Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    Từ tín ngưỡng tự do trong tư tưởng Hồ Chí Minh đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam
Thứ sáu, 23 Tháng 6 2017 16:19
1351 Lượt xem

Từ tín ngưỡng tự do trong tư tưởng Hồ Chí Minh đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam

(LLCT) - Hiến pháp ghi nhận: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều này cho thấy thái độ cũng như chính sách dân chủ của Nhà nước ta đối với quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Coi đó là một nhu cầu và là một quyền tất yếu của người dân cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để mọi người thực hiện tốt nhất quyền đó.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu không thể thiếu được đối với nhân dân, là cái thiêng liêng không ai được xâm phạm hay làm tổn hại, đồng thời, đócũng là một trong những mục tiêu phấn đấu của cách mạng. Tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo chínhlà tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân, tôn trọng tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa,tinh thần của xã hội.Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ của Đảng và Nhà nước phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán của nhân dân. Trong Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa,Người yêu cầu: “Chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào”(1). Trong Chính cương của Mặt trận Liên Việt, tại Điều 7, điểm 1 cũng ghirõ:“tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng cho mọi người”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định lại quan điểm nàytrong Thư gửi Giám mục Lê Hữu Từ (ngày 1-2-1947): “Trong Hiến pháp ta định rõ: Tín ngưỡng tự do. Nếu ai làm sai Hiến pháp, khiêu khích công giáo sẽ bị phạt. Chắc cụ không bao giờ tin rằng Việt Minh chống lại đạo vì cụ thừa biết Việt Nam độc lập đồng minh là cốt đoàn kết tất cả các đồng bào để làm cho Tổ quốc độc lập chứ không phải để chia rẽ phản đối tôn giáo”(2).

Thứ hai, tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không được làm ảnh hưởng đến người khác.Quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân là quyền tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, đồng thời nghiêm cấm bài xích, đối đầu nhau, gây mất đoàn kết, làm cho kẻ thù dễ lợi dụng chia rẽ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong một nước văn minh có sự tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận nhưng không được vu khống kẻ khác”(4). Quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo còn bao hàm cả sự thừa nhận quyền tự do lựa chọn tôn giáo để theo của đồng bào cũng như sự bình đẳng giữa các tôn giáo. Tuy nhiên, sự tự do tín ngưỡng, tự do lựa chọn tôn giáo của mỗi người không được cản trở đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước.

Thứ ba, chống vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức. Đây chính là biện pháp để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được tôn trọng và triển khai hiệu quả trong thực tế. Hồ Chí Minh luônyêu cầu cán bộ “phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng đối với tất cả các tôn giáo”. Đồng thời, Người cũng yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”(5). Đồng bào và chức sắc tôn giáo phải có nghĩa vụ tuân theo pháp luật; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Hồ Chí Minh chủ trương tuyên truyền,vận động đồng bào các tôn giáohiểu rõ và tin tưởng vào chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng, từ đó giáo dục quần chúng thực hiện đúng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình, nâng cao cảnh giác,“chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng đấu tranh không khoan nhượng với những kẻ lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, kích động quần chúng chống lại cách mạng. Người chỉ rõ ở Điều 7, Sắc lệnh 234(Sắc lệnh về tôn giáo, ngày 14-6-1955) ghi rõ: “Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc làm những việc trái pháp luật”.

Thứ tư, cán bộ phải gương mẫu, giải thích, hướng dẫnchođồng bào thực hiện đúng chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước.Hồ Chí Minh yêu cầu: “Toàn thể đồng bào, trước hết là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam và hội viên của Liên Việt cần:

- Hiểu rõ và làm đúng chính sách của Mặt trận và Chính phủ về vấn đề tôn giáo.

- Ra sức giải thích cho đồng bào tôn giáo hiểu chính sách để lương giáo đoàn kết chặt chẽ cùng nhau kháng chiến kiến quốc, thực hiện tự do tín ngưỡng”(6).

Như vậy, quan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đi liền với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân của Hồ Chí Minh là tư tưởng hết sức đúng đắn, vừa bảo đảm được lợi ích của dân tộc và Tổ quốc, vừa không làm ảnh hưởng đến tình cảm tôn giáo - một lĩnh vực xã hội nhạy cảm và phức tạp. Để thực hiện được điều đó, cần có một hành lang pháp lý để nhân dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Các bản Hiến pháp Việt Nam: 1946, 1959, 1980, 1992, 2013, trong từng giai đoạn, hoàn cảnh phát triển của đất nước đã liên tục cập nhật, chỉnh sửa, bổ sung về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo quan điểm của Hồ Chí Minh, để nó thực sự trở thành một trong những quyền cơ bản của con người trên thực tế.

2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam

Hiến pháp năm 1946 được xây dựng trên ba nguyên tắc: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; bảo đảm các quyền tự do dân chủ; thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Như vậy, việc bảo đảm các quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Nhà nước ta coi trọng ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên. Tại Điều 10 ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tự do tín ngưỡng có nghĩa là mọi người có quyền tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Từ đó, mở ra khả năng phát triển nhận thức và xây dựng những chuẩn mực pháp lý cụ thể cho việc thực thi quyền tự do tín ngưỡng trong xã hội. Điều này cũng cho thấy sự tiến bộ, dân chủ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa so với các thể chế nhà nước khác trên thế giới. Ngay trong Hiến chương của Liên Hợp quốc năm 1945, vấn đề này cũng chỉ mới quy định rất chung chung: Khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo (Khoản 3, Điều 1, Hiến chương Liên Hợp quốc). Hiến pháp 1946 càng  thể hiện giá trị thời đại khi hai năm sau (1948), trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mới được ghi nhận tại Điều 18: Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư.

Đến Hiến pháp năm 1959, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục được cụ thể hóa và mở rộng. Điều 26 quy định: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Đây chính là một bước tiến mới trong quá trình thể chế hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tự do tín ngưỡng không chỉ là quyền theo tôn giáo mà còn có cả quyền không theo tôn giáo. Quy định như vậy sẽ toàn diện và đầy đủ hơn, bởi vì bên cạnh những người theo tôn giáo, vẫn có không ít những người không có tín ngưỡng, không theo tôn giáo nào; đó là những người vô thần. Quy định như vậy, một mặt là sự mở rộng hơn, làm sâu sắc thêm quyền đó, mặt khác, là cơ sở pháp lý nhằm tạo ra sự bình đẳng, đoàn kết giữa người có và người không có tín ngưỡng với nhau trong khối đại đoàn kết dân tộc.

Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946 và 1959, Hiến pháp năm 1980, tại Điều 68 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng tiếp tục được khẳng định, nhưng đã được mở rộng hơn so với các bản Hiến pháp trước đó: “Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Quy định này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Hồ Chí Minh chống vi phạm quyền tự do tín ngưỡng dưới mọi hình thức. Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn, bởi: (1) quyền tự do tín ngưỡng bao gồm cả nội dung chống lại những thế lực có âm mưu lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo nhằm chống phá cách mạng;  (2) đây là căn cứ để nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo, đó là những hoạt động vi phạm pháp luật, chính sách của Nhà nước, tuyên truyền mê tín cũng như các hủ tục lạc hậu nhằm mưu cầu cá nhân, phá hoại thành quả cách mạng. Quy định cụ thể như vậy đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng và thực hiện tốt trong thực tế.

Ngày 15-4-1992, Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội thông qua, sau đó được sửa đổi vào năm 2002. Trong Hiến pháp này, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng hơn, với các chế định toàn diện và sâu sắc hơn so với các bản Hiến pháp trước đó. Điều 70 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Trong Hiến pháp 1992, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo có một số điểm mới:

-Khái niệm tín ngưỡng đã được phân biệt rõ, đặt bên cạnh khái niệm tôn giáo. Như vậy, sự phân biệt hai hiện tượng, tín ngưỡng và tôn giáo đã rõ ràng hơn. Đây là một bước tiến trong nhận thức về các hiện tượng tiêu biểu thuộc đời sống tâm linh. Khái niệm tín ngưỡng được Hồ Chí Minh đề cập theo hai nghĩa. Nghĩa hẹp, tín ngưỡng chính là hiện tượng dùng để chỉ sự kiêng kỵ cụ thể, ví dụ như khi Người nói: “Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng, phong tục của nhân dân (như nằm trên bàn thờ, giơ chân lên bếp, đánh đàn trong nhà...)”(7). Còn khi Người nói: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và lương giáo đoàn kết”(8). Rõ ràng khái niệm tín ngưỡng được Hồ Chí Minh dùng theo nghĩa rộng, bao hàm cả tín ngưỡng và tôn giáo. Phân định rõ ràng các khái niệm sẽ càng làm cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm hơn trong thực tế. Hoạt động tín ngưỡng rất phong phú, mang tính truyền thống, phong tục... và nó có cả mặt tích cực và tiêu cực. Vì thế, việc bổ sung, làm rõ hiện tượng tín ngưỡng bên cạnh hiện tượng tôn giáo như Hiến pháp năm 1992 đã đề cập là cần thiết, nó không chỉ mở rộng quyền công dân mà còn thể hiện tính công bằng đối với xã hội từ phương diện chuẩn mực pháp lý.

-Hiến pháp đề cập đến sự bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo, qua đó, phản ánh khá rõ nét về tính dân chủ của xã hội ta. Việt Nam có nhiều tôn giáo. Song, về nguyên tắc, tất cả đều phải bình đẳng trong mối quan hệ với Nhà nước. Quy định như vậy sẽ góp phần bảo đảm sự đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau và sự nghiệp đoàn kết chung của dân tộc.

Hiến pháp quy định nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm lợi ích của đất nước, của nhân dân là phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 cho rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, tự do vô nguyên tắc. Điều 29 của Tuyên ngôn nêu rõ: khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. Trong mọi trường hợp, việc thực hiện các quyền tự do này cũng không được trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp quốc.

“Những cơ sở thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ”. Điều này tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho tôn giáo hoạt động, đồng thời cũng thể hiện chính sách của Nhà nước về tôn giáo ngày càng tự do dân chủ hơn. Đây chính là sự phát triển, thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về chống vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo dưới mọi hình thức.

Về những hoạt động không được phép, Hiến pháp 1992 không chỉ dừng lại ở việc quy định: “không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước” mà còn mở rộng: “không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quy định này thể hiện sự  bảo đảm toàn diện, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Bởi vì, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo chỉ được bảo đảm khi mọi người trong xã hội, dù có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều không được làm phương hại đến nó.

Trước yêu cầu của sự nghiệp phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 2013. Theo Hiến pháp, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được mở rộng với các chế định toàn diện và sâu sắc theo hướng ngày càng hoàn thiện dân chủ, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho tín đồ các tôn giáo và các tổ chức tôn giáo hoạt động một cách lành mạnh.

Điều 24 quy định:

“1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

Về cơ bản thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ghi trong Điều 24 Hiến pháp 2013 đã kế thừa và phát triển Điều 70 Hiến pháp năm 1992. Tuy nhiên, trong Hiến pháp 2013 có hai điểm mới:

Đã có sự ghi nhận: “mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. “Mọi người” chứ không phải là “công dân”. Bản chất của vấn đề đã có sự thay đổi căn bản, điều đó thể hiện chính xác quyền con người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. “Công dân” là thể hiện mối quan hệ giữa người dân với nhà nước, với thể chế chính trị. Nhà nước ta là Nhà nước thế tục, nghĩa là nhà nước phi tôn giáo, khẳng định quyền tự do tôn giáo và nguyên tắc tách biệt giữa Nhà nước và giáo hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo. Vì thế khi ghi nhận “mọi người” sẽ bao trùm rộng hơn so với “công dân”, vì trong thực tế không phải ai cũng có quyền công dân. Chẳng hạn, một người tù, mặc dù đã mất quyền công dân nhưng vẫn có quyền tự do thờ phụng, thực hành tôn giáo của mình...Ghi nhận “mọi người” có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiến pháp ghi nhận: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều này cho thấy thái độ cũng như chính sách dân chủ của Nhà nước ta đối với quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Coi đó là một nhu cầu và là một quyền tất yếu của người dân cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để mọi người thực hiện tốt nhất quyền đó.

Trong quá trình cách mạng, Đảng và Nhà nước đã không ngừng hoàn thiện chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, nước ta có 14 tôn giáo, 38 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu hành đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động; cả nước có hơn 25 nghìn cơ sở thờ tự, 56 nghìn chức sắc, nhà tu hành và khoảng 24 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Các sinh hoạt tôn giáo, nghi lễ tập thể được tôn trọng; một số lễ hội tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn như Lễ Nôen, Lễ Phật Đản, Lễ hội La Vang,... không chỉ là sự kiện quan trọng trong đời sống tâm linh của người có đạo, mà còn là ngày hội tinh thần, lôi cuốn đông đảo nhiều người quan tâm. Phần lớn các tôn giáo ở nước ta hiện nay đều thể hiện đường hướng đồng hành với dân tộc, như: “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo); “Phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc” (Tin lành); “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “Nước vinh - Đạo sáng” (Cao đài và Phật giáo Hòa Hảo);...

Nhận thức về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng đúng đắn, sâu sắc hơn. Một bầu không khí xã hội cởi mở đã và đang lan tỏa; ranh giới vô hình mà khắc nghiệt về sự phân biệt “lương - giáo” do các thế lực thực dân, đế quốc, phong kiến trước đây cố tình khoét sâu, nay đã căn bản được gỡ bỏ, tạo nên không khí trong quan hệ Đạo - Đời. Trên cả 3 khâu: theo đạo, hành đạo và quản đạo đều đã được thể chế hóa và cơ bản phù hợp với thực tiễn,  ý Đảng hợp lòng dân, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo đồng bào và chức sắc các tôn giáo(9).

________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 11-2016

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.488.

(2), (7) Hồ Chí Minh: Toàn tập,t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.53, 501.

(3), (8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.315, 8.

(4), (5) Dẫn theo Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1998, tr.73, 200.

(6) Báo Nhân dân, ngày 27-12-1951.

(9) Xem: http://tapchiqptd.vn

 

TS Nguyễn Xuân Trung

Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác