.

Hai là, từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của HTCT. Đã hình thành nhận thức lý luận về HTCT theo quan điểm đổi mới. HTCT là hệ thống các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội được thành lập công khai, hợp pháp theo Hiến pháp và pháp luật, được Nhà nước thừa nhận và tạo điều kiện cho hoạt động. HTCT còn là hệ thống các mối quan hệ giữa các tổ chức thành viên với nhau và với xã hội nói chung. Hoạt động của HTCT đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, tuân thủ pháp luật, hướng tới phục vụ lợi ích của nhân dân. Mục tiêu chủ yếu của đổi mới HTCT là nhằm thực hiện tốt dân chủ XHCN, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế và dân chủ hóa xã hội. Cơ cấu tổ chức bộ máy trong HTCT, từ hệ thống tổ chức Đảng đến Nhà nước và các đoàn thể nhân dân đã có một bước sắp xếp lại, tuy chưa thật sự hoàn hảo, hợp lý, gọn nhẹ để tăng cường sức mạnh và hiệu quả, nhưng cũng có những tiến bộ nhất định so với trước. Lần đầu tiên, một nghị quyết về đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của HTCT ở cơ sở đã ra đời, đem lại sinh khí và sức sống mới về dân chủ và quyền làm chủ của người dân.

Ba là, xây dựng, phát huy nền dân chủ XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước của dân, do dân, vì dân; thúc đẩy công cuộc cải cách hành chính, hoàn thiện hệ thống pháp luật... Từ thực tiễn đổi mới HTCT và xây dựng thể chế KTTT định hướng XHCN, chúng ta đã dần dần hình thành nhận thức về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Đây là một bước tiến của nhận thức lý luận và là kết quả của thực tiễn vận động của dân chủ hóa ở nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong HTCT dân chủ không thể thiếu nhà nước pháp quyền, vì nó bảo đảm địa vị pháp lý của đảng cầm quyền, đồng thời giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, trong đó luật pháp được đề cao để mọi hoạt động của đời sống xã hội vận động lành mạnh trong quỹ đạo, do luật pháp điều tiết, kiểm soát.

Bốn là, giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Vị trí và vai trò cầm quyền của Đảng được xác định bởi một nhà nước pháp quyền có thực lực và thực quyền, bởi một HTCT dân chủ, thực sự của dân, bởi một nền dân chủ thực chất. Đảng mạnh từ năng lực và phẩm chất của từng đảng viên, của đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng, đặc biệt ở năng lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh chính trị của ban lãnh đạo cấp cao của Đảng. Đảng ta đã đổi mới tư duy, đổi mới đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và phương pháp công tác, nâng cao giác ngộ cách mạng, bồi dưỡng lý tưởng, phẩm chất đạo đức, kiến thức, năng lực lãnh đạo chính trị của cán bộ, đảng viên.

Năm là, vị thế của Mặt trận Tổ quốc được đề cao và hoạt động của Mặt trận từ Trung ương đến địa phương đã có nhiều đổi mới. Trong điều kiện đó, muốn bảo đảm được dân chủ và dân chủ lành mạnh, tích cực, thực chất chứ không hình thức thì nhất thiết phải tạo lập được cơ chế tư vấn, giám sát và phản biện xã hội đối với Đảng và Nhà nước.

Sáu là, công tác cán bộ và chính sách cán bộ trong HTCT được chú trọng trên các phương diện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng theo yêu cầu tiêu chuẩn hóa, hướng tới đội ngũ công chức chuyên nghiệp, hiện đại. Việc quy định chế độ học tập, thi tuyển, thực hiện dân chủ hóa công tác cán bộ đã có những bước tiến đáng kể trong việc đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở, tạo nguồn và đội ngũ công chức dự bị.

Đồng thời với những chuyển biến tích cực, những kết quả bước đầu trong nhận thức và trong tổ chức hoạt động thực tiễn để đổi mới chính trị, thực trạng tổ chức và hoạt động của HTCT nước ta đã bộc lộ những hạn chế:

Một là, chưa phân biệt và phân định thật rõ ràng, minh bạch về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phương thức tổ chức, hoạt động giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức chính trị -  xã hội. Đảng lãnh đạo chính trị đối với Nhà nước, nhưng trên thực tế Đảng đã quyết định cả những vấn đề thuộc chức năng quản lý của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đây là quan hệ giữa lãnh đạo và quản lý, giữa phương thức cầm quyền của Đảng với quyền lực quản lý của Nhà nước theo luật định. Trong các cơ quan nhà nước và trong HTCT nói chung, đã và đang thiếu vắng chế độ trách nhiệm và một cơ chế xử lý theo trách nhiệm. Do vậy, hiện tượng lẩn tránh và đùn đẩy trách nhiệm đã trở thành phổ biến; một kết quả đúng thì của nhiều, còn kết quả sai không qui trách nhiệm cho ai được. Vấn đề lớn nhất của Đảng hiện nay trong lãnh đạo HTCT là vấn đề đổi mới phương thức cầm quyền chứ không phải nội dung cầm quyền.

Hai là, mô hình tổ chức đảng ở Trung ương vẫn chưa có sự thay đổi căn bản, trong khi hệ thống tổ chức đảng ở địa phương và cơ sở đã có thay đổi theo hướng gọn nhẹ, phù hợp với đặc thù của Đảng. Cách thức đánh giá, sắp xếp, bố trí cán bộ.

Ba là, hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, trùng lặp; đội ngũ cán bộ công chức không được đào tạo bài bản, hiện đại, chuẩn mực, dẫn đến vừa thừa lại vừa thiếu.

Bốn là, hoạt động của các tổ chức hính trị - xã hội vẫn còn hình thức, kém hiệu quả do tập nhiễm phải căn bệnh quan liêu hóa, hành chính hóa, ít sức lôi cuốn, thuyết phục dân chúng.

Nhìn chung, HTCT chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công cuộc đổi mới, chưa theo kịp những biến đổi kinh tế - xã hội. Tính kém hiệu quả thể hiện ở nhiều mặt: 1) Quyền lực không minh bạch, hệ thống kiểm soát quyền lực yếu, càng ở cấp cao kiểm soát càng ít. Cơ chế tổ chức và vận hành trong HTCT không thu hút được người giỏi, khó sử dụng được người tài. 2) HTCT chưa tạo được đột phá để đổi mới và phát triển như đã từng có trong kinh tế; cách thức tổ chức, cơ chế điều hành hoạt động chưa phát huy được sức mạnh toàn dân. 3) HTCT không đủ sức ngăn chặn hai vấn nạn: quan liêu, tham nhũng và thoái hóa biến chất. 4) HTCT của dân nhưng những người tài giỏi tâm huyết ngoài Đảng lại ít được sử dụng vào các cương vị, chức vụ quan trọng để phát huy tài năng, cống hiến cho đất nước.

Đã đến lúc cần ý thức đầy đủ và có trách nhiệm xã hội về yêu cầu đổi mới chính trị đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội, trước hết là phát triển kinh tế. Nói cách khác là đổi mới chính trị phải tương thích, đáp ứng được với yêu cầu đổi mới chính trị để đất nước sớm hình thành một thể chế kinh tế - chính trị thống nhất, hài hòa vì sự phát triển và vì hạnh phúc của nhân dân.

Trong những năm tới, yêu cầu đổi mới chính trị đồng bộ với đổi mới kinh tế, cần nhận thức và giải quyết đúng một số vấn đề sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị liêm chính, sáng tạo, hiệu quả của dân, do dân và vì dân.

Thể chế chính trị cần được nhận thức với nghĩa rộng, đầy đủ trên 4 phương diện cơ bản: 1)  xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để mỗi pháp nhân, thể nhân được bình đẳng và được bảo đảm bình đẳng về cơ hội, điều kiện phát triển: Hệ thống pháp luật phải bao trùm tất cả các thành tố của hệ thống chính trị, để mỗi thành tố và hệ thống vận hành nhịp nhàng; 2) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị, cả từ phương diện các thành tố và hệ thống, bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Hệ thống chính trị bao gồm hệ thống đảng, hệ thống chính quyền nhà nước từ trung ương đến cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội tinh gọn về tổ chức, năng động, sáng tạo và hiệu quả trong hoạt động, thực sự là công cụ, cơ chế để qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo, Nhà nước thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển và dịch vụ công; nhân dân thực hiện quyền làm chủ của minh; 3) xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách để định hướng và duy trì phương thức vận hành của các thành tố trong hệ thống cũng như toàn bộ hệ thống chính trị theo đúng định hướng XHCN và tạo điều kiện cho phát triển và quản lý phát triển xã hội; 4) xây dựng và mở rộng dân chủ, hình thành môi trường và “sân chơi” bình đẳng, cũng như phát huy các thế mạnh của các thành tố trong hệ thống chính trị.

Trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.

Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương. Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan đảng và nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, đặc biệt là với Nhà nước. Chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; các tổ chức của Đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Trong điều kiện hiện nay, đổi mới Đảng phải bảo đảm nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trên tinh thần nhận thức đúng những yếu kém, hạn chế, có thái độ và hành vi sửa chữa yếu kém, khuyết điểm. Hồ Chí Minh đã chỉ dạy: “Một đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là đảng hỏng. Một đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có rồi tìm cách sửa chữa khuyết điểm đó là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân tình”.

Đổi mới Đảng cũng có nghĩa là phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực và hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu. V.I Lênin, ngay từ những ngày đầu bắt tay vào lãnh đạo nhân dân Xôviết xây dựng chế độ xã hội mới sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, đã nhận thấy “toàn bộ công việc của tất cả các cơ quan kinh tế” do Chính quyền Xôviết quản lý đều “bị khốn khổ trước hết về tệ quan liêu” và “những người cộng sản đã trở thành những tên quan liêu”. Người đã cảnh tỉnh những người cộng sản Nga rằng, “nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”(2). Để xoá bỏ chủ nghĩa quan liêu và loại trừ tận gốc tệ quan liêu (ngày nay quan liêu đi liền với tham nhũng), V.I Lênin đã khẳng định , những người cộng sản Nga “cần phải tiến hành một công tác lớn lao về giáo dục, tổ chức, văn hóa”... Công tác này, “không thể nào dùng pháp luật mà hoàn thành nhanh chóng được, nó đòi hỏi một công tác lớn lao và lâu dài”(3).

Một trong những giải pháp chống bệnh quan liêu và góp phần đổi mới hệ thống chính trị là thể chế hóa và nâng cao chất lượng các hình thức thực hiện dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013; gắn quyền với trách nhiệm, nghĩa vụ, đề cao đạo đức xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân. Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

 Quan trọng nhất là, bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng là hạt nhân để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội. Đẩy mạnh dân chủ hóa xã hội để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Quy định về giám sát đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và các quy định, quy chế khác. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.

Thứ hai, xây dựng và thực hành trong toàn xã hội triết lý hành động.

Trong di sản đồ sộ và vô cùng quý giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta có một tư tưởng về phương pháp, phong cách làm việc đề cao triết lý hành động: “Hành động sinh ra hiểu biết, hiểu biết tiến lên lý luận, lý luận lãnh đạo thực tiễn”(4).  Theo Hồ Chí Minh: “Thực hành cao hơn sự hiểu biết (lý luận), vì nó đã có tính chất phổ biến, lại có tính chất thực tế cụ thể”. Theo Người, duy vật biện chứng của Mác có hai đặc điểm: Một là, tính chất giai cấp, nói rõ duy vật biện chứng là để phụng sự giai cấp vô sản; Hai là, tính chất thực hành. Nói rõ thực hành là nền tảng của lý luận và lý luận lại phụng sự thực hành. Chỉ có thực hành mới là tiêu chuẩn của sự thật. Cũng theo Hồ Chí Minh, hiểu biết do thực hành mà ra. Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận. Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành. Sự tiến tới của hiểu biết chẳng những ở chỗ từ cảm giác tiến đến lý luận, mà cốt nhất là từ lý luận tiến đến thực hành cách mạng.

Những điều tưởng chừng giản dị ấy nhưng chứa đựng một triết lý sâu sắc và có cơ sở đi vào thực tế: Triết lý hành động. Tất nhiên, thực hành trên cơ hiểu biết ở trình độ lý luận. Xã hội, nhất là đội ngũ cán bộ hiện nay, cần xây dựng một phong cách nói là làm, nói đi đôi với làm. Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Lênin cũng từng tuyên bố: Phương thức tốt nhất để nâng cao trình độ văn hoá, trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên là gắn liền lý luận với thực tiễn cách mạng, “tổ chức thực tiễn trong hàng ngũ công nhân và nông dân”, tổ chức công việc trong thực tế, biến lý luận, cương lĩnh, đường lối, chính sách thành thực tiễn và làm cho nó “trở nên sinh động nhờ thực tiễn, được sửa chữa bằng thực tiễn, được kiểm tra lại trong thực tiễn, mà lời nói của Mác: “mỗi bước tiến của phong trào thực tế còn quan trọng hơn là cả một tá cương lĩnh”, tỏ ra đặc biệt đúng”(5).

Thứ ba, xây dựng và từng bước hoàn thiện văn hóa chính trị Việt Nam, trọng tâm là văn hóa lãnh đạo, quản lý

Văn hóa, văn hóa chính trị là khái niệm đa nghĩa, bởi vậy khó có thể phản ánh đầy đủ nội hàm của nó. Tuy nhiên, dưới góc độ chính trị thực tiễn, có thể nhận thức một cách cơ bản như sau:

(1) Văn hóa chính trị là thành tố quan trọng của chính trị, thước đo sự hoàn thiện của chính trị(6). (2) Văn hóa chính trị là trình độ phát triển của xã hội và con người trong xã hội phân chia thành giai cấp được tổ chức thành nhà nước thể hiện trên ba phương diện: ý thức chính trị của người dân; sự tham gia vào đời sống chính trị và những giá trị về chính trị: dân chủ, pháp quyền, văn hóa lãnh đạo, quản lý... (3) văn hóa chính trị là trình độ, khả năng hội nhập của con người chính trị (cá nhân và tổ chức) trong thế giới hội nhập, bất kể là sự khác biệt về địa lý, ý thức hệ và trình độ phát triển

Dù còn nhiều ý kiến và quan niệm khác nhau, song đối với Việt Nam, văn hóa chính trị là thước đo trình độ dân chủ hóa và trình độ phát triển kinh tế xã hội. Văn hóa chính trị được thể hiện tập trung trong văn hóa lãnh đạo, quản lý. Bởi vậy đổi mới chính trị cần tập trung xây dựng văn hóa, trước hết ở từng con người giữ các cương vị lãnh đạo, quản lý chủ chốt; văn hóa của tổ chức lãnh đạo, quản lý chủ chốt. Xây dựng văn hóa chính trị Việt Nam cần bắt đầu từ người đứng đầu, từ tổ chức đảng, chính quyền các cấp và từ việc thực hiện và phát huy quyền dân chủ để mỗi người đứng đầu của hệ thống chính trị thực sự có văn hóa chính trị, văn hóa lãnh đạo quản lý; để mỗi tổ chức đảng, chính quyền các cấp đều có văn hóa chính trị thì đương nhiên toàn xã hội có văn hóa chính trị, xây dựng văn hóa chính trị đi đôi với xây dựng thể chế chính trị liêm chính.

____________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2016

(1)Thực ra, 8 mối quan hệ lớn đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung và phát triển năm 2011), được Đại hội XII tiếp tục khẳng định:  Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa Nhà nước và thị trường; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;

(2) V.I Lênin Toàn tập,tập.54, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1979,  tr.235.

(3) V.I Lênin, Sđd,t.38, tr.199.

(4) Báo Nhân dân, số 17, ngày 19-7-1951.

(5)V.I Lênin, Sđd, t.35, tr.243.

(6)Chính trị được thể hiện và  nhận biết trên các phương diện chủ yếu: Tư tưởng, lý luận (phương diện lý luận khoa học); quan điểm, chủ trương, chính sách và thể chế chính trị,  con người và hệ thống chính trị (phương diện chính trị - tổ chức); các hoạt động, các quan hệ chính trị (phương diện hoạt động thực tiễn); văn hóa chính trị (phương diện chuẩn mực - thước đo trình độ hoàn thiện của chính trị).

 

GS, TS Dương Xuân Ngọc

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Các bài viết khác