Trang chủ    Nghiên cứu lý luận    “Lấy dân làm gốc” trong triết lý bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
Thứ hai, 25 Tháng 9 2017 11:24
264 Lượt xem

“Lấy dân làm gốc” trong triết lý bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

(LLCT) - Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là một trong những nội dung sâu sắc và độc đáo của triết lý bảo vệ Tổ quốc Việt Nam truyền thống. Nó không phải sự sao chép các học thuyết bên ngoài du nhập mà được khái quát từ thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đồng thời tiếp thu những yếu tố hợp lý của các học thuyết khác trong tiến trình giao lưu văn hóa trên tinh thần dân tộc, phù hợp với yêu cầu và thực tiễn đất nước trong các giai đoạn lịch sử cụ thể. Tư tưởng đó không ngừng được bổ sung, phát triển và trở thành cội nguồn tư tưởng quan trọng cho tư tưởng chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

Nói đến vấn đề “lấy dân làm gốc” nhiều người thường nghĩ đến tư tưởng Nho giáo với mệnh đề trong Kinh thư: “Dân vi bang bản, bản cố bang ninh”. Mặc dù Nho giáo cũng thể hiện tư tưởng thân dân, “dân vi quý”, “dân như nước, có thể chở thuyền hoặc lật thuyền”,... song mục đích là để chiếm lĩnh ngai vàng, như Mạnh Tử từng nói: “Tranh thủ được dân thì làm thiên tử, tranh thủ được thiên tử thì làm chư hầu, tranh thủ được chư hầu thì làm quan đại phu”(1). Nho giáo chủ yếu bàn đến việc “trị nước”, đặt vua lên trên nước, đem nước buộc chặt vào gia đình, gia tộc và coi tề gia là tiền đề của trị quốc. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vấn đề yêu nước, bảo vệ Tổ quốc không nằm trong miền nhận thức của Nho giáo. Nhà nghiên cứu Quang Đạm nhận định: “Ghi vào “sổ vàng Nho giáo” những tình cảm và hành động yêu nước cao đẹp của nhân dân hay của dân tộc nhiều khi chỉ là tô vẽ thêm cho Nho giáo những màu hấp dẫn không đúng là bản sắc của nó”(2).

Trong sự giao thoa văn hóa, người Việt có vay mượn, sử dụng những khái niệm, mệnh đề Nho giáo nhưng nội dung đã có sự cải biến cho phù hợp. Cóthể nói, tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong quá trình đấu tranh giành, giữ, bảo vệ độc lập dân tộc là một trong những nội dung sâu sắc và độc đáo của triết lý bảo vệ Tổ quốc Việt Nam truyền thống. Nó không phải là sự sao chép các học thuyết bên ngoài du nhập mà được khái quát từ thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời tiếp thu những yếu tố hợp lý trong tiến trình giao lưu văn hóa phù hợp với yêu cầu và thực tiễn đất nước trong các giai đoạn lịch sử cụ thể. Nội dung cơ bản của nó được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

Một là, trong thời bình, phải quan tâm đến đời sống nhân dân, coi trọng lòng dân, ý dân để tạo dựng cơ sở, củng cố tiềm lực quân sự phòng lúc đất nước lâm nguy.

Hơn 1000 năm lịch sử đấu tranh chống xâm lược thời kỳ Bắc thuộc đã chứng minh vai trò và sức mạnh to lớn của nhân dân trong công cuộc đấu tranh giành độc lập. Nhận thức được vai trò đó, nhiều triều đại phong kiến đã biết dựa vào dân để tạo dựng cơ sở, củng cố tiềm lực quân sự đề phòng khi có biến. Khi còn đại diện cho lợi ích và xu hướng phát triển của dân tộc, các chính sách của triều đình đều quan tâm đến đời sống của dân, coi trọng lòng dân, ý dân ở những mức độ nhất định.

Sử sách còn ghi lại, nhiều vị vua quan thời Lý - Trần là những người có lòng thương yêu nhân dân sâu sắc, họ chú trọng đến vấn đề dân sinh và thể hiện sự quan tâm đến con người như một sinh thể cao quý. Đại Việt sử ký toàn thưghi rõ, ngay sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã thực hiện việc xá thuế cho dân, không phải để cứu trợ trong hoàn cảnh khó khăn do thiên tai mà thể hiện sự cảm thông với cuộc sống vất vả của họ. Lý Thường Kiệt thì yêu cầu phải khoan hòa giúp đỡ trăm họ, phải yêu mến mọi người, phải quan tâm đến sự no ấm của dân, phải nuôi dưỡng người già nơi thôn dã: “Làm việc cốt tránh phiền dân. Sai khiến dân, cốt khuyên nhủ dân vui theo... Đem bụng khoan thứ cứu dân, lấy lòng nhân ái yêu dân... Lấy sự no đủ làm nguyện vọng của dân, coi việc cày cấy làm gốc của nước...”(3). Trần Quốc Tuấn căn dặn”chúng chí thành thành”,”khoan thư sức dân” là “thượng sách” để giữ nước. Trần Nhân Tông răn bảo các vệ sĩ không được thét đuổi, ức hiếp nô tì vì “Ngày thường thì có thị vệ tả hữu, khi quốc gia lâm hoạn nạn thì chỉ có bọn chúng có mặt”(4). Vua Trần Minh Tông động lòng thương xót trước sự nghèo khổ của nhân dân: “Hết thảy sinh dân đều là đồng bào của ta, nỡ lòng nào để cho bốn bể khốn cùng”(5). Sau mỗi cuộc kháng chiến giành độc lập thắng lợi, các triều đại thường hạn chế việc huy động sức dân vào việc phu phen, lao dịch mà tập trung sức dân để khôi phục kinh tế, tăng cường tiềm lực quốc phòng, tạo cơ sở huy động sức người sức của khi đất nước lâm nguy. Nhiều vị vua xuất phát từ “lòng dân”, “ý dân” để định ra chủ trương chính trị cho mình. Nhân dân được đặt vào vị trí trung tâm trong việc chính sự của đất nước. Lý Công Uẩn khẳng định việc dời đô đến Thăng Long để mưu toan nghiệp lớn, là do “trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân”, đồng thời khẳng định nghiệp làm vương của mình là “làm cho dân được giàu của, nhiều người”. Dưới thời Trần, nhiều nhà vua thường tự mình hoặc phái các quan đại thần đi kinh lý ở các vùng xa xôi để nắm rõ tình hình đất nước và hiểu ý nguyện của dân, như vua Trần Thái Tông từng nói với quần thần: “Trẫm muốn ra ngoài chơi để được nghe tiếng nói của dân và xem xét lòng dân, cho biết tình trạng khó khăn của dân”(6).

Vấn đề yêu nước, thương dân, quan tâm đến đời sống và nguyện vọng của dân cũng là điều quán xuyến trong toàn bộ đường lối và mục đích chính trị nhằm cứu nước, an dân của Nguyễn Trãi sau này. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: “Triết lý nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, cuối cùng chẳng qua là lòng yêu nước thương dân: cái nhân, cái nghĩa lớn nhất là phấn đấu đến cùng chống ngoại xâm, diệt tàn bạo, vì độc lập của nước, hạnh phúc của dân”(7)và “Nguyễn Trãi suốt đời mang một hoài bão lớn: làm gì cho dân, người dân lầm than khổ cực”(8). Dân mà Nguyễn Trãi nói ở đây là “manh lệ”, là “dân cày phu tráng” - đó là tất cả những người lao khổ nhất lúc ấy. Họ không chỉ tạo nên sức mạnh to lớn cho cuộc kháng chiến, là nguồn gốc sâu xa để kháng chiến thắng lợi mà “quy mô lớn lao lộng lẫy, đều là sức lao khổ của quân dân”(9). Do đó, phải “yêu nuôi nhân dân, để cho các nơi làng mạc không có tiếng oán giận than sầu”. Ông khuyên triều đình không được sưu cao thuế nặng mà phải chăm lo đến cái ăn cái học của dân, bởi “Đẹp cung thất mà cao đài tạ, tất gây thói tục xa hoa; theo ý mình mà ức lòng người, tất đến trăm năm oán giận”(10). Vì thế, có lúc ông mơ ước đến một phép màu có thể đem lại đời sống giàu đủ cho dân: “Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng/ Dân giàu đủ khắp đòi phương”(11). Kế thừa tinh thần của ông, Lê Thánh Tông chủ trương triều đình phải thi hành đường lối chính trị nhân nghĩa đối với nhân dân với nội dung cơ bản là phải giảm tô giảm thuế cho dân, làm cho dân được no ấm, trừ kẻ tàn bạo để bảo vệ dân. Hay như Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI cũng yêu cầu đường lối chính trị thân dân, lấy dân làm gốc phải được biểu hiện bằng chính sách cụ thể là chăm lo đời sống của dân; nhà vua phải soi xét đến đời sống của “những người dân nơi nhà nát xóm nghèo”. Ông khẳng định “Yên bách tính thì yên trị đạo, Thất thiên kim chớ thất nhân tâm”; “Xưa nay nước lấy dân làm gốc, được nước là bởi lẽ được dân” (Cổ lai quốc dĩ dân vi bản, Đắc quốc ưng tri tại đắc dân)(12).

Hai là, phải tin dân, dựa vào dân để tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh toàn dân để bảo vệ Tổ quốc.

Tư tưởng dựa vào dân để tập hợp lực lượng kháng chiến, tạo nên sức mạnh giữ nước, thực hiện chiến lược “tận dân vi binh”, “bách tính giai binh”, “cử quốc nghênh địch”(cả nước chống giặc) là một trong những nét tiêu biểu của triết lý lấy dân làm gốc trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam truyền thống. Trong tất cả các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của người Việt, tương quan lực lượng luôn nghiêng về phía đối phương nên ta thường phải “lấy ít địch nhiều”, “lấy nhỏ thắng lớn”, “dùng đoản binh chế trường trận”. Để có thể đương đầu và chiến thắng quân xâm lược lớn mạnh hơn mình nhiều lần, từ rất sớm người Việt đã nhận thức được rằng, không thể chỉ dựa vào lực lượng quân đội thường trực mà phải huy động được sức mạnh của toàn dân tộc để đánh giặc. Thực tế cho thấy, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhất là trong quá trình xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, triều đại phong kiến nào biết dựa vào sức mạnh của nhân dân thì sẽ giành thắng lợi trong đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc và mở mang bờ cõi; ngược lại, triều đại nào phản bội lại những quyền lợi của dân tộc, đi ngược lại những ý nguyện của đông đảo quần chúng, không được sự ủng hộ của dân sẽ thất bại. Điều đó được Nguyễn Trãi ở thế kỷ XV chỉ ra qua sự phân tích nguyên nhân thất bại của họ Trần và họ Hồ đều là bởi làm mất lòng dân và không được nhân dân ủng hộ: “họ Trần cậy mình mạnh giàu, mặc dân khốn khổ... quên hẳn thiên hạ lớn lao, chẳng hề đoái nghĩ... Nhân dân oán ghét mà không biết; lòng trời khiển trách mà chẳng kinh”(13); còn nhà Hồ thì: “...họ Hồ thoán đoạt, người cả nước xem tựa kẻ thù, dân chúng chống lại, thân thích phân ly...”(14) nên “Lớp lớp rào lim ngăn sóng biển/ Khóa sông xích sắt cũng vậy thôi/ Lật thuyền mới rõ dân như nước”(15). Mặc dù cũng là kháng chiến giữ nước, thể hiện tinh thần yêu nước và chính nghĩa nhưng do không dựa vào dân, không tập hợp được lực lượng kháng chiến toàn dân, không phát huy được sức mạnh vật chất và tinh thần của dân chúng nên cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã nhanh chóng thất bại. Lời nói của tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo” đã nói lên điều đó.

Lịch sử đã chứng minh, tất cả những chiến công hiển hách chống ngoại xâm trong lịch sử có được là do người đứng đầu lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa đã tin vào dân, biết dựa vào dân, phát huy được sức mạnh của toàn dân. Nhờ tin vào dân, biết dựa vào sức mạnh của dân mà nhà Lý cũng như nhà Trần đã giành thắng lợi trong chống giặc ngoại xâm. Các tướng lĩnh trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến giữ nước cũng như các nhà tư tưởng thời Lý - Trần đã nhận rõ và tin tưởng vào vai trò to lớn của nhân dân, coi đó là chỗ dựa vững chắc để chiến thắng kẻ thù. Trong Hịch tướng sĩcủa Trần Quốc Tuấn, ý thức về quyền lợi và phẩm giá con người gắn với lợi ích của dân tộc được đề cao nhằm khơi dậy, phát huy sức mạnh chiến đấu của quần chúng. Tư tưởng “trên dưới đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức”, “cử quốc nghênh địch”, “tận dân vi binh”, “bách tính giai binh”... của các tướng lĩnh và các nhân vật lãnh đạo cuộc khởi nghĩa thời kỳ này đã giúp tập hợp lực lượng và tạo nên động lực to lớn, có ý nghĩa quyết định để chiến thắng các đạo quân xâm lược hung hãn. Các tác giả cuốn sách Lịch sử tư tưởng triết học Việt Namnhận xét: “Thừa nhận giá trị phổ biến của quy luật dựa vào sức mạnh khối đoàn kết toàn dân để chiến thắng kẻ thù trong chiến tranh giữ nước và lần đầu tiên trình bày chân lý ấy thành quan điểm lý luận, đó là một cống hiến quan trọng của Trần Quốc Tuấn đối với lịch sử tư tưởng quân sự nước nhà”(16).

Tư tưởng dựa vào dân để đánh giặc cứu nước tiếp tục được thể hiện khá rõ trong quan niệm của Nguyễn Trãi. Theo ông, công cuộc khởi nghĩa muốn giành chiến thắng thì phải dựa vào dân, phải được nhân dân ủng hộ, phải nhận được sự đồng tình hưởng ứng của đông đảo “bốn phương manh lệ”. Nguyễn Trãi chủ trương dựa vào dân để xây dựng lực lượng và thực hiện cuộc khởi nghĩa toàn dân với phương châm “Dựng gậy làm cờ, dân chúng bốn phương tụ họp”(17) và khuyên dạy quân sĩ “Dân ta khổ vì giặc đã lâu, phàm đến châu huyện nào, mảy may không được xâm phạm”(18). Chính vì thế mà nghĩa quân đã nhận được sự đồng lòng của dân chúng, đi đến đâu cũng được dân chúng ủng hộ với tinh thần “nguyện đồng lòng hợp sức, liều chết vây thành diệt giặc”. Sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân chính là một trong những điều kiện tiên quyết để nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi. Trong phong trào Tây Sơn sau này, nhờ giương cao ngọn cờ chính nghĩa, với quan điểm “tận suất vi binh” (toàn dân là lính), thức tỉnh tinh thần yêu nước của nhân dân mà ý chí, nguyện vọng, tình cảm, sức mạnh của nhân dân đã được quy tụ về một mối, nên từ một cuộc khởi nghĩa nông dân ở một địa phương đã phát triển nhanh chóng trên quy mô cả nước, lật đổ giai cấp thống trị phản động và chống xâm lược, giữ gìn, bảo vệ non sông.

Tuy còn những hạn chế nhất định về lập trường và nhãn quan giai cấp, song nhìn chung chủ trương dựa vào dân để bảo vệ đất nước của các triều đại phong kiến về cơ bản là đúng đắn nên đã phát huy được sức mạnh vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân phục vụ cho công cuộc kháng chiến, giành độc lập cho dân tộc. Nhận thức đúng vai trò của nhân dân, quy tụ được lòng dân, tin vào sức mạnh của nhân dân có ý nghĩa quyết định cho thắng lợi của khởi nghĩa. Tư tưởng dựa vào dân để tiến hành chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, động viên mọi tầng lớp góp sức người sức của vì cuộc chiến đấu chính nghĩa là cội nguồn cho tư tưởng chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam sau này.

Ba là, xây dựng quân đội trong dân, dựa vào dân để củng cố, phát triển lực lượng vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu phải được thực hiện trong cả thời chiến lẫn thời bình.

Tư tưởng dựa vào dân để xây dựng căn cứ, củng cố lực lượng vừa sản xuất, vừa sẵn sàng tham gia chiến đấu khi có giặc ngoại xâm được thể hiện khá rõ trong chính sách xây dựng, chuẩn bị lực lượng của các triều đại phong kiến Việt Nam, thể hiện nét đặc sắc trong nghệ thuật “dựng binh” của cha ông ta. Những chính sách như “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân”...là cách thức xây dựng lực lượng bảo vệ Tổ quốc rất thành công của người Việt, vừa bảo đảm yêu cầu của quốc phòng, vừa duy trì được lực lượng lao động cần thiết cho sản xuất vật chất, giảm nhẹ chi phí cho quân đội. Những quan điểm và chính sách đó được định hình rõ nét từ thời Lý - Trần và được vận dụng, bổ sung, phát triển qua các triều đại về sau. Thực tế cho thấy, để củng cố tiềm lực, tăng cường sức mạnh quân sự đối phó với các nguy cơ xâm lược từ bên ngoài không thể chỉ dựa vào quân đội chính quy của triều đình mà phải dựa vào sức mạnh của toàn dân. Do đó, ngay từ thời nhà Lý, nghĩa vụ binh dịch, tuyển lính theo hộ khẩu khá chặt chẽ. Theo đó, dân đinh các làng xã ở độ tuổi quy định đều phải đăng ký vào sổ quân. Khi có chiến tranh, chính quyền căn cứ vào sổ quân để tuyển lính và khi chiến tranh kết thúc, quân lính lại chia thành các bộ phận luân phiên nhau về làm ruộng. Chính sách này được các nhà lãnh đạo quân sự thời Trần vận dụng rất thành công, đồng thời bổ sung, phát triển thêm. Nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét, do “phục binh ở nơi thuận tiện”, “lúc vô sự thì cho về làm ruộng, khi có động thì chiếu sổ gọi ra hết” cho nên “binh vẫn đủ mà không phải chi phí nhiều, càng thêm hăng hái chống thù”; và “thời Trần, nhân dân ai cũng là binh nên mới phá được giặc dữ, làm cho thế nước được mạnh”; “cái chiến công dẹp quân Xiêm, phá quân Tống (thời Lý), cái oai hùng ba lần đánh bại quân Nguyên (thời Trần) cũng đủ cho biết binh lực của hai đời cường thịnh thế nào”(19). Bằng nghệ thuật xây dựng quân đội trong dân, gửi binh ở nông, kết hợp giữa nông và binh trong chiến đấu và trong các hoạt động phục vụ chiến đấu mà các triều đại phong kiến có thể huy động được số quân tham gia chiến đấu trong một thời gian ngắn để có thể tổ chức chống giặc.Không chỉ giới hạn ở việc tuyển quân từ nông dân và cho binh lính thay nhau về làm ruộng mà tư tưởng gắn việc binh với việc nông trong xây dựng lực lượng, dựa vào dân để chiến đấu, lấy làng xã làm pháo đài chống giặc, phát triển sản xuất nông nghiệp bảo đảm cho “thực túc binh cường” cũng chính là những việc làm xuất phát từ quan điểm và nghệ thuật xây dựng lực lượng quân đội trong dân, dựa vào dân.

Có thể nói, “Lấy dân làm gốc”đã trở thành một nội dung cơ bản trong triết lý bảo vệ Tổ quốc Việt Nam truyền thống, trở thành một trong những phương châm cơ bản chỉ đạo các cuộc kháng chiến chống xâm lược trong lịch sử Việt Nam. Tư tưởng đó được khái quát từ sự nhận diện chính xác về vai trò, sức mạnh to lớn của nhân dân ta trong thực tiễn đấu tranh dựng nước và giữ nước, kết hợp với việc kế thừa những giá trị của các học thuyết bên ngoài du nhập. Tư tưởng đó được định hình từ trong quá khứ và không ngừng được bổ sung, phát triển qua các giai đoạn lịch sử. Trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm của cha ông và bằng tổng kết thực tiễn cách mạng nước ta dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã hình thành tư tưởng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tư tưởng chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc... Tổng kết 30 năm đổi mới, Đảng nhấn mạnh bài học “đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”(20) và “Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân”(21) là một trong những phương hướng, nhiệm vụ cơ bản, lâu dài của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thực tiễn cách mạng nước ta cũng đã chứng minh, tin vào dân, dựa vào dân, phát huy mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân là cội nguồn cho thành công của sự nghiệp cách mạng.

______________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2017

(1) Đoàn Trung Còn (dịch giả) (1950): Mạnh Tử- Quyển hạ, Trí đức tòng thơ, tr.262.

(2) Quang Đạm (1997): Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.234.

(3) Tríchtheo Nguyễn Lương Bích: Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, NxbQuân đội nhân dân, tr.31.

(4) Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại Việt sử ký toàn thư, t.2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998,tr.68.

(5) Theo Nguyễn Tài Thư (chủ biên): Lịch sử tư tưởng Việt Nam, t.1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr.172.

(6) Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII, Nxb Văn học, Hà Nội, 1976, t.2, tr.64.

(7), (8) Nguyễn Hữu Sơn (tuyển chọn và giới thiệu): Nguyễn Trãi - Về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, tr.890, 890.

(9), (10), (11), (13), (14), (15), (17), (18)  Nguyễn Trãi: Toàn tập, Nxb Khoa học xã hội, 1976, tr.196, 196, 253,196-197, 139, 281, 79, 58.

(12) Trần Thị Băng Thanh - Vũ Thanh (2003): Nguyễn Bỉnh Khiêm - Về tác gia và tác phẩm,Sđd, tr.28.

(16) Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên): Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006, t.1, tr.198.

(19) Xem Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1961, t.3, tr.3-6.

(20), (21) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.69, 149.

TS Phan Mạnh Toàn

Viện Triết học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Các bài viết khác